i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả nêu trong luận văn là trung thực.
Những kết luận, giải pháp và kiến nghị của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.
Tác giả luận văn
HÀ MỸ TRÂN
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG HỘ 4
1.1 Khái quát chung về tín dụng 4
1.1.1 Khái niệm tín dụng 4
1.1.2 Các loại cho vay 5
1.1.3 Các phương thức cho vay 7
1.2 Đặc điểm kinh tế nông hộ ảnh hưởng đến chính sách tín dụng 8
1.2.1 Đặc điểm của tín dụng nông nghiệp 8
1.2.2 Quan niệm về kinh tế nông hộ 9
1.2.3 Vai trò của kinh tế nông hộ trong nền kinh tế quốc dân 11
1.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế nông hộ 14
1.3 Chính sách tín dụng đối với sự phát triển kinh tế nông hộ 16
1.3.1 Chính sách tín dụng 16
1.3.2 Vai trò của chính sách tín dụng đối với phát triển kinh tế nông hộ. 16
1.3.3 Những đặc trưng cơ bản của chính sách tín dụng với KTNH 18
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng chính sách tín dụng phát triển KTNH 18
1.3.5 Kinh nghiệm về tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế Nông hộ ở một số quốc gia 20
Chương 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
HỘ TẠI THỊ XÃ HÀ TIÊN 26
2.1 Tín dụng nông hộ góp phần phát triển kinh tế địa phương 26
2.1.1 Đặc điểm kinh tế nông hộ ở thị xã Hà Tiên 26
2.1.2 Một số kết quả tín dụng đạt được về phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn
3.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nông hộ 51
3.2 Những giải pháp để ngân hàng nâng cao năng lực thực thi chính sách tín dụng
hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ 54
3.2.1 Giải pháp quản trị nguồn nhân lực 54
3.2.2 Giải pháp về phát triển mạng lưới và xây dựng cơ sở hạ tầng 54
3.2.3 Giải pháp về công nghệ thông tin. 55
3.2.4 Giải pháp về chỉ đạo điều hành. 55
v
3.2.5 Giải pháp tư vấn khách hàng nông hộ về phương án SXKD 56
3.3 Những kiến nghị hoàn thiện chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế nông
hộ trên địa bàn Thị xã Hà Tiên 56
3.4 Một số kiến nghị khác 60
KẾT LUẬN 63
PHỤ LỤC
vi
định là một đơn vị kinh tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và lĩnh
vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Kinh tế nông hộ luôn đóng vai trò quan trọng
trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Phát triển nông nghiệp và nông thôn là
một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Chính phủ đã ban hành một
số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã đạt
được những kết quả nhất định.
Chính sách tín dụng nông nghiệp và nông thôn được
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện góp phần xóa đói giảm
nghèo, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam với nhiệm vụ được giao là hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ, thay
mặt Chính phủ hỗ trợ kinh tế nông hộ thông qua con đường tín dụng để thực hiện mục
tiêu của Quốc gia là tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa từ một nước thuần nông.
Thị xã Hà Tiên là đơn vị có khoảng 3.500 nông hộ với dân số nông thôn khoảng
15.000 người, lượng lao động khoảng 7.000 người. Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Hà Tiên là ngân hàng nhà nước, có chức năng thương mại và phát
triển. Các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với khu vực nông thôn tại Hà tiên chủ
yếu được thực hiện thông qua Ngân hàng này. Thực tế hiện nay, các hộ gia đình nông
dân tại khu vực này gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ tín
dụng ưu đãi của Chính Phủ, tỉ lệ hộ nghèo cao với khoảng 2,3% nông hộ là nghèo. Vì
vậy, chính sách hỗ trợ tín dụng cho những hộ gia đình nơi đây là hết sức cần thiết
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hộ phát triển kinh tế và ổn định đời sống.
Xuất phát từ những đặc điểm trên mà tôi chọn đề tài: “Chính sách tín dụng hỗ
trợ phát triển kinh tế nông hộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Hà Tiên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ.
- Phân tích thực trạng chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thị xã Hà Tiên trong thời gian qua.
2
về chính sách tín dụng đối với nông hộ tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông
thôn Hà Tiên. Những quan điểm của các chuyên gia từ phía ngân hàng giúp cho việc
3
đánh giá chính sách hỗ trợ tín dụng hiện nay, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông hộ tại Hà Tiên hiện nay.
Mẫu nghiên cứu
Thị xã Hà Tiên có 3 xã, 4 phường, Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
trong số các hộ có vay vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tiên (166
hộ) để phỏng vấn bằng bảng hỏi.
Công cụ thu thập thông tin:
Bảng câu hỏi nông hộ: được thiết kế gồm 3 phần: Phần 1 – Thông tin chung về nông
hộ các chỉ báo chính là tuổi, giới tính, học vấn, đất sở hữu, lĩnh vực sản xuất chính; Phần 2 –
Các thông tin về chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ tập trung vào các chỉ
báo chính sách cho vay có đảm bảo bằng tín chấp thông qua các tổ chức chính trị - xã hội,
Chính sách cho vay tín chấp, chính sách cho vay ưu đãi - hỗ trợ lãi suất, chính sách cho vay
trung và dài hạn; Phần 3 – Thu thập các thông tin về Năng lực hoạt động của Ngân hàng phục vụ
cho việc triển khai chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế Nông hộ
Bảng phỏng vấn chuyên gia: tập trung vào các chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển
kinh tế nông hộ và Năng lực hoạt động của Ngân hàng phục vụ cho việc triển khai chính sách
tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế Nông hộ
5. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tín dụng với sự phát triển kinh tế nông hộ.
Chương 2: Thực trạng tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thị xã Hà Tiên.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện chính sách tín dụng hỗ trợ phát
triển kinh tế nông hộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tiên.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG VỚI
- Sau khi chuyển quyền sử dụng, người đi vay có quyền sử dụng vốn vay vào
các mục đích của quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng…
- Kết thúc chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc chu kỳ tuần hoàn vốn của người đi
vay thì vốn vay được hoàn trả gốc cộng số lãi cho ngân hàng.
1.1.2 Các loại cho vay
Căn cứ mục đích vay:
- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc xây dựng, mua sắm
bất động sản như nhà ở, đất đai.
- Cho vay công nghiệp, cho vay thương mại và dịch vụ là loại cho vay ngắn
hạn để bổ sung vốn lưu động cho các tổ chức, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đó.
- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, nhiên liệu, lao động, thức ăn gia súc…
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, trang trải
các chi phí thông thường về đời sống được thông qua nhiều phương thức cho vay,
ngày nay ngân hàng còn thực hiện thông qua phát hành thẻ tín dụng.
- Cho vay các định chế tài chính gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty
tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho thuê của các định chế tài chính: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính.
Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản.
Căn cứ thời hạn cho vay:
- Cho vay ngắn hạn: có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng để bù đắp thiếu
hụt về vốn lưu động của tổ chức kinh tế và cá nhân.
- Cho vay trung hạn: loại cho vay trên 12 tháng và đến 60 tháng (5 năm) được
sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Xây dựng các vườn cây lâu năm.
- Cho vay dài hạn: loại cho vay có thời hạn trên 5 năm đến 20 năm và có khi
đến 30 năm. Tín dụng này đáp ứng các nhu cầu xây dựng nhà, thiết bị, phương tiện
vận tải có quy mô lớn. Xây dựng các xí nghiệp mới, các dự án mới có quy mô lớn.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
tiền bằng số tiền trên tài khoản nợ trừ đi lãi suất và hoa hồng mà người mua nợ được
hưởng, đồng thời người mua nợ còn giữ lại một phần để phòng ngừa hàng trả lại. Khi
đến hạn người mắc nợ phải thanh toán cho người mua nợ.
* Tín dụng bằng chữ ký (bảo lãnh ngân hàng): đó là ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Nghiệp vụ này ngân hàng
7
không phải cung cấp bằng tiền, nhưng khi người được bảo lãnh không thực hiện theo
nghĩa vụ hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
1.1.3 Các phương thức cho vay
Cho vay từng lần: Mỗi lần vay, khách hàng và ngân hàng đều làm thủ tục vay
vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng, thường áp dụng cho khách hàng vay vốn
không thường xuyên.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay
vốn ngắn hạn, vay vốn thường xuyên, hoạt động kinh doanh ổn định. Căn cứ vào
phương án hay kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị mà ngân hàng và khách hàng
cùng xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định, đối tượng
áp dụng gồm:
- Khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên.
- Khách hàng có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù
hợp với cho vay từng lần.
Cho vay theo dự án đầu tư: Áp dụng đối với khách hàng vay vốn để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và phục vụ đời sống. Ngân
hàng và khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thỏa thuận hạn mức đầu tư duy trì cho cả
thời gian đầu tư dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ. Nguồn vốn cho vay được giải
ngân theo tiến độ thực hiện dự án, thông thường được áp dụng đối với cho vay trung
và dài hạn.
Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng cùng xác định và thỏa thuận số lãi
tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong
thời hạn cho vay.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng
nghiệp và dịch vụ. Chính vì vậy rủi ro cho vay trong nông nghiệp cao hơn những
ngành nghề khác, nên khi cấp tín dụng cho các hộ sản xuất nông nghiệp ngân hàng
thường áp dụng lãi suất riêng và thường rất cao do những rủi ro trong cho vay nông
nghiệp lớn [9].
Tuy nhiên nếu áp dụng lãi suất cao dẫn đến nông dân không dám vay vốn của
ngân hàng, còn nếu giảm lãi suất thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh
doanh. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất trong nông nghiệp là rất khó
khăn. Để có thể gia tăng được một lượng sản phẩm hàng năm trong sản xuất nông
nghiệp thường khó khăn hơn nhiều lần so với sản xuất trong công nghiệp và dịch vụ vì
đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cơ thể sống thường lao động bằng chân tay, thế
9
nên nó có một quy luật phát triển riêng mà con người không thể một sớm một chiều là
thay đổi quy luật phát triển của nó được. Thậm chí nếu việc áp dụng khoa học kỹ thuật
vào lĩnh vực này có sự sai lầm sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khó lường, chính vì vậy
những khó khăn trong việc áp dụng kỹ thuật và thời gian kéo dài làm cho nông dân
không dám vay vốn với lãi suất cao, trong khi ngân hàng không thể cho vay lãi suất
thấp vì đặc tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp.
Lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp là thấp so với các ngành nghề khác như
công nghiệp và dịch vụ, thế nên ngân hàng cũng dè dặt khi cho vay trong sản xuất
nông nghiệp và ngược lại người nông dân lại muốn vay số lượng nhiều để trang trải
chi phí trong quá trình sản xuất của mình khi đầu tư như đầu tư vốn ban đầu cải tạo đất
đai, chi phí sản xuất, chi phí thu hoạch và bảo quản sản phẩm Chính vì những lý do
này đã làm cho chi phí sản xuất trong nông nghiệp tăng lên cao kéo theo giảm lợi
nhuận của nông dân, nên các ngân hàng thường không muốn cho vay với số lượng lớn
và nếu có cho vay cũng dè dặt.
1.2.2 Quan niệm về kinh tế nông hộ
Một số từ điển chuyên ngành kinh tế định nghĩa “Hộ” là tất cả những người
cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người chung huyết tộc và người làm công.
Liên hiệp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái
nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
nay bao gồm:
- Kinh tế nông hộ trong các nông – lâm trường
Các nông lâm trường thực hiện giao khoán, cho thuê, đấu thầu kinh doanh lâu
dài cho các hộ nhận khoán như diện tích rừng phòng hộ, rừng khoanh nuôi bảo vệ,
diện tích vườn cây công nghiệp…
Nông – lâm trường lấy hộ làm đơn vị kinh tế cơ sở, và nông – lâm trường cung
cấp các dịch vụ phục vụ trong lĩnh vực nông nghiệp cho các hộ nhận khoán.
- Đối với kinh tế nông hộ trong các hợp tác xã nông nghiệp
Có nhiều loại tổ chức Hợp tác xã và quy mô thích hợp giữa các hộ kinh tế tập
thể và được tiến hành theo hướng khoán hộ rộng rãi. Hợp tác xã vươn lên làm nòng cốt
ở các khâu dịch vụ đầu vào và đầu ra cho các hộ xã viên. Hộ xã viên là lực lượng sản
xuất chính trong Hợp tác xã và Hợp tác xã chỉ quản lý tổng thể các khâu dịch vụ, chế
biến, tiêu thụ sản phẩm tạo mọi thuận lợi cho các hộ xã viên phát triển sản xuất.
- Đối với kinh tế nông hộ tư nhân, cá thể
Loại hình kinh tế hộ tư nhân cá thể hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ngày
càng phát huy hiệu quả rõ nét, các hộ tư nhân nhận đất, nhận rừng phát triển nông lâm
11
nghiệp, chăn nuôi mở mang nghành nghề mới. Những hoạt động sản xuất kinh doanh
các hộ này là đơn vị kinh tế tự chủ được Nhà nước bảo hộ và bình đẳng trước pháp
luật. Thực tiễn cho thấy trong quá trình thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
và đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn một bộ phận kinh tế nông hộ đã từng bước phát
triển theo mô hình trang trại.
- Đối với kinh tế nông hộ là đồng bào dân tộc
Kinh tế nông hộ đồng bào các dân tộc cần có sự hỗ trợ nhiều mặt của Nhà nước.
Từng bước chuyển dịch kinh tế từ tự nhiên, tự cung tự cấp lên kinh tế hàng hóa tạo
điều kiện cho nông dân trồng rừng, lập vườn, chăn nuôi, tăng thu nhập từng bước hình
thành kinh tế hộ tự chủ.
Kết quả về phát triển kinh tế nông hộ ở các nước trên thế giới như Trung Quốc,
Thái Lan, Đài Loan đã khẳng định lý luận về kinh tế nông hộ của các nhà kinh điển
Mac – xit luôn đúng và có giá trị trong hiện tại, họ đã vận dụng thành công trong nền
ta hiện nay.
- Thực hiện vai trò tích vốn, cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp
Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, kinh tế nông hộ là nguồn cung cấp
vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế bởi vì đây là khu vực lớn nhất xét về lao động và
sản phẩm quốc dân. Những điển hình thành công về sự phát triển kinh tế ở nhiều nước
đều đã sử dụng tích lũy từ nông nghiệp. Trong đó quan trọng nhất là nguồn ngoại tệ
thu về do xuất khẩu nông sản, cụ thể trong những năm qua nước ta thu về hàng chục tỷ
USD thông qua xuất khẩu nông sản.
Nông nghiệp ở những nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao
động cho phát triển công nghiệp, trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa phần lớn cư
dân sống bằng nông nghiệp và tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn. Quá trình công
nghiệp hóa tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động
nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải
phóng ngày càng nhiều, số lao động này dịch chuyển bổ sung cho phát triển công nghiệp.
- Thúc đẩy sự phân công lao động dần tới chuyên môn hóa, tạo khả năng
hợp tác, liên kết trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi
Kinh tế nông hộ đã từng bước tạo sự chuyển dịch cơ cấu nông thôn, củng cố
quan hệ sản xuất, tăng cường lực lượng sản xuất tạo sự phân công lao động trong nông
thôn từ nền sản xuất thuần nông lạc hậu, sản xuất hàng hóa kém phát triển sang sản
xuất hàng hóa phát triển hơn. Từ sự phân công lao động dẫn đến quá trình chuyên môn
hóa trong các nông hộ. Sự chuyên môn hóa càng cao thì một yêu cầu tất yếu sẽ xuất
13
hiện đó là sự hợp tác, liên kết giữa các nông hộ lại với nhau. Nếu như chuyên môn hóa
làm cho năng suất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác, liên kết
sẽ làm cho quá trình sản xuất hàng hóa được hoàn thiện đáp ứng đầy đủ nhu cầu của
chính các nông hộ và từ đó đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hóa
Ngày nay, nông hộ hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh
trong sản xuất hàng hóa, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ các nông hộ phải quyết định
mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào để đáp
vai trò rất quan trọng, tốc độ tăng trưởng GDP dương, chủ yếu nhờ vào sức mạnh của
khu vực nông nghiệp, còn tăng trưởng các khu vực công nghiệp và dịch vụ đều xuống
thấp so với năm trước. Thông qua hệ số ICOR (hệ số đầu tư tăng trưởng) mỗi đồng chi
tiêu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông hộ có thu nhập thấp sẽ có tác động lan tỏa cao
hơn, qua tác động kích cầu lớn hơn với các hàng sản xuất nội địa so với chính sách
kích cầu thông dụng là bơm tiền cho đầu tư công qua các Tổng công ty Nhà nước đem
lại hiệu quả kém do hệ số ICOR của nền kinh tế quá lớn.
Hai cuộc khủng hoảng kinh tế lớn gần đây, Việt Nam chịu ảnh hưởng ít hơn các
nước khác là nhờ có nền nông nghiệp làm nền tảng mà Việt Nam vững vàng và nhanh
chóng phục hồi trước các nước công nghiệp hiện đại khác. Cuộc khủng hoảng tài
chính khu vực những năm 1997 – 1998 sở dĩ không lôi cuốn Việt Nam vào trung tâm
vòng xoáy một phần quan trọng là do sản xuất nông nghiệp đã đủ dùng trong cả nước
và xuất khẩu nông sản đạt khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới, thành tựu
nông nghiệp đạt được có thể xem là thần kỳ, góp phần xóa đói giảm nghèo, thay đổi
bộ mặt nông thôn. Trong cuộc suy thoái kinh tế năm 2008 – 2010 hoành hành khắp
toàn cầu thì nông nghiệp Việt Nam vẫn là chỗ dựa vững chắc của nền kinh tế nước nhà
với nhóm hàng nông – lâm nghiệp, thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn so với
cùng kỳ năm trước.
1.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế nông hộ
- KTNH chịu nhiều rủi ro do ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, giá cả thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ thường xuyên hứng chịu ảnh
hưởng của thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh trong khi đó khả năng và
nguồn lực cho phòng chống, khắc phục còn hạn chế, điều kiện tự nhiên như: đất,
nguồn nước, khí hậu, thời tiết ảnh hưởng lớn đến sản lượng nông sản trong quá trình
sản xuất cũng như khi thu hoạch và bảo quản, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi
15
dẫn đến thiệt hại sản lượng, ảnh hưởng đến thu nhập là yếu tố quyết định khả năng trả
nợ của nông hộ.
Giá nông sản còn phụ thuộc vào yếu tố thị trường, thông thường vào mùa thu
hoạch thì giá nông sản lại giảm, thấp, mặt khác một số mặt hàng nông sản ở nước ta
cho hoạt động sản xuất mà bao gồm cả phần tiêu dùng và đời sống. Ngân hàng cần có
quy trình thủ tục tín dụng đơn giản và phù hợp với loại hình KTNH.
1.3 Chính sách tín dụng đối với sự phát triển kinh tế nông hộ
1.3.1 Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng: Là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuếch
trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định của Ngân
hàng thương mại nhằm hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng của
ngân hàng.
Chính sách tín dụng là những bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế, phục
vụ chính sách kinh tế và chịu sự chi phối của chính sách kinh tế. Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều Nghị quyết đề cập đến vấn đề củng cố và tăng cường công tác tín dụng.
Chính sách tín dụng bao gồm việc đưa ra các quan điểm có cơ sở khoa học về việc tổ
chức các quan hệ tín dụng và đề ra các nhiệm vụ trong lĩnh vực cho vay nền kinh tế
quốc dân và dân cư, việc kết hợp các phương pháp tài chính và tín dụng trong việc
phân phối và phân phối lại tiền vốn.
1.3.2 Vai trò của chính sách tín dụng đối với phát triển kinh tế nông hộ.
- Chính sách tín dụng góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
Chính sách tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho hàng triệu nông hộ nghèo
được vay vốn ưu đãi lãi suất, ưu đãi về điều kiện vay vốn để dễ dàng tiếp cận nguồn
vốn ngân hàng thông qua việc vay vốn bằng tín chấp, cho vay thông qua các tổ chức
đoàn thể chính trị - xã hội, đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn.
Giúp nông hộ có đủ vốn để mua máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây
trồng, vật nuôi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, từng bước phá thế độc canh, mở
rộng sản xuất, tăng sản lượng, chuyển đổi cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu
nhập giúp cho đời sống của các nông hộ nghèo dần dần được cải thiện.
- Chính sách tín dụng tác động chuyển dịch cơ cấu trong kinh tế nông hộ.
Chính sách tín dụng thúc đẩy chuyển dịch dần tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế
nông hộ như: chuyển dịch dần tỷ trọng từ ngành này sang ngành khác hoặc trong một
ngành sản xuất và chuyển dịch giữa các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất và hiệu
quả kinh tế cao cụ thể:
thẩm định dự án, kiểm tra sử dụng vốn vay đúng mục đích đã hạn chế và loại trừ
những dự án sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả. Ngân hàng chỉ đầu tư cho vay
những dự án sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế và có tính cạnh tranh cao góp phần
thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
18
1.3.3 Những đặc trưng cơ bản của chính sách tín dụng với KTNH
- Tính pháp lý trong quy trình thủ tục cấp tín dụng KTNH chưa cao
+ Sự hiểu biết về các chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như cơ chế tín
dụng ở nông hộ còn nhiều hạn chế.
+ Tài sản thế chấp ở địa bàn nông thôn vừa thiếu vừa yếu, thiếu tài sản để thế
chấp đảm bảo tiền vay.
+ Hạn chế trong việc lập dự án và tính hiệu quả kinh tế của dự án.
+ Sử dụng vốn vay còn mang tính chung chung, chưa tách bạch riêng cho hoạt
động sản xuất mà bao gồm cả phần tiêu dùng và đời sống của nông hộ.
- Tổ chức hoạt động cho vay có chi phí cao nhưng hiệu quả kinh tế thấp
+ Số lượng khách hàng đông, phân bổ rộng và phân tán.
+ Quy mô từng món vay nhỏ, số lượng món vay nhiều nên chi phí điều tra,
thẩm định tăng, hiệu quả kinh tế thấp.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng chính sách tín dụng phát triển KTNH
Các nhân tố khách quan
- Môi trường pháp lý
Đây là nhân tố quan trọng mang tính quyết định đến sự thành công chính sách
tín dụng của ngân hàng. Một hệ thống pháp luật ổn định, đồng bộ, cùng với hành lang
pháp lý vững chắc thực hiện theo đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước
sẽ tạo nhiều thuận lợi trong việc triển khai các chính sách tín dụng của ngân hàng,
đồng thời nông hộ tin tưởng, yên tâm, mạnh dạn đầu tư tiền vốn, tài sản kể cả công
sức, trí tuệ để phát triển kinh tế đạt kết quả cao nhất.
- Môi trường kinh tế
Nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững sẽ tạo nên môi trường kinh doanh
được thuận lợi hơn, thúc đẩy hoạt động của chính sách tín dụng phát huy hiệu quả.
vụ từ khâu đầu tư sản xuất đến khâu thu hoạch và bảo quản nếu không đáp ứng đủ nhu
cầu vốn, hiệu quả mang lại không cao, đôi khi dẫn đến thua lỗ. Nguồn vốn dài hạn
ngày càng tạo điều kiện cho nông hộ chủ động xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng sản
xuất, đầu tư cho thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt khâu thu
hoạch và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch tránh thiệt hại khi phải bán sản phẩm giá
thấp, có khi dưới giá thành do nợ tiền vay đến hạn hoặc thiếu vốn cho sản xuất vụ tiếp theo.
- Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay nông hộ phải tuân thủ nguyên tắc là vừa đảm bảo hiệu quả
trong hoạt động kinh doanh cho ngân hàng nhưng đồng thời lãi suất phải thấp hơn ở
những lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhằm giảm giá thành cho sản phẩm nông nghiệp.