BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG PHÍ THỊ LAN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả
nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
khoa học nào.
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, LƯU ĐỒ, SƠ ĐỒ: viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN 5
1.1. Những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ. 5
1.1.1. Khái niệm Hệ thống KSNB 5
1.1.2. Vai trò chủ yếu của Hệ thống KSNB. 8
1.2. Các yếu tố cấu thành hệ thống 9
1.2.1. Môi trường kiểm soát. 9
1.2.2. Đánh giá rủi ro: 12
1.2.3. Hoạt động kiểm soát 13
1.2.4. Thông tin và truyền thông. 14
1.2.5. Giám sát 17
1.2.6. Những hạn chế cố hữu của hệ thống KSNB: 18
1.3. Đặc điểm chung về công ty cổ phần và yêu cầu, mục tiêu của hệ thống KSNB
trong công ty cổ phần. 19
1.3.1. Đặc điểm chung về CTCP . 19
1.3.1.1. Khái niệm về CTCP 19
1.3.1.2. Đặc trưng, tính ưu việt và hạn chế của CTCP : 20
1.3.2. Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống KSNB trong CTCP 21
1.4. Kinh nghiệm xây dựng hệ thống KSNB của các doanh nghiệp 23
Kết luận chương 1. 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘTRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA 25
2.1. Giới thiệu về Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa 25
Kết luận chương 2. 94
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN LỰC KHÁNH HÒA. 95
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ 95
v
3.2. Nguyên tắc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. 96
3.3. Các đề xuất và giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại Công ty cổ phần Điện lực
Khánh Hòa 97
3.3.1. Về môi trường kiểm soát: 97
3.3.2. Về thông tin truyền thông: 102
3.3.3. Về giám sát: 103
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………… 107
PHỤ LỤC 110
Trang
Bảng 2.1: Bảng kết quả thực hiện các chỉ tiêu các năm 2010, 2011, 2012 29
Bảng 2.2 : Bảng phân tích tính thanh khoản. 55
Bảng 2.3 : Bảng so sánh thực hiện các chỉ tiêu với kế hoạch năm 2012 88 viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, LƯU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1 : Cơ cấu trình độ cán bộ công nhân viên tại công ty cổ phần điện lực
Khánh Hòa 42
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức CTCP Điện lực Khánh Hòa 32
Sơ đồ 2.2 – Sơ đồ cơ cấu phòng Tài chính kế toán Công ty 79
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức máy 83
Lưu đồ 2.1 – Quy trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh 47
Lưu đồ 2.2 – Quy trình mua hàng 58
Lưu đồ 2.3 – Quy trình xuất vật tư thiết bị 64
Lưu đồ 2.4 – Quy trình cấp điện khách hàng 67
Lưu đồ 2.5 - Quy trình kinh doanh điện năng 73
đông đảo người lao động và các nhà đầu tư ngoài xã hội tham gia nhằm tạo động lực
cho sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.
CTCP là hình thức doanh nghiệp mà chủ sở hữu thực sự của công ty là các cổ
đông và số lượng cổ đông tham gia góp vốn vào công ty là không hạn chế. Trong
CTCP, Hội đồng quản trị do đại hội cổ đông bầu ra, chính là những người đại diện cho
chủ sở hữu tại công ty thực hiện công tác quản trị công ty; còn Ban (tổng) giám đốc và
kế toán trưởng chính là những người trực tiếp thực hiện công tác quản lý và điều hành
công ty. Do đặc thù của CTCP là luôn có sự tách biệt giữa công tác quản trị và công
tác điều hành; tách biệt giữa việc sở hữu công ty và việc vận hành công ty nên công ty
rất cần một hệ thống kiểm soát được xây dựng và tuân thủ một cách chặt chẽ, thống
nhất từ trên xuống dưới để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, một thực trạng khá phổ biến hiện nay tại Việt Nam là phương pháp
quản lý của nhiều CTCP chưa thật hợp lý, hệ thống kiểm tra, giám sát trong công ty
còn lỏng lẻo và chưa thực sự được tuân thủ nghiêm chỉnh. Có những công ty chưa tách
bạch giữa công tác quản trị, công tác điều hành và công tác kiểm soát nên sự kiểm tra
giám sát hầu như không thực hiện được hoặc việc thực hiện chỉ mang tính chất lấy lệ,
hình thức; có những công ty thì việc kiểm tra, giám sát bị xem nhẹ, toàn bộ công việc
2
phụ thuộc quá nhiều vào năng lực chuyên môn cũng như đạo đức và tính chủ quan của
các cá nhân. Một hệ thống kiểm tra giám sát yếu kém như vậy sẽ rất dễ gây ra hiện
tượng sai sót và gian lận trong công ty.
Với xuất thân là một doanh nghiệp nhà nước độc quyền về lĩnh vực phân phối
điện năng, công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa đã thành công khi là công ty cổ phần
phân phối điện đầu tiên của nước ta. Để tiếp tục phát triển bền vững theo hướng cổ
phần hóa trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, các nhà quản lý của công ty cần phải
thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, quy định, quy trình của Công ty đề ra.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
tại Công ty cố phần Điện lực Khánh Hòa ” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ để
của Công ty để đánh giá hiệu quả của các hoạt động kiểm soát nội bộ tại Công ty, so
sánh giữa các chuẩn mực và các quy định, quy trình của Công ty;
- Phương pháp phân tích, đánh giá: phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động
kiểm soát nội bộ tại công ty nhằm đưa ra các chính sách, quyết định để quản lý công ty
đạt hiệu quả cao nhất.
- Phương pháp quy nạp: từ việc phân tích cụ thể các vấn đề tồn tại về hệ thống
kiểm soát nội bộ của Công ty, ta có thể kết luận được vấn đề chính, nổi cộm ảnh
hưởng tới hoạt động kiểm soát nội bộ tại Công ty.
- Phương pháp phỏng vấn, đặt câu hỏi: Đặt các câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
trưởng các phòng ban công ty: phòng kế hoạch, phòng tổ chức lao động, phòng tài
chính kế toán, phòng vật tư vận tải, phòng kinh doanh điện năng để ta có được đáp án
nhanh nhất để làm rõ các khía cạnh: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động
kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu.
Tác giả đã nghiên cứu đa dạng các loại tài liệu như: sách giáo trình, bài báo,
tạp chí, luận văn, các trang báo điện tử bàn luận về vấn đề tác giả đang nghiên cứu. Để
từ đó, tác giả có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề kiểm soát nội bộ trên nhiều phương
diện khác nhau.
7. Đóng góp của Luận văn.
Luận văn thực hiện công việc tổng kết và hệ thống hoá cơ sở lý luận về hệ
thống KSNB tại Công ty cổ phần;
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống KSNB, luận văn đề xuất một số biện pháp góp
phần đẩy mạnh công tác KSNB, tăng cường công tác quản lý tài chính, nâng cao hiệu
quả hoạt động của Công ty cổ phần điện lực Khánh Hòa.
8. Kết cấu của luận văn gồm các phần sau:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong Công ty cổ phần.
4
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần Điện lực
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ.
1.1.1. Khái niệm Hệ thống KSNB.
Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ đã
dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau:
- Quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC):
Theo quan niệm của IFAC thì “Hệ thống KSNB là một hệ thống những chính
sách và thủ tục nhằm mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của
các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý, bảo đảm hiệu quả của các
hoạt động”[13].
quản lý đã đề ra”[13].
Theo quan niêm này thì hệ thống KSNB cũng có xu hướng thiên về phục vụ các
mục tiêu của doanh nghiệp gần với quan niệm của liên đoàn kế toán quốc tế.
- Quan điểm của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA):
Theo VSA 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ (Ban hành theo Quyết
định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính),
Hệ thống KSNB được định nghĩa như sau: “Hệ thống KSNB là các qui định và các thủ
tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn
vị tuân thủ pháp luật và các qui định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện
gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý
và có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ
thống kế toán và các thủ tục kiểm soát”[3].
Theo định nghĩa trên thì hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 3 thành phần:
Hệ thống kế toán: gồm các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vị
được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính.
Môi trường kiểm soát: gồm những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt
động của thành viên HĐQT, ban giám đốc đối với hệ thống KSNB trong đơn vị.
Thủ tục kiểm soát: các quy chế và thủ tục do ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ
đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể.
Theo quan niệm này thì hệ thống KSNB được mô tả theo con mắt của các kiểm
toán viên độc lập bên ngoài doanh nghiệp và nó cũng hướng đến phục vụ các mục tiêu
của các kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính và cung cấp dịch vụ
liên quan tại đơn vị.
- Quan điểm của Ủy Ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian
7
lận về báo cáo tài chính (COSO):
COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ nhằm thống nhất
định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau
chức cung cấp; Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ : nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật
và các quy định.
Qua các định nghĩa đã nêu cho thấy: KSNB không chỉ giới hạn trong chức năng
tài chính kế toán mà còn có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như hành chính,
quản lý, nó không chỉ thuộc về nhà quản lý mà đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ
của tất cả thành viên trong tổ chức.
1.1.2. Vai trò chủ yếu của Hệ thống KSNB.
Những định nghĩa nêu trên về hệ thống KSNB đã phần nào giúp cho cho chúng
ta nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống KSNB trong công ty. Một hệ thống
KSNB vững mạnh sẽ mang lại cho công ty nhiều lợi ích:
- Giúp Ban lãnh đạo công ty giảm bớt tâm trạng bất an về những rủi ro, nhất là
về con người và tài sản;
- Giúp Ban lãnh đạo công ty giảm tải trọng những công việc, sự vụ hàng ngày
và để chỉ tập trung vào vấn đề chiến lược;
- Giúp Ban lãnh đạo công ty chuyên nghiệp hoá công tác quản lý điều hành, cụ
thể: Công ty được quản lý một cách khoa học, chứ không phải thuần tuý bằng cảm tính
(kinh nghiệm và trực giác); Công ty được quản lý bằng cơ chế và quy chế chứ không
phải thuần tuý dựa vào lòng tin.
Thông thường, khi công ty càng phát triển thì hệ thống KSNB càng có điều kiện
phát huy hiệu quả và lợi ích mang lại cho công ty cũng trở nên to lớn hơn. Đối với
những CTCP, đặc biệt là CTCP đại chúng, nơi có sự tách biệt lớn giữa quản trị và điều
hành, một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ góp phần minh bạch hóa, nâng cao hiệu quả
hoạt động, qua đó tạo dựng lòng tin của cổ đông đối với công ty. Do vậy, việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát đang là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu
của nhiều công ty, đặc biệt là các CTCP.
Để thực hiện thành công các biện pháp KSNB đòi hỏi các công ty cần tuân thủ
một số nguyên tắc chung:
- Một môi trường văn hoá nhấn mạnh đến sự chính trực, giá trị đạo đức và phân
công trách nhiệm rõ ràng;
KSNB gồm có 5 thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm giảm bớt những
rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh. Bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá
rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Tùy vào loại hình hoạt động mục tiêu và quy mô của tổ chức mà hệ thống kiểm soát
nội bộ được sử dụng khác nhau, nhưng để hoạt động hiệu quả, hệ thống này cần có đầy đủ
năm thành phần theo quan điểm của Uỷ ban kiểm soát các tổ chức tài trợ (COSO).
1.2.1. Môi trường kiểm soát.
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị
10
có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại
hình KSNB.
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan đến quan
điểm, thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý CTCP. Trên thực
tế, tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức
phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý tại CTCP đó. Nếu các nhà quản lý cho rằng
công tác kiểm tra, kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt
động trong đơn vị thì mọi thành viên của đơn vị đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt
động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi quy định cũng như chế độ đề ra. Ngược lại,
nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn các
quy chế về KSNB sẽ không được vận hành một cách có hiệu quả bởi các thành viên
trong CTCP.
Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
- Đặc thù về quản lý: Các đặc thù về quản lý đề cập tới quan điểm khác nhau
trong điều hành hoạt động CTCP của nhà quản lý. Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát
trong CTCP. Bởi vì chính sách nhà quản lý này đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao
nhất sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại CTCP.
- Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong CTCP sẽ góp
cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhân
viên. Việc đào tạo, bố trí cán bộ và đề bạt nhân sự phải phù hợp với năng lực chuyên
môn và phẩm chất đạo đức, đồng thời phải mang tính kế tục và liên tiếp.
- Công tác kế hoạch:
Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất tiêu thụ, thu chi
quỹ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế hoạch tài
chính bao gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự
luân chuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan trong trong quá trình kiểm
soát. Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệ
thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu. Vì vậy trong
thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi
những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất
thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời.
- Ban kiểm soát (BKS):
BKS bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của CTCP như
thành viên của hội đồng quản trị (HĐQT) nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản
lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. BKS thường có nhiệm vụ và
quyền hạn sau: Giám sát sự chấp hành luật pháp của Công ty; Kiểm tra và giám sát
12
công việc của kiểm toán viên nội bộ; Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính; Dung
hoà những bất đồng (nếu có) giữa Ban Giám đốc với các kiểm toán viên bên ngoài.
- Môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn
phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát
của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của
các nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục KSNB. Thuộc
nhóm các nhân tố này bao gồm: Sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà
nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước…
1.2.2. Đánh giá rủi ro:
trường kinh doanh, sự xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá
cả và thị phần, sự thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm cho sản phẩm hiện hành
bị lỗi thời…
Các nhân tố bên trong như: Tính chất hoạt động của tổ chức, chất lượng đội ngũ
nhân viên, hệ thống xử lý thông tin, sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trong đạo
đức nghề nghiệp, thiếu sự kiểm tra kiểm soát thích hợp do xa công ty mẹ hoặc do thiếu
quan tâm…
Phân tích rủi ro: gồm việc xem xét tầm quan trọng và khả năng xảy ra rủi ro, từ
đó cân nhắc việc đối phó với rủi ro, quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng. Phương
pháp phân tích rủi ro rất đa dạng và phong phú bởi vì có nhiều loại rủi ro rất khó định
lượng. Có ba giai đoạn phân tích rủi ro cơ bản sau: đánh giá mức độ thiệt hại, đánh giá
xác suất xảy ra rủi ro, các biện pháp đối phó với rủi ro.
Rủi ro có nhiều loại: Có loại không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của đơn vị
và khả năng xảy ra thấp. Có loại có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của
đơn vị và khả năng xảy ra cao. Do vậy, khi phân tích rủi ro cần phải thận trọng, đồng
thời cần phải xem xét quan hệ giữa chi phí bỏ ra để đối phó rủi ro với những thiệt hại
từ các rủi ro đó.
- Kiểm soát rủi ro khi có thay đổi về kinh tế, công nghệ, luật pháp, kỹ
thuật…Các nhà quản lý của các CTCP cần nhận dạng và phân tích chính xác các rủi ro
mà công ty có thể gặp phải để đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn nhằm thực hiện
mục tiêu của công ty đề ra. Bên cạnh đó, việc xây dựng và thực hiện tốt các thủ tục
kiểm soát trong nội bộ công ty cũng góp phần cho việc kiểm soát rủi ro.
1.2.3. Hoạt động kiểm soát.
Nhà quản lý của CTCP thiết kế các thủ tục kiểm soát nhằm ngăn ngừa và phát
hiện sai sót, gian lận, đảm bảo thực hiện các mục tiêu cụ thể của công ty.
Các bước kiểm soát và thủ tục kiểm soát được thiết kế rất khác nhau ở nghiệp
vụ khác nhau, những đơn vị khác nhau. Nguyên tắc cơ bản để xây dựng các thủ tục
kiểm soát là:
14
của CTCP. Chúng bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống
tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán. Trong đó, quá trình lập
và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác KSNB của doanh nghiệp.
15
Mục đích của hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhận biết, thu thập, phân
loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó, thoả mãn chức
năng thông tin và kiểm tra hoạt động kế toán. Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải bảo
đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết:
Mục tiêu tính có thật: Yêu cầu các nghiệp vụ ghi sổ phải có căn cứ pháp lý để
tránh trường hợp ghi những nghiệp vụ giả không tồn tại. Căn cứ đó là những chứng từ
hợp lý, hợp lệ theo đúng quy định của Nhà nước.
Mục tiêu sự phê chuẩn: Các nghiệp vụ phải được phê chuẩn đúng đắn trước khi
thực hiện. Sự phê chuẩn này là của những người có thẩm quyền trong đơn vị nhằm
đảm bảo không có sự lừa đảo, tham ô, chiếm đoạt tài sản đơn vị.
Mục tiêu tính đầy đủ: Các nghiệp vụ hiện có phải được ghi sổ đầy đủ, không
được loại bỏ, dấu bớt, để ngoài sổ sách.
Mục tiêu sự đánh giá: Các nghiệp vụ phải được đánh giá đúng đắn, không để
xảy ra sai phạm trong tính toán và áp dụng chế độ kế toán.
Mục tiêu sự phân loại: Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn theo
cơ cấu tài khoản của đơn vị và được ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách có liên quan.
Mục tiêu về tính đúng kỳ: Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng lúc
đảm bảo sự chính xác của báo cáo tài chính.
Mục tiêu về quá trình chuyển sổ và tổng hợp: Các nghiệp vụ kinh tế phải ghi
đúng đắn vào sổ phụ và tổng hợp chính xác để phản ánh trung thực tình hình tài chính
của đơn vị.
Hệ thống kế toán được kiểm soát qua 3 giai đoạn: Lập chứng từ, hệ thống sổ
sách kế toán và lập báo cáo tài chính.
Lập chứng từ: là giai đoạn đầu tiên và rất quan trọng vì số liệu kế toán chỉ chính