Đề số 9:Phân tích phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương
mại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG CHÍNH
I. Khái quát chung về trọng tài thương mại
1. Khái niệm trọng tài thương mại
2. Các hình thức trọng tài thương mại
3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại
II. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại
III. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại khi giải quyết các tranh chấp
thương mại
1. Ưu điểm
2. Nhược điểm
IV. Thực trạng áp dụng việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài
thương mại tại Việt Nam
1.Thực trạng về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
2. Nguyên nhân
V. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thương
mại tại trọng tài thương mại
KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngày càng
có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều ngành
nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh nhau đang ngày
càng trở nên phổ biến. Bên cạnh những hợp đồng hợp tác, những giao kết “thuận
tác lâu dài giữa các bên.
2. Các hình thức trọng tài thương mại
2.1. Trọng tài vụ việc.
Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận
thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tụ chấm dứt tồn
tại khi giải quyết xong vụ việc.
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự
chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp.
Tính chất vụ việc hay lâm thời của hình thức trọng tài này thể hiện ở chỗ
trọng tài chỉ được thành lập theo thỏa thuận của các bên tranh chấp để giải quyết vụ
việc tranh chấp cụ thể giữa các bên.Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động
trong thời gian giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên,khi giải quyết xong vụ tranh
chấp,trọng tài tự chấm dứt hoạt động.
Thứ hai,trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều
hành (vì chỉ được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo sự thoả thuận của các
bên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.
Trọng tài viên được các bên lựa chọn hoặc được chỉ định có thể là người có
tên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào.
Thứ ba,trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.
Trọng tài vụ việc chỉ được các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp nên
quy tắc tố tụng để giải quyết tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây
dựng.Tuy nhiên để tránh lãng phí thời gian cũng như công sức đầu tư vào việc xây
dụng quy tắc tố tụng,các bên có thể thỏa thuận lựa chọn bất kì một quy tắc tố tụng
phổ biến nào,mà thông thường là quy tắc tố tụng của các trung tam trọng tài có uy
tín ở trong nước và quốc tế.
2.2. Trọng tài thường trực :
Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ chức dưới những
trên,cấp dưới như hệ thống các cơ quan tài phán nhà nước.Sự khác biệt này về tổ
chức của trọng tài thương mại sơ với hệ thống tòa án dẫn đến tính đặc thù của tố
tụng trọng tài trong việc áp dụng nguyên tắc xét xử một lần.
Thứ ba,tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ.
Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài
viên của trung tâm.
Thứ tư,mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy
tắc tố tụng riêng.
Trong quá trình hoạt động,các trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu
hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động nhưng phải được sự chuẩn thuận của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.Là tổ chức chính phủ,các trung tâm trọng tài tồn tại độc lập
với nhau,vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau.Bên cạnh chất lượng các trọng tài
viên,sự đơn giản và linh hoạt của quy tắc tố tụng cũng là yếu tố tạo ra sự hấp dẫn
của mỗi trung tâm trọng tài trước khách hàng.Bởi vậy,mỗi trung tam trọng tài đều
có điều lệ riêng,đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được xây dựng căn cứ vào đặc thù
về tổ chức,hoạt động của trung tâm và không trái với quy định của pháp luật trọng
tài thương mại.
Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các
trọng tài viên của trung tâm.
Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về trọng tài viên của trung tâm.Việc
chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên
duy nhất để giải quyết vụ việc tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách trọng
tài viên của trung tâm trọng tài.Vì vậy,hoạt đồng xét xử của trung tâm trọng tài chỉ
được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm.Đặc điểm này có sự khác
biệt so với giải quyết tranh chấp thương mại tài vụ việc.
3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương
mại
- Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi tranh
chấp các bên có thỏa thuận trọng tài (quy định tại khoản 1, điều 5 LTTTM năm
2010).
HĐTT để giải quyết các tranh chấp của mình, các bên có quyền chỉ định TTV, địa
điểm, thời gian, ngôn ngữ giải quyết tranh chấp.
- Giải quyết tranh chấp bằng TT được tiến hành công khai, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận khác (khoản 4, Điiều 4 LTTTM 2010)
Nguyên tắc này xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động kinh doanh. Theo
nguyên tắc này, các buổi xét xử TT chỉ gồm TTV, các đương sự và các bên có liên
quan đến vụ tranh chấp. Những người không có trách nhiệm và không liên quan
đến vụ tranh chấp không được tham dự. Và quyết định của TT cũng như các căn cứ
để TT đưa ra phán quyết sẽ không được công bố công khai nếu các bên đương sự
không có yêu cầu.
- Phán quyết TT là chung thẩm (khoản 5, điều 4 LTTTM 2010)
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của TTTT là nhân danh ý chí, quyền
tự định đoạt của đương sự. Để đảm bảo việc các bên phải có nghĩa vụ thi hành phán
quyết TT thì LTTTM 2010 có quy định phán quyết của TT được thi hành ngay
(trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra phán quyết).
Tóm lại, tất cả những nguyên tắc giải quyết tranh chấp mà LTTTM 2010 đã
đặt ra đều nhằm mục đích giúp cho các bên giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả
và đảm bảo tốt nhất nhu cầu về một cơ chế giải quyết tranh chấp tối ưu cho doanh
nghiệp.
II. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại
Khác với tòa án,trọng tài thương mại nói riêng và trọng tài nói chung không
có thẩm quyền đương nhiên đối với một tranh chấp cụ thể.Thẩm quyền của trọng
tài mang tính chất vụ việc khi các bên tranh chấp lựa chọn đích danh.Việc một
tranh chấp có thể thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại hay không phụ thuộc
vào mộ số điều kiện của pháp luật.TTTM chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Nghĩa là, một tranh chấp sẽ thuộc thẩm
quyền giải quyết của TTTM khi có đủ 2 điều kiện:
Thứ nhất, giữa các bên tranh chấp có TTTT và TTTT có hiệu lực.
kê khá cụ thể,đồng thời PLTTTM 2003 còn đề cập tới “các hành vi thương mại
khác theo quy định của pháp luật”.Điều đó có nghĩa rằng,bất cứ hoạt động thương
mại nào theo quy định pháp luật chung,các bên có thể bắt đầu định hướng việc giải
quyết tranh chấp bằng việc kí kết hợp đồng có điều khoản thỏa thuận về trọng tài”
III. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại so với giải quyết các
tranh chấp thương mại
1.Ưu điểm
Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc
giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thương mại có ưu điểm nổi
bật so với Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị
chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Trong khi Tòa án xử thì phải 2 – 3 lần, từ sơ
thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại,
khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát…).
Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động. Tính
chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên
đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại
trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán quyết xong, Uỷ ban Trọng tài (Hội
đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu
điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại. Chính những
ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư
thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam
thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh
những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng tài là
quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Toà án. Tuy là chung
thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương
Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên
không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn
phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ.
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng
làm cho tiến độ bị kéo dài.
Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí
lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác
kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những
bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ
nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác,
quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng
tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn
trong tương lai.
Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các
chuyên gia
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên đương
sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án.
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết
vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành
có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa
và dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
2.Nhược điểm
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế, phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài thương mại cũng có những khó khăn, trở ngại khó tránh
khỏi, đó là:
- Thứ nhất, sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp bằng con
khác hầu như “ngồi chơi xơi nước”.
- Thứ hai, về phía các doanh nghiệp: Theo tài liệu thống kê, có tói 84%
doanh nghiệp không biết đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Điều này
cũng dễ hiểu bởi còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh theo lối cũ, khi xảy
ra tranh chấp thì “nhờ” cơ quan chủ quản hoặc Bộ chủ quản giải quyết.
Ví dụ như : “Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam đã bị trọng tài Geneva (Thụy Sĩ) buộc
phải thanh toán gần nửa triệu USD cho công ty Kyunggi Silk (Hàn Quốc) trong
một vụ tranh chấp kéo dài 3 năm, kèm theo đó Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam Việt
Nam phải thanh toán gần 40.000 USD tiền phí trọng tài.”
Bên cạnh đó, theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, những
năm gần đây, trong các vụ tranh chấp thương mại, có đến gần 60% vụ việc xảy ra
giữa các doanh nghiệp trong nước với các đối tác nước ngoài. Và doanh nghiệp
Việt Nam thường thua thiệt trước các doanh nghiệp nước ngoài do thiếu kinh
nghiệm thương trường và kém hiểu biết về trọng tài thương mại. Có thể xem ví dụ
sau như một điển hình cho việc thiếu hiểu biết về trọng tài thương mại:
Ví dụ: VIAC đã từng phải từ chối giải quyết tranh chấp mua bán hàng hóa
giữa một công ty Đài Loan và chi nhánh công ty A có trụ sở tại Bà Rịa – Vũng Tàu
với lý do điều khoản về cơ quan giải quyết tranh chấp trong hợp đồng ghi rất chung
chung là “nếu có tranh chấp sẽ nhờ trọng tại Việt Nam giải quyết”. Do mất nhiều
thời gian để nhờ trọng tài phân xử, cuối cùng vụ việc được đưa ra Tòa án nhân dân
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết nhưng cũng bị đình chỉ vì đã quá thời hiệu khởi
kiện.
2. Nguyên nhân
Nhìn chung, các Trung tâm Trọng tài hoạt động chưa hiệu quả vì trọng tài
tuy không phải là một chế định quá mới mẻ, nhưng các doanh nghiệp của Việt Nam
chưa có thói quen sử dụng dịch vụ trọng tài như là một trong những phương thức
cơ bản để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động. Đến nay,
số lượng giải quyết tranh chấp qua trọng tài kinh tế hết sức nhỏ. Tại thành phố Hà
nhưng lại ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của tổ chức phi Chính phủ. Thực
trạng này, phần lớn cũng do các yếu tố pháp lý gây nên. Pháp lệnh về trọng tài vẫn
còn có những hạn chế, làm giảm hiệu lực hoạt động của các trung tâm trọng tài.
Một phán quyết của trọng tài dù có chính xác đến đâu cũng cần phải có một quyết
định công nhận và cho thi hành của Toà án hoặc quyết định của cơ quan thi hành
án. Quy định này, làm tăng thêm tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi sử dụng
trọng tài để phân xử tranh chấp.
- Còn nhiều tồn tại trong bản thân của các trung tâm trọng tài. Thực tiễn là như
vậy, nhưng mạng lưới trọng tài của chúng ta lại quá thưa thớt. Đến thời điểm hiện
nay, chúng ta chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Hoạt động của các trung tâm trọng
tài chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của các nhà sáng lập, nguồn thu từ các vụ tranh
chấp. Nhưng các vụ tranh chấp quá ít ỏi, nguồn thu quá hạn hẹp, hạn chế khả năng
phát triển công nghệ, mạng lưới, tuyên truyền, đào tạo…
V. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp
thương mại tại trọng tài thương mại
Thứ nhất, cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà nước đối với các tổ chức
phi Chính phủ, trong đó có trọng tài thương mại. Đây là một giải pháp quan trọng.
Nếu có sự hỗ trợ thích đáng thì trọng tài thương mại có thể phát huy mạnh được
chức năng và vai trò của mình.
Thứ hai, bên cạnh việc hỗ trợ về mặt pháp lý, nhà nước cũng cần hỗ trợ cho
các tổ chức Trọng tài thương mại về mặt vật chất. Đó có thể là ban hành cơ chế cho
thuê trụ sở hay cơ chế để các tổ chức được tự khai thác và quản lý nguồn tài chính
viện trợ của các tổ chức Chính phủ, phi chính phủ và quốc tê.
Thứ ba, cần tổ chức nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Trọng tài viên.
Hiện nay, một trong những hạn chế của tổ chức trọng tài là vấn đề con người, đặc
biệt là những thành phố không thuộc trung ương. Đội ngũ TTV hiện đa phần trình
độ chuyên môn chưa cao, nhất là trong lĩnh vực thương mại quốc tế nên đã ảnh
hưởng rất nhiều đến xét xử. Do đó, để phát triển phương thức trọng tài nhà nước
4.Luật trọng tài thương mại năm 2010.
5.Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
5.www.doanhnhan360.com