các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ đặt phòng khách sạn qua mạng của khách du lịch nội địa - Pdf 25

/*- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VÕ THÁI MINH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG
DỊCH VỤ ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN QUA MẠNG
CỦA KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA, 2013

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Võ Thái Minh
Nơi đào tạo: Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Người hướng dẫn: TS. Phạm Xuân Thủy
TS. Phạm Hồng Mạnh
Tên luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ đặt phòng
khách sạn qua mạng của khách du lịch nội địa
Nội dung cam đoan:
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn này là do tôi thu thập và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây. Học viên
Võ Thái Minh ii

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thương mại điện tử 5
1.1.2 Các mô hình giao dịch trong TMĐT 6
1.1.3 Vai trò của Thương mại điện tử: 9
1.2 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH DỊCH VỤ KHÁCH SẠN 12
1.2.1 Các kênh phân phối phòng trực tuyến của khách sạn 13
1.2.2 Quy trình của đặt phòng qua mạng 17
1.2.3 Thanh toán trong đặt phòng khách sạn qua mạng 17
1.2.4 Ưu điểm từ dịch vụ đặt phòng trực tuyến 18
1.2.5 Nhược điểm từ dịch vụ đặt phòng trực tuyến 19
1.3 CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 20
1.3.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 20
1.3.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) 21
1.3.3 Mô hình chấp nhận TMĐT (e-Commerce Adoption Model - e-CAM) 23
1.4 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 25
1.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 28
1.5.1 Mô hình nghiên cứu 28
1.5.2 Giả thuyết đề xuất 30
1.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 33
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 THIẾT KẾ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 33
2.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 33

iv

2.1.2 Nghiên cứu chính thức 36

3.5.3 Phân tích sự khác biệt về ý định sử dụng theo đặc điểm nhân khẩu học 64

v

3.6 SO SÁNH VỚI CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 68
3.7 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 69
CHƯƠNG 4 71
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐẾN NGÀNH KINH DOANH KHÁCH SẠN TRỰC TUYẾN71
4.1 ĐỐI VỚI NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN TRỰC
TUYẾN 71
4.1.1 Nhóm giải pháp về hệ thống thanh toán trong TMĐT 71
4.1.2 Nhóm giải pháp về gia tăng tính hữu dụng của TMĐT 72
4.1.3 Nhóm giải pháp về gia tăng niềm tin trong giao dịch đặt phòng khách sạn
trực tuyến 74
4.2 ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG 74
4.3 ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ HIỆP HỘI 75
4.5 KẾT LUẬN 76
4.5.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG 76
4.5.2 KẾT QUẢ CHỦ YẾU VÀ ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU 76
4.5 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 83
PHỤ LỤC 1: 83
PHỤ LỤC 2: 84
PHỤ LỤC 3: 89
PHỤ LỤC 4: 93
PHỤ LỤC 5: 97
PHỤ LỤC 6A: 100
PHỤ LỤC 6B: 101
PHỤ LỤC 7: 104
vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng các thang đo và biến quan sát 35
Bảng 3.1: Thống kê kinh nghiệm sử dụng Internet 46
Bảng 3.2: Phân bố mẫu theo nơi sinh sống và đặc điểm đặt KS trực tuyến 47
Bảng 3.3: Bảng phân bố mẫu theo giới tính và đặc điểm đặt KS trực tuyến 47
Bảng 3.4: Bảng phân bố mẫu theo nhóm tuổi và đặc điểm đặt KS trực tuyến 48
Bảng 3.5: Bảng phân bố mẫu theo học vấn và đặc điểm đặt KS trực tuyến 48
Bảng 3.6: Bảng phân bố mẫu theo Nghề nghiệp và đặc điểm đặt KS trực tuyến 49
Bảng 3.7: Bảng phân bố mẫu theo thu nhập và đặc điểm đặt KS trực tuyến 50
Bảng 3.8: Tổng hợp thang đo các hệ số tin cậy Cronbach Alpha 51
Bảng 3.9: Bảng liệt kê hệ số tải nhân tố ở phân tích nhân tố thang đo EFA 53
Bảng 3.10: Bảng liệt kê hệ số tải nhân tố thái độ (ATU) 55
Bảng 3.11: Bảng liệt kê hệ số tải nhân tố ý định (BI) 56
Bảng 3.12: Phương sai giải thích cho Nhân tố ý định sử dụng BI 56
Bảng 3.13: Thang đo các nhân tố đã qua kiểm định Cronbach Anpha và EFA 57
Bảng 3.14: Kết quả phân tích tương quan Pearson 59
Bảng 3.15: Bảng phân tích hệ số của các yếu tố độc lập trong hồi quy đa biến 61
Bảng 3.16: Kết quả phân tích hồi qui của Thái độ lên Ý định 63 viii


1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, Internet không chỉ là mạng truyền thông mà còn là phương tiện toàn
cầu cho các giao dịch của người tiêu dùng. Số lượng người sử dụng Internet từ 0,4%
dân số thế giới (16 triệu người sử dụng) trong năm 1995 đã phát triển đến con số 30%
dân số thế giới (2 tỷ người) trong năm 2010 [44]. Với tốc độ phát triển nhanh chóng
trong những năm qua, Internet đã trở thành phương tiện phổ biến cho truyền thông,
dịch vụ, thương mại và làm thay đổi cách mua hàng truyền thống. Hàng loạt các
website thương mại điện tử ra đời và thương mại điện tử đã nổi lên như một phương
thức giao dịch nhanh, hiệu quả và tận dụng tối đa nguồn lực nhất.
Không nằm ngoài vòng phát triển của thương mại điện tử, du lịch trên toàn cầu
đang ghi nhận một sự tăng trưởng vượt bậc ở mảng du lịch trực tuyến. Ngày nay, để
đặt phòng khách sạn, du khách không cần phải điện thoại trực tiếp đến khách sạn hay
thông qua đại lý du lịch để đặt phòng mà chỉ cần dùng Internet, tìm hiểu thông tin, so
sánh giá cả và lựa chọn khách sạn tại các website dịch vụ du lịch trực tuyến là bạn đã
có phòng như yêu cầu. Năm 2012, doanh thu mảng du lịch trực tuyến trên thế giới đạt
162.4 tỷ USD, tăng 73% (68.6 tỳ USD) so với năm 2007 [39].
Theo khảo sát mới nhất của Wearesocial, hiện Việt Nam có 30,8 triệu người
đang sử dụng Internet. Tỉ lệ người dùng Internet trên tổng số dân là 34% (cao hơn mức
trung bình của thế giới là 33%). Riêng 2012, Việt Nam có thêm 1,59 triệu người dùng
mới. Quá trình sử dụng Internet ở Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng nhanh nhất ở châu
Á, với tỷ lệ trung bình hàng năm trong giai đoạn từ 2000 đến 2010 là 20% [43].
Cũng theo Wearesocial, có tới 61% người dùng Internet từng thực hiện mua
sắm qua mạng. Hiện giao dịch thương mại điện tử chiếm 2,5% GDP của Việt Nam,
tương ứng gần 2 tỷ USD và dự kiến sẽ đạt 6 tỷ USD vào năm 2013 [1].
Mặc dù số người thực hiện mua sắm qua mạng tại Việt Nam khá ấn tượng, song
có một thực tế là khách du lịch Việt Nam dù đã biết về dịch vụ trực tuyến, cụ thể là đặt
phòng khách sạn online nhưng phần lớn vẫn giữ thói quen tiêu dùng cũ – đặt phòng
khách sạn trực tiếp. Khảo sát của Ivivu đã đưa ra một kết luận hết sức đáng quan tâm:
65% khách du lịch tự túc người Việt có thói quen đặt phòng trực tiếp tại khách sạn [8].
2

- Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên đề tài lựa
chọn nghiên cứu các khách hàng cá nhân tại hai địa phương phát triển về du lịch gồm
TP. Hồ Chí Minh và Nha Trang. Thời gian thực hiện: 8 – 11/2013
3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và suy luận logic để tổng hợp các số
liệu, dữ kiện nhằm xác định những kết quả phù hợp để vận dụng tại Việt nam.
- Phương pháp điều tra thực địa để khảo sát những yếu tố tác động và mức độ
tác động của các yếu tố đối với thái độ và ý định sử dụng dịch vụ đặt phòng khách sạn
trực tuyến ở Việt Nam.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Đóng góp về mặt khoa học
- Đề xuất mô hình nghiên cứu hành vi tiêu dùng của khách du lịch nội địa đối
với hình thức đặt phòng khách sạn trực tuyến trên cơ sở mô hình nghiên cứu hành vi
khách hàng. Qua đó, khám phá các yếu tố chính ảnh hưởng đến thái độ và ý định sử
dụng dịch vụ đặt phòng khách sạn trực tuyến của khách du lịch nội địa tại Việt Nam.
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trực
tuyến hiểu biết về việc làm thế nào để hướng người tiêu dùng có thái độ tích cực và ý
định mạnh mẽ đối với việc đặt phòng khách sạn trực tuyến, cũng như làm thế nào để
kích thích người tiêu dùng quan tâm, tin tưởng và chọn kênh giao dịch trực tuyến khi
muốn đặt phòng khách sạn cho việc đi du lịch, công tác, nhằm thúc đẩy hoạt động
thương mại điện tử của ngành du lịch tại Nha Trang, Khánh Hòa nói riêng và Việt
Nam nói chung.
- Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu này cũng
góp phần định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về phương pháp xác định, đo

định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên
cứu.
Chương 4: Kết luận và đề xuất
Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, từ đó đưa ra các đề xuất quản lý đối
với các bên liên quan đến mảng kinh doanh dịch vụ đặt phòng khách sạn trực tuyến.
Bên cạnh đó, luận văn cũng nêu lên những đóng góp của đề tài, các hạn chế và hướng
nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

1.1 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thương mại điện tử
Thương mại điện tử (viết tắt là e-commerce hay e-coms) thường được biết đến
như một quá trình thuận lợi hóa thương mại thông qua áp dụng các công nghệ điện tử
và công nghệ thông tin. Trên thế giới, thương mại điện tử được hình thành từ những
năm cuối thập niên 70, dưới hình thức đơn giản là gửi tài liệu thương mại, như các đơn
đặt hàng thông qua internet. Sự tăng trưởng không ngừng của hệ thống thẻ tín dụng,
các máy rút tiền tự động cũng như hệ thống ngân hàng điện tử vào đầu những năm 80
đã khiến cho thương mại điện tử thế giới đạt được những bước phát triển mới. Bắt đầu
từ thập kỷ 90, thương mại điện tử đã phát triển và trở nên ngày càng đa dạng và phổ
biến ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển [16].
Dấu mốc quan trọng cho sự phát triển lĩnh vực thương mại điện tử, chính là
việc Tim Berners-Lee phát minh ra hệ thống mạng toàn cầu (World Wide Web hay
viết tắt là www.) vào năm 1990. Từ đây, thương mại điện tử đã thực sự bùng nổ và
được toàn thế giới biết tới như là một trong những phương thức giao dịch thương mại

Nguồn: [11]
Hình 1.1 Mô hình giao dịch trong TMĐT
1.1.2.1 Mô hình giao dịch doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B)

Nguồn: [11]
Hình 1.2 Mô hình giao dịch B2B
CHÍNH
PHỦ
DOANH
NGHIỆP
NGƯỜI
TIÊU
DÙNG
CHÍNH PHỦ DOANH
NGHIỆP
NGƯỜI TIÊU
DÙNG
Chính phủ với
chính phủ (G2G):
Điều phối
Chính phủ với DN
(G2B): Thông tin
Chính phủ với
người tiêu dùng
(G2C): Thông tin
DN với chính phủ
(B2G): Đấu thầu
DN với DN (B2B):
Thương mại
điện tử

B2C (Business to Consumer): được hiểu là thương mại giữa các doanh nghiệp
và người tiêu dùng liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng
hoá hữu hình (như sách, các sản phẩm tiêu dùng ) hoặc sản phẩm thông tin hoặc hàng
hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá như phần mềm, sách điện tử và các
thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử [48].

Nguồn: [12]
8 Hình 1.3 Mô hình giao dịch B2C
Hình thức giao dịch thương mại điện tử doanh nghiệp với khách hàng (Business
to Customer B2C) thành phần tham gia hoạt động thương mại gồm người bán là doanh
nghiệp và người mua là người tiêu dùng. Sử dụng trình duyệt (web browser) để tìm
kiếm sản phẩm trên Internet. Sử dụng giỏ hàng (shopping cart) để lưu trữ các sản
phẩm khách hàng đặt mua. Thực hiện thanh toán bằng điện tử.
Đây là hình thái lớn nhất và sớm nhất của thương mại điện tử. Khởi nguồn của
nó có thể kể đến việc bán lẻ trên mạng (e-tailing). Mô hình kinh doanh chung của B2C
là các công ty bán lẻ trên mạng như Amazon.com Drugstore.com, Beyond.com,
Barnes and Noble và ToysRus [38].
1.1.2.3 Mô hình giao dịch người tiêu dùng – người tiêu dùng (C2C)
Phương thức giao dịch thương mại điện tử C2C diễn ra giữa các cá nhân người
tiêu dùng với nhau, cá nhân người tiêu dùng đưa thông tin về sản phẩm trên mạng
người mua xem thông tin và đặt mua các phiên giao dịch diễn ra trực tiếp. Nguồn: [16]
Hình 1.4 Mô hình giao dịch C2C

Mô hình C2C xảy ra dưới 3 dạng:

hơn, kích thích sự cạnh tranh, kích cầu của xã hội và kích thích sự phát triển của sản
phẩm nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu tiêu dùng. Có thể nói, Thương mại điện tử là động
lực hoàn thiện và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Sau đây là một số tác động tích cực của Thương mại điện tử đối với doanh
nghiệp, người tiêu dùng và xã hội.
10 1.1.3.1 Tác động của Thương mại điện tử với doanh nghiệp:
- Giúp mở rộng thị trường không những trong nước mà còn ra quốc tế. Với chi
phí thấp nhất, doanh nghiệp có thể vươn tới nhiều khách hàng hơn, tìm kiếm nhà cung
cấp tốt hơn, đối tác phù hợp hơn trên khắp thế giới.
- Cắt giảm chi phí quản lý, lưu hành thông tin, cước viễn thông, bưu chính, tồn
kho, giao nhận.
- Rút ngắn thời gian đáp ứng cho khách hàng.
- Rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường: với mạng lưới khách hàng trực
tuyến, doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều đóng góp của khách hàng. Với cách làm
việc trên mạng trực tuyến, các bộ phận từ kinh doanh tiếp thị, cho đến nghiên cứu phát
triển, thiết kế, sản xuất thử nghiệm, v.v. nhanh chóng trao đổi thông tin với nhau để
hoàn thiện sản phẩm đưa ra thị trường.
- Tạo ra nhiều mô hình kinh doanh mới mang lại lợi nhuận: nhờ có các phương
tiện công nghệ thông tin mà các ý tưởng mới luôn được thực hiện kịp thời, giúp cho
doanh nghiệp tiếp cận khách hàng từ nhiều khía cạnh khác nhau và thỏa mãn tối đa
nhu cầu của khách hàng.
- Công tác quản lý kinh doanh chặt chẽ hơn nhờ tin học hóa: các quy trình sản
xuất, kinh doanh đều được tin học hóa, quản lý khoa học và chặt chẽ, mang lại hiệu
quả quản lý cao.
- Chăm sóc khách hàng chu đáo hơn: nhờ các công cụ tin học với dữ liệu đầy đủ
về khách hàng, khách hàng luôn được hỗ trợ thông tin kịp thời nhờ các phương tiện
máy tính.

hỗ trợ Thương mại điện tử và các ngành nghề nói trên.
- Giảm chi phí chung cho xã hội như chi phí quản lý, sản xuất, đi lại.
- Chất lượng dịch vụ được hoàn thiện hơn: nhiều dịch vụ được cung cấp với đầy
đủ thông tin hơn, nhanh hơn, sát đối tượng hơn. Ví dụ, dịch vụ đào tạo từ xa, chẩn
bệnh qua mạng được cung cấp tới vùng xa xôi với các thông tin chi tiết nhất.
- Nhiều đối tượng tiếp cận với hàng hóa và thông tin, do đó có tác dụng kích
cầu mạnh hơn, làm cho sức sản xuất của xã hội tăng lên.
- Bên cạnh những mặt tích cực, Thương mại điện tử vẫn còn những hạn chế của
nó. Có hai nhóm hạn chế, một nhóm mang tính kỹ thuật và một nhóm mang tính
thương mại.
Theo nghiên cứu của CommerceNet, mười cản trở lớn nhất của Thương mại
điện tử tại Mỹ theo thứ tự là:
- An toàn
12 - Sự tin tưởng và rủi ro
- Thiếu nhân lực về Thương mại điện tử
- Văn hóa
- Thiếu hạ tầng về chữ ký số hóa (hoạt động của các tổ chức chứng thực còn
hạn chế)
- Nhận thức của các tổ chức về Thương mại điện tử
- Gian lận trong Thương mại điện tử (thẻ tín dụng )
- Các sàn giao dịch B2B chưa thật sự thân thiện với người dùng
- Các rào cản thương mại quốc tế truyền thống
- Thiếu các tiêu chuẩn quốc tế về Thương mại điện tử [39].
1.2 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH DỊCH VỤ KHÁCH SẠN
Ngày nay khách đặt phòng đã thay đổi thói quen đặt phòng của họ, ngày nay họ
không còn thói quen đạt phòng qua các công ty du lịch hay các đại lý bán sỉ và nhường
đường cho sự lên ngôi của các trang đặt phòng online như Agoda, Expedia,

1.2.1.1 Hệ thống phân phối toàn cầu - GDS
GDS nguyên thủy bao gồm một nhóm danh sách các mạng lưới các hãng hàng
không dùng cho các đại lý lữ hành. Cùng với sự bùng nổ của Internet, hệ thống GDS
đã được phát triển mở rộng phục vụ khách hàng toàn cầu, với gần 500.000 điểm truy
cập giao dịch tất cả các loại hình du lịch [26].
Các công ty, đại lý du lịch với mã riêng của mình sẽ truy cập vào hệ thống GDS
để tìm kiếm thông tin và các chương trình giá tốt nhất từ các khách sạn, hãng hàng
không, cũng là những thành viên trên hệ thống.
14 Trong những năm gần đây, mặc dù gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ mạng
lưới đặt phòng qua mạng của các công ty du lịch trực tuyến cũng như hệ thống đặt
phòng trực tiếp từ website các khách sạn, GDS hàng năm vẫn tiếp tục cung cấp dịch
vụ đặt phòng cho gần 50 triệu khách sạn. Kể từ năm 2005, doanh số hàng năm từ đặt
phòng qua mạng trên toàn cầu là 100 tỷ đô. Trong đó, GDS chiếm bình quân gần 30%
tổng doanh thu đặt phòng của khách sạn [39].
Hiện trên thế giới có bốn hệ thống GDS chính cung cấp hệ thống đặt phòng cho
gần 1 triệu đại lý du lịch trên toàn cầu:
Amadeus: thành lập năm 1987 bởi Hãng hàng không Air France và 3 công ty khác
[26].
Galileo International: được 11 hãng hàng không lớn nhất của khu vực Bắc Mỹ
và Châu Âu thành lập vào năm 1993 [26].
Sabre: thành lập vào thập niên 1960, trụ sở chính đặt tại Southlake, Texas, Mỹ.
Worldspan: thành lập năm 1990, hiện do ba hãng hàng không đồng sở hữu là
Delta Air Lines, Inc Northwest Airlines va American Airlines [37].
1.2.1.2 Công ty du lịch trực tuyến – OTAs
Công ty du lịch trực tuyến (OTA) có những chức năng tương tự như các đại lý
lữ hành truyền thống, chỉ khác là dịch vụ được truyền tải qua Internet và du khách
nhận được nhiều lợi ích từ phương thức giao dịch này. Cùng một điểm đến, du khách

Priceline, Booking.com. Các website này một số chỉ cung cấp phòng khách sạn, một
số cung cấp toàn bộ các sản phẩm du lịch từ đặt tour đến phòng khách sạn hay cả
những gói du lịch trọn vẹn [37].
Năm 2006 có xấp xỉ 70 triệu người tiêu dùng tìm kiếm thông tin du lịch và đặt
chỗ thông qua website của OTA [39]. Hầu hết các website công ty du lịch trực tuyến
được xây dựng theo mô hình
Thông tin chung
về sản phẩm
Tìm kiếm
khách s
ạn

Tìm kiếm vé máy bay,
tàu h
ỏa…

Tìm kiếm tour
Lựa chọn dịch vụ hoặc
xây dựng theo
nhu c
ầu

Khai báo thông tin
Xác nhận – Thanh toán
Cơ sở dữ
liệu
So sánh
giá hoặc
tiêu chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status