BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
LÊ THANH HUÂN
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC TÍNH
PROBIOTIC MỘT SỐ CHỦNG LACTOBACILLUS
TRÊN CÁ CHIM VÂY VÀNG ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC TS. VŨ NGỌC BỘI
KS. LÊ ĐÌNH ĐỨC
Nha Trang, tháng 07 năm 2011
i
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Viện Công nghệ sinh
học và Môi trường, trường Đại học Nha Trang đã luôn quan tâm, chỉ bảo và giảng
dạy nhiệt tình, giúp cho tôi có được những kiến thức quý báu trong suốt thời gian
học tập tại trường.
Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy Vũ Ngọc Bội và Thầy Lê
Đình Đức, Bộ môn Công nghệ sinh học, Viện Công nghệ sinh học và Môi trường,
đã định hướng, dìu dắt và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện
đồ án tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến chị Nguyễn Minh Nhật, cán bộ quản lý phòng
thí nghiệm Công nghệ sinh học, đã tạo mọi điều kiện về thời gian để tôi hoàn thành
đề tài.
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những
người luôn quan tâm giúp đỡ, động viên, đồng thời là chỗ dựa tinh thần rất lớn
giúp tôi hoàn thành tốt mọi công việc được giao trong suốt thời gian học tập và
thực hiện đồ án vừa qua.
trọt, trong bảo vệ môi trường 7
1.1.3.2. Ứng dụng của chế phẩm Probiotic trong nuôi trồng thủy sản 8
1.1.4. Quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm probiotic 11
1.1.4.1. Chuẩn bị môi trường dinh dưỡng 11
1.1.4.2. Giống vi khuẩn probiotic 11
1.1.4.3. Nhân giống 12
1.1.4.4. Lên men 12
1.1.4.5. Thu sinh khối 12
1.1.4.6. Tạo chế phẩm 12
1.2. Tổng quan về cá chim vây vàng 12
iii
1.2.1. Giới thiệu chung về cá chim vây vàng 12
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới và trong
nước 14
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới 14
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam 14
1.2.3. Tình hình bệnh dịch trong nuôi cá biển nói chung và cá chim vây
vàng nói riêng 15
1.2.3.1. Bệnh do nấm, ký sinh trùng 15
1.2.3.2. Bệnh do virus 16
1.2.3.3. Bệnh do vi khuẩn 17
1.3. Tổng quan về vi khuẩn lactic 19
1.3.1. Giới thiệu về vi khuẩn lactic 19
1.3.1.1. Giới thiệu chung 19
1.3.1.2. Phân loại vi khuẩn lactic 20
1.3.1.3. Dinh dưỡng của vi khuẩn lactic 22
1.3.1.4. Nuôi cấy vi khuẩn lactic 25
1.3.2. Giới thiệu về giống Lactobacillus - vi khuẩn probiotic điển hình 26
1.3.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng Lactobacillus trong chế phẩm
L1.2 và L1.3 45
3.2.1. Đặc điểm hình thái 45
3.2.1.1. Đặc điểm hình thái của chủng L1.2 45
3.2.1.2. Đặc điểm hình thái của chủng L1.3 47
3.2.2. Đặc tính sinh lý, sinh hóa của hai chủng L1.2 và L1.3 49
3.3. Xác định các đặc tính nuôi cấy và đặc tính probiotic của chủng L1.2 và L1.3 51
3.3.1. Đường cong sinh trưởng của chủng L1.2 và L1.3 51
3.3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của 2 chủng L1.2 và L1.3 54
3.3.3. Ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của chủng L1.2 và L1.3 56
3.3.4. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn đến khả năng phát triển của
L1.2 và L1.3 58
3.3.5. Khả năng chịu mặn của hai chủng L1.2 và L1.3 59
v
3.3.6. Khả năng sinh enzyme amylase và protease của hai chủng L1.2
và L1.3 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
Kết luận 62
Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Hình 3.4. Hình ảnh nhuộm gram chủng L1.2 46
Hình 3.5. Hình ảnh khuẩn lạc chủng L1.3 47
Hình 3.6. Hình ảnh tế bào chủng L1.3 khi soi tươi ở vật kính 100X 48
Hình 3.7. Hình ảnh nhuộm gram chủng L1.3 48
Hình 3.8. Hình ảnh xác định khả năng di động của chủng L1.2 và L1.3 49
Hình 3.9. Khả năng lên men các loại đường của chủng L1.2 và L1.3 50
Hình 3.10. Đường cong sinh trưởng của chủng L1.2 và L1.3 52
Hình 3.11. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy lên sự sinh trưởng và phát triển
của chủng L1.2 và L1.3 55
Hình 3.12. Ảnh hưởng của pH lên sự sinh trưởng và phát triển của chủng
L1.2 và L1.3 56
Hình 3.13. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn lên sự sinh trưởng và phát triển
của chủng L1.2 và L1.3 58
Hình 3.14. Ảnh hưởng của nồng độ muối NaCl đến sự phát triển của chủng
L1.2 và L1.3 60
Hình 3.15. Khả năng sinh enzyme protease của 2 chủng L1.2 và L1.3 61
viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
OD
CFU
APW
kg/con, giá trị kinh tế cao với giá bán 100.000 VNĐ/kg với thị trường xuất khẩu
rộng lớn: Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Mỹ, Singapore. Đây là
một đối tượng nuôi mới ở Việt Nam, chưa được nghiên cứu nhiều. Trở ngại lớn
nhất trong quá trình nuôi là tỷ lệ cá chết cao do sức chống chọi trước các điều kiện
bất lợi của môi trường, thời tiết và các tác nhân vi khuẩn gây bệnh còn thấp đặc biệt
là các bệnh do Vibrio gây ra.
Để khắc phục tình trạng này, người nuôi đã sử dụng các loại hóa chất khử
trùng, các chất kháng sinh phòng bệnh. Tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này
không cao, đồng thời còn gây ảnh hưởng đến môi trường. Nguy hiểm hơn nếu lạm
dụng chất kháng sinh sẽ gây ra dư lượng kháng sinh trong thịt cá thương phẩm và
hiện tượng kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh trên thủy sản. Vì vậy, việc
tìm ra một giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề này là rất quan trọng.
Phương pháp sử dụng chế phẩm sinh học có chứa những vi sinh vật mang
những đặc tính probiotic: đối kháng với vi khuẩn gây bệnh, sinh các enzyme tiêu
2
hóa, phân hủy các chất hữu cơ thừa … đã được áp dụng. Các chế phẩm sinh học
không những tăng cường khả năng sinh trưởng, khả năng kháng bệnh cho vật nuôi
mà còn hạn chế được tối đa việc sử dụng kháng sinh trong việc phòng và trị bệnh.
Nhiều nhóm vi sinh vật mang các đặc tính probiotic đã được áp dụng, trong đó có
nhóm vi khuẩn Lactobacillus.
Với những lý do ở trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân lập,
tuyển chọn và đánh giá đặc tính probiotic một số chủng Lactobacillus trên Cá
Chim vây vàng”
Mục tiêu của đề tài là phân lập, tuyển chọn một số chủng Lactobacillus có
hoạt tính kháng Vibrio để bổ sung vào chế phẩm probiotic nuôi cá chim vây vàng
nhằm mục đích tăng tốc độ tăng trưởng, tăng khả năng kháng bệnh cho cá, đảm bảo
sự phát triển bền vững của nghề nuôi cá chim vây vàng.
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Mặc dù vậy, việc sử dụng các chế phẩm vi sinh trong nuôi thủy sản (tôm,
cua, cá, nhuyễn thể…) vẫn còn khá mới mẻ, mới bắt đầu trong hơn thập kỷ gần đây.
Đối với mỗi loài thủy sản khác nhau cần có chế phẩm probiotic với những chủng vi
sinh vật thích hợp riêng. Phương thức sử dụng chủ yếu là bổ sung trực tiếp vào thức
ăn hoặc thêm vào môi trường nước nuôi. Những nghiên cứu trong lĩnh vực này đều
cho thấy chế phẩm probiotic đã tạo ra những thay đổi đáng kể về khu hệ vi sinh
trong đường ruột theo hướng cân bằng có lợi trong đó các vi khuẩn có ích tăng đáng
4
kể, số lượng các vi sinh vật có khả năng gây bệnh như Vibrio, E.coli, Samomella,
Listeria…giảm mạnh. Những phát hiện mới về khả năng tăng cường miễn dịch, điều
chỉnh những sai lệch bất lợi ở hệ vi sinh vật đường ruột do bệnh nhiễm khuẩn,
virus, dị ứng thức ăn đang mở ra triển vọng áp dụng chế phẩm này trong nuôi trồng
thủy sản, cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường.
* Thành phần chế phẩm probiotic
Vi sinh vật trong chế phẩm probiotic thường gồm 4 nhóm sau:
- Nhóm vi khuẩn lactic: Thường chọn các chủng vi khuẩn lactic điển hình
thuộc giống Lactobacillus (Lactobacillus acidophillus, Lactobacillus plantarum,
Lactobacillus casei …). Trong hoạt động sống vi khuẩn lactic chuyển đường thành
axit lactic, ngoài ra nó có thể sinh ra bacterioxin – những peptid có khả năng kháng
khuẩn, ức khuẩn với phổ ức chế vi sinh vật khá rộng. Loại chất kháng sinh này
không gây ra hiệu ứng kháng kháng sinh ở các vi khuẩn gây bệnh. Axit lactic và
bacterioxin có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh, giải độc cho đường ruột.
- Nhóm vi khuẩn dị dưỡng hoại sinh: Chọn các chủng vi khuẩn có hoạt tính α
amylase và protease. Các chủng này không gây độc, gây bệnh cho người và vật
nuôi. Nhóm vi khuẩn này có tác dụng phân giải các hợp chất hữu cơ bị ô nhiễm
trong môi trường. Thường chọn các chủng vi khuẩn thuộc giống Bacillus (Bacillus
subtilis, Bacillus megaterium, Bacillus lichenifomis,… ). Ngoài khả năng sinh α
amylase và protease chúng còn sinh ra Bacterioxin. Các vi khuẩn này chủ yếu tham
lysozym, protease, H
2
O
2
, các axit hữu cơ, amoni, diaxetyl…các chất này được sinh
ra bên trong đường ruột và bên ngoài môi trường nuôi sẽ có tác dụng ức chế sự phát
triển của các vi khuẩn gây hại khác (Saurabh S, Choudhary AK và Sushma GS,
2005). Ví dụ: Lactobacillus sp sản sinh ra bacterioxin là chất ức chế sinh trưởng của
các vi khuẩn gây bệnh. Alteromonas sp dòng B-10-31 sản sinh monostatin làm ức
chế hoạt tính protease của Aermonas hydrophyla và Vibrio anguillarum.
1.1.2.2. Cạnh tranh cơ chất với những vi khuẩn khác
Cạnh tranh dinh dưỡng của các vi sinh vật probiotic có vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo sự ổn định của hệ vi sinh vật bên trong đường ruột và bên ngoài
môi trường nuôi. Probiotic có khả năng cạnh tranh về mặt dinh dưỡng đối với các vi
khuẩn gây bệnh và sẽ hạn chế được sự phát triển, lây lan của các chủng vi sinh vật
đó. Vi khuẩn có hại bị loại bỏ có nghĩa là loại bỏ được đối thủ cạnh tranh chất dinh
dưỡng và năng lượng dùng cho vi khuẩn probiotic và cho vật chủ.
Ví dụ: sự hấp thụ các monosaccarit của các vi sinh vật probiotic có thể làm
giảm sự phát triển của Clostridium difficile gây ra bệnh tiêu chảy trên vật nuôi bởi
vì sự phát triển của Clostridium difficile phụ thuộc vào các monosaccarit (Kenneth,
H.Wilson và Fulvio Periniz, 1998). Ngoài ra các vi khuẩn sinh siderophore được sử
dụng làm probiotic để cạnh tranh Fe với các vi khuẩn gây hại. Vì siderophore là
chất có khối lượng phân tử thấp, nó có khả năng gắn với các ion Fe. Siderophore có
thể hoà tan Fe kết tủa thành dạng dễ sử dụng cho vi sinh vật, do đó nó là công cụ
thu lượm Fe trong môi trường.
6
1.1.2.3. Cạnh tranh vị trí bám dính với vi khuẩn gây bệnh
Cạnh tranh vị trí bám dính trên đường ruột là một tiêu chí quan trọng để dánh
7
chúng có thể sử dụng các chất hữu cơ dư thừa hoặc các chất khí như H
2
S để làm
chất dinh dưỡng thông qua các enzyme ngoại bào (Prieur và cộng sự,1990).
1.1.3. Ứng dụng của probiotic
1.1.3.1. Ứng dụng của chế phẩm Probiotic trong y học, trong trồng trọt, trong
bảo vệ môi trường.
- Trong y học: các chế phẩm probiotic khi được bổ sung vào đường ruột sẽ
giúp làm sạch đường ruột, ức chế các vi sinh vật gây bệnh, cân bằng hệ sinh thái
của các vi sinh vật trong đường ruột, loại bỏ các quá trình lên men bất lợi do các vi
sinh vật có hại này gây nên, làm cho các chức năng của đường ruột được hoạt động
tốt hơn, tăng hệ số hấp thu và sử dụng các chất dinh dưỡng trong thức ăn. Ngoài ra,
các hoạt chất sinh học từ chế phẩm probiotic như axit amin, các enzyme, các
nucleotit, các axit nucleic, các vitamin, đặc biệt là biotin có tác dụng tăng các quá
trình chuyển hóa của tế bào, kích thích và tăng cường khả năng miễn dịch, tăng sức
đề kháng chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn có hại.
- Trong trồng trọt: Chế phẩm probiotic có tác dụng với nhiều loại cây trồng
(bao gồm cây lương thực, cây ăn quả, cây hoa màu…) và ở mọi giai đoạn sinh
trưởng phát triển khác nhau (Võ Thị Hạnh và cộng sự, 2004). Những nghiên cứu về
tác dụng của probiotic với cây trồng cho thấy chúng có thể:
+ Kích thích sự nảy mầm, ra hoa, kết quả và quá trình chín của quả,
+ Cải thiện hệ vi sinh vật đất, ngăn chặn các mầm bệnh,
+ Tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng và kéo dài
được thời gian bảo quản, tăng chất lượng các sản phẩm tươi sống, làm
cho hoa trái tươi lâu.
Dùng chế phẩm probiotic trong đất có thể tái lập quần thể hệ vi sinh vật mới
có lợi cho cây trồng, đặc biệt là hệ vi sinh vật vùng rễ. Cây trồng sẽ phát triển tốt ở
đất, nơi mà các vi sinh vật có ích chiếm vai trò chủ yếu, giúp cho cây trồng nâng
Cải thiện môi trường nước nuôi:
Chế phẩm probiotic được bổ sung vào môi trường nước nuôi thủy sản có tác
dụng cải thiện chất lượng nước.
Trong nuôi trồng thủy sản, lượng thức ăn dư thừa do động vật thủy sản hấp
thụ không hết chiếm số lượng rất lớn, đây là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi
trường nước. Đặc biệt trong nuôi tôm, tôm chỉ hấp thụ được dưới 1/3 tổng lượng
dinh dưỡng đầu tư vào ao nuôi (Briggs và Funge-Smith, 1994) và phần còn lại bị
mất vào hệ thống ao nuôi (Wu, 1995 và Piedrahita, 2003). Hơn nữa, các chất bài tiết
từ các loài thủy sinh vào môi trường nước chiếm khoảng 70 – 80% lượng protein
chúng đã tiêu hóa, phần lớn trong số đó (80%) ở dưới dạng dễ hòa tan trong nước,
đặc biệt là ammoniac (Porter và cộng sự, 1987). Các chất thải này, bao gồm thức ăn
9
dư thừa và các sản phẩm bài tiết, có thể phì nhưỡng cho ao nuôi và kết quả là sự
phát triển bùng nổ của tảo độc cũng như gây ra hiện tượng thiếu ôxy trong nước.
Chế phẩm probiotic được bổ sung vào môi trường nước có chứa các vi khuẩn có
khả năng sinh ra các enzyme ngoại bào (protease, amylase) có thể phân giải các
chất hữu cơ, các chất bài tiết thành CO
2
và nước, chuyển các chất độc hại như NH
3
,
H
2
S, NO
2
thành các chất không độc như NO
3
-
peroxides ) và tổng hợp được các hợp chất kháng sinh tương ứng như: piscicolin,
plantarin, pediococin (PA - 1) có tính sát khuẩn cao, đặc biệt đối với vi khuẩn gây
10
bệnh như: Vibrio spp, Listeria monocytogenes (Pucci, 1988), Shigella spp và
Salmonella spp… Vì vậy khi bổ sung chế phẩm probiotic có chứa các vi sinh vật
này vào thức ăn sẽ kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh, đảm bảo sự ổn
định của hệ vi sinh vật đường ruột tôm cá, giúp đối tượng nuôi tăng trưởng và phát
triển tốt, chống chọi được với các loại dịch bệnh. Sử dụng chế phẩm probiotic trong
nuôi trồng thủy sản sẽ hạn chế việc sử dụng một lượng lớn chất kháng sinh và hóa
chất vào ao nuôi thủy sản, đặc biệt là hạn chế đáng kể khả năng gây bệnh của một
số loại vi khuẩn trên đối tượng nuôi. Đây là biện pháp làm tăng hiệu quả sản xuất có
ý nghĩa thực tiễn (Xiang-Hong và cộng sự, 1998).
Bên cạnh đó chế phẩm probiotic sẽ giúp tôm cá sinh trưởng mạnh hơn do các
vi khuẩn trong chế phẩm probiotic chính là nguồn cung cấp các enzyme tiêu hóa,
một số vitamin và axit béo có tác động tích cực đến quá trình chuyển hóa của cá
tôm (Sakata, 1990). Nhờ đó tôm cá sẽ hấp thụ thức ăn tốt hơn, sức đề kháng và sức
chống chịu với các điều kiện môi trường tăng lên.
Ngoài ra, chế phẩm probiotic còn được biết với khả năng kháng virus. Một
số nghiên cứu cho thấy các chủng vi sinh vật trong chế phẩm probiotic có khả năng
kháng một số tác nhân virus gây bệnh trên động vật thủy sản, trong đó khả năng
kháng virus gây bệnh trên trên tôm sú như IHNV (Kamei và cộng sự, 1988) và
OMV (Direkbusarakom và cộng sự, 1998). Như vậy, chế phẩm probiotic còn có thể
giúp cho nuôi trồng thủy sản chống chọi với tác nhân gây bệnh nguy hiểm nhất là
virus. Đây có thể là một ưu thế lớn cho việc sử dụng chế phẩm probiotic vào nuôi
trồng thủy sản trong tương lai.
11
trưởng, VTM nên cần bổ sung thêm các chất này vào trong quá trình chuẩn bị môi trường.
1.1.4.2.
Giống vi khuẩn probiotic
Chủng giống giữ vai trò quyết định đối với các chế phẩm probiotic. Với mỗi
chế phẩm cần tuyển chọn các chủng probiotic có đặc tính phù hợp.
Chủng giống được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4
o
C. Vì vậy, khi sử dụng
ta cần hoạt hóa giống, bằng cách cấy chuyền sang ống thạch nghiêng, đặt trong tủ
ấm 32
o
C
sau 24 - 48h.
Giống VK probiotic
Môi trường dinh dưỡng
Nhân giống
Lên men
Sinh khối
Chế phẩm dạng
dịch
Chất phụ gia
Chế phẩm dạng
bột
Chất phụ gia
Nguyên liệu
12
chủ yếu ở các vùng biển nhiệt đới và Á nhiệt đới bao gồm: vùng biển miền Nam
Nhật Bản, Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, vùng biển Đông
13
Nam Á và vùng biển Tây Châu Phi.
Ở Việt Nam, cá chim vây vàng được tìm thấy ở
vịnh Bắc Bộ, ven biển miền Trung và Nam Bộ.
Hình 1.1. Hình ảnh cá chim vây vàn
g
Cá chim vây vàng có cơ thể hơi tròn và bề bên dẹp chính giữa lưng hình
vòng cung, bề mặt da có màu trắng xám và vây lưng có màu ánh bạc vàng. Cá chim
vây vàng có kích thước tương đối lớn, kích thước có thể đạt 45 - 60 cm. Cá sinh
trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường 1 năm đạt 0,5 - 1 kg/con. Từ năm
thứ 2 trở đi mỗi năm khối lượng tăng có thể lên tới 1 kg/năm.
Cá chim vây vàng là loài cá nước ấm, có tập tính di cư, sống ở tầng giữa và
tầng mặt. Ở giai đoạn cá giống hàng năm sau mùa đông cá thường tập trung thành
đàn sống ở vùng vịnh, cửa sông. Cá trưởng thành sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện
nhiệt độ 22 – 28
o
C, là loài rộng muối, có thể phát triển ở nồng độ muối 3 ÷ 33‰. Ở
nồng độ muối dưới 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ
sinh trưởng chậm lại. Nhu cầu hàm lượng oxy hòa tan lớn hơn 2,5 mg/L.
Là loài cá ăn tạp, thiên về động vật, cá có thể kiếm thức ăn ở trong cát, cá
trưởng thành có thể bắt những động vật vỏ cứng như: ngao, cua, ốc. Giai đoạn cá
giống thức ăn là động vật phù du và động vật đáy, chủ yếu là luân trùng, nauplius
của Artemia. Cá con ăn tôm cá nhỏ, hai mảnh vỏ nhỏ. Thức ăn chính của cá trưởng
thành là các loại tôm cá nhỏ. Cá trưởng thành ăn tôm nhỏ và thức ăn công nghiệp
đẳng Thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I thực hiện dự án nhập công
nghệ sản xuất nhân tạo cá chim vây vàng do Trung tâm chuyển giao công nghệ
Trường Đại học Trung Sơn Trung Quốc chuyển giao.
Năm 2009 Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang bắt đầu
thử nghiệm cho đẻ nhân tạo cá chim vây vàng tại Bè Nghiên cứu Thực nghiệm -
Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang tại Vũng Ngán – Nha
15
Trang – Khánh Hòa, sau đó ấp trứng và ương giống thành công tại Trại Sản xuất
Giống cá Biển – Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang, tại
Đường Đệ – Nha Trang.
Với nguồn giống và kỹ thuật nuôi đã được chủ động sản xuất, một số vùng
nuôi ở nước ta đã được chuyển giao công nghệ nuôi thương phẩm cá chim vây vàng.
Đầu năm 2011, Trung tâm giống Hải sản tỉnh Nam Định đã nuôi thử nghiệm
giống cá chim biển vây vàng trong ao đất và có hiệu quả cao. Bên cạnh đó, ở Quỳnh
Lưu - Nghệ An đang xây dựng mô hình nuôi thương phẩm cá chim vây vàng. Hiện
nay cá chim vây vàng đang được nuôi thử nghiệm ở Phú Yên, Vũng Tàu, Nha
Trang và bước đầu đã mang lại hiệu quả.
Mặc dù đã có những nghiên cứu thành công về sinh sản nhân tạo cá chim vây
vàng cũng như việc phát triển của nghề nuôi cá chim vây vàng ở một số nước trong
khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Nhưng những nghiên cứu hiện nay
mới chỉ tập trung vào vấn đề sinh sản nhân tạo và kỹ thuật nuôi cá chim vây vàng,
trong khi đó việc nghiên cứu các vấn đề về thức ăn và bệnh dịch trên cá vẫn còn
đang bỏ ngỏ, chưa có một nghiên cứu nào về lĩnh vực này được công bố.
1.2.3. Tình hình bệnh dịch trong nuôi cá biển nói chung và cá chim vây vàng
nói riêng
Nuôi cá biển là nghề phát triển mạnh ở Việt Nam từ 30 năm nay và đã mang
lại hiệu quả kinh tế to lớn nhưng trong thời gian gần đây đang có dấu hiệu dừng lại