BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
------------------------
LÂM NGỌC NHẪN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG HỒNG HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
ĐỒNG NAI - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
LÂM NGỌC NHẪN
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG HỒNG HÀ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số:
60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HUỲNH ĐỨC LỘNG
học nào.
Tác giả luận văn
Lâm Ngọc Nhẫn
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Công ty Cổ phần Bê tông Hồng Hà là một công ty lớn trên địa bìa tỉnh Bình
Dương. Trong quá trình hoạt động công ty đã xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ,
tuy nhiên môi trường kinh doanh luôn có nhiều biến động vì vậy việc cập nhật và
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ luôn là yếu tố quan trọng cần đặt lên hàng
đầu.
Nhận thức được sự cần thiết đó, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Bê tông Hồng Hà” để giúp công ty rà soát
thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
giúp công ty nâng cao hiệu quả hoạt động.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Tóm tắt luận văn
Mục lục
Danh mục từ ngữ viết tắt
Danh bảng biểu
Danh mục sơ đồ
Danh biểu đồ
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1.4 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ ...................................16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ..............................................................................................18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG HỒNG HÀ .......................................................................19
2.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tại công ty Cổ phần Bê tông
Hồng Hà ....................................................................................................................19
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ...................................................................19
2.1.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần Bê tông Hồng Hà .................19
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển ...........................................................19
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty................................................................20
2.1.2.1 Chức năng: ............................................................................................20
2.1.2.2 Nhiệm vụ: .............................................................................................20
2.1.3 Quy mô công ty............................................................................................21
Tổng tài sản của công ty tính đến 31/12/2014 là 39.606.506.098 đồng. ..............21
2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty.............................................................22
2.1.4.1 Sơ đồ bộ máy quản lý tại công ty .........................................................22
2.1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận .....................................................22
2.1.5 Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bê tông
Hồng Hà ................................................................................................................25
2.1.6 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển .......................................26
2.1.6.1 Thuận lợi ...............................................................................................26
2.1.6.2 Khó khăn...............................................................................................26
2.1.6.3 Phương hướng phát triển ......................................................................26
2.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Bê Tông Hồng Hà .26
2.2.1 Khái quát về quá trình khảo sát ...................................................................26
2.2.1.1 Mục tiêu khảo sát..................................................................................26
2.2.1.2 Đối tượng khảo sát................................................................................27
AICPA
Diễn giải
American Accounting Association (Hội kế toán Mỹ)
American Indtitute Cerified Public Accountants (Hội kế
toán viên công chứng của Mỹ)
COBIT
Control Objectives for Information and Relate Technology
(Quản trị kiêm soát bằng công nghệ thông tin)
COSO
Committee of Sponsoring Organization (Ủy Ban thuộc Hội
đồng Quốc gia Hoa Kỳ)
IIA
The Financial Excecutivies Institute (Hiệp hội quản trị viên
tài chính)
ISA
International Standard on Autitors (Hiệp hội kiểm toán
viên nội bộ)
SAS
Statements on Auditing Standards (Chuẩn mực kiểm toán)
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Các nhà quản lý đều muốn quản lý doanh nghiệp của mình có hiệu quả
nhất cả về mặt kiểm soát quản lý và phát triển kinh doanh. Vì vậy, kiểm soát nội bộ
trở nên cực kỳ quan trọng trong hệ thống quản lý của công ty. Xây dựng hệ thống
kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả là mục tiêu hướng đến của nhiều công ty
trong giai đoạn hiện nay.
Công ty Cổ phần Bê tông Hồng Hà là một doanh nghiệp chuyên sản xuất và
cung ứng bê tông thương phẩm và sửa chữa cơ khí. Công ty chuyên nhận thầu và
chịu trách nhiệm về chất lượng bê tông cung ứng cho các công trình xây dựng công
nghiệp lớn và công trình nhà ở. Công ty ngày càng lớn mạnh với hơn 7 chi nhánh
hoạt động, nằm ở các tỉnh địa bàn như TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây
Ninh…Mặc dù, lĩnh vực kinh doanh bất động sản các năm gần đây khá trầm lắng,
nhưng công ty vẫn tìm được các nguồn tiêu thụ lớn từ các tỉnh khác nhau và nhà
đầu tư nước ngoài, nhờ đội ngũ nhân viên năng động và chất lượng công nghệ và
hệ thống vận tải hiện đại.
Hiện nay, đa số các sự thua lỗ trong các doanh nghiệp Việt Nam đều có nguyên
nhân từ sự yếu kém và hệ thống kiểm soát nội bộ lõng lẽo. Nếu không có kiểm soát
nội bộ sẽ không giải quyết được các vấn đề trên. Nhận thấy được tầm quan trọng
của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác điều hành quản lý và nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động kiểm soát nội của Công ty Cổ phần Bê tông Hồng Hà, tác giả
quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần
Bê tông Hồng Hà” để thực hiện luận văn tốt nghiệp nhằm nghiên cứu về hệ thống
lý luận và thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty, nâng cao tính hữu hiệu
của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hơn về hệ
thống kiểm soát nội bộ.
2. Các nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu trong nước:
giả đã hệ thống quát những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và làm sáng
tỏ đặc thù về hệ thống kiểm soát nội bộ với lĩnh vực dệt may.Qua nghiên cứu, tác
giả đưa ra các giải pháp cho việc thiết lập các quy trình kiểm soát trong nội bộ bao
gồm các quy trình: quy trình kiểm soát nội bộ liên quan đến các nghiệp vụ phát
3
sinh đầu vào, các quy trình kiểm soát nội bộ liên quan đến quá trình sản xuất, các
nghiệp vụ phát sinh đầu ra, các nghiệp vụ phát sinh về nhân sự, quy trình kiểm soát
nội bộ liên quan đến các chỉ tiêu khác.
- Ngô Trần Minh Thúy (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhìn
từ góc độ một doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Tác giả tiến hành khảo sát 10 doanh
nghiệp nhỏ và vừa để đánh giá các mặt tồn tại yếu kém và nguyên nhân trong hệ
thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp, từ đó đi sâu phân tích các thủ tục
kiểm soát đã được thiết lập tại các đơn vị này theo từng chu trình hoạt động và đưa
ra các giải pháp cụ thể cho từng thủ tục kiểm soát.
Nghiên cứu nước ngoài:
- Amudo, A.& Inanga, E.L (2009), Evaluation of Internal Control Systems:
A Case Study from Uganda. Interational Research Journal of Fiance and
Econmics – Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: trường hợp nghiên cứu tại
Uganda. Nghiên cứu Tạp chí quốc tế về Kinh tế Tài Chính. Nghiên cứu này tiến
hành nghiên cứu các nước thành viên khu vực (RMCs) của Tổ chức Ngân Hàng
Phát Triển Châu Phi (AfDB) tập trung vào Uganda ở Đông Phi. Nghiên cứu này
được cải tiến hành đối với 11 dự án, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp thống
kê mô tả, kết hợp phân tích để đánh giá các thành phần của hệ thống kiểm soát nội
bộ tại Uganda và đưa ra các đề xuất khác nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn
tại trong hệ thống. Trong mô hình nghiên cứu của tác giả có 6 thành phần của hệ
thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát,
thông tin và truyền thông, giám sát và công nghệ thông tin. Kết quả cho thấy các dự
công nhân viên, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để đánh
giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty.
- Dựa trên phương pháp tổng hợp, phân tích và suy luận đề ra các giải pháp
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ
- Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Bê tông
Hồng Hà
5
- Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Bê tông
Hồng Hà
7. Những đóng góp mới của đề tài
- Về lý thuyết: Hệ thống hóa lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty.
- Về mặt sản phẩm: Những phân tích, nhận xét, đánh giá về hệ thống kiểm soát
nội bộ hiện nay tại Công ty. Những giải pháp góp phần giúp Công ty tồn tại và phát
triển với việc đạt được các mục tiêu đặt ra là xây dựng và vận hành một hệ thống
kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả, đồng thời phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện
các sai phạm có thể xảy ra.
6
CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm soát nội bộ
Hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đều phải được kiểm
tra, giám sát, điều hành của các nhà quản trị. Các công việc kiểm tra, kiểm soát
1.1.2 Giai đoạn hình thành
Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về kiểm soát nội
bộ là: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc
quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”.
Sau đó, AICPA cũng soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực đề cập đến các khía
cạnh khác nhau của kiểm soát nội bộ như SAP 29, SAP 33, SAP 54 (sau này được
thay thế bằng các chuẩn mực SAS).
Trong suốt giai đoạn hình thành, khái niệm kiểm soát nội bộ đã không ngừng
được mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy
nhiên, trước khi báo cáo COSO (1992) ra đời, kiểm soát nội bộ vẫn mới dừng lại
như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài
chính.
1.1.3 Giai đoạn phát triển
Từ năm 1970 - 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác phát triển
mạnh mẽ. Bên cạnh đó, sự gian lận tại các công ty ngày càng nhiều thúc đẩy xã hội
quan tâm nhiều hơn đến hệ thống kiểm soát nội bộ. Sau vụ bê bối chính trị trên
chính trường Mỹ - Watergate (1973), vào năm 1977, luật về chống hối lộ nước
ngoài ra đời.
Năm 1979, SEC bắt buộc các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với
công tác kế toán ở đơn vị mình, vì vậy cần phải có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu
hiệu của kiểm soát nội bộ. Từ đó dẫn đến Ủy ban COSO đã được thành lập (1975).
Đây là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo
cáo tài chính (thường gọi tắt là Ủy ban Treedway) được thành lập dưới sự bảo trợ
của 5 tổ chức: Hiệp Hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội kế
toán Hoa Kỳ (AAA – American Accounting Association), Hiệp hội quản trị viên tài
chính (FEI – Financial Executive Institute), Hiệp hội kế toán viên quản trị ( IMA –
Institute of Management Accountants), Hiệp hội kế toán viên nội bộ (IIA – Institute
of Interal Auditors).
Đến năm 1992, Ủy ban COSO đã chính thức ban hành Báo cáo 1992. Đặc
điểm nổi bật của báo cáo COSO 1992 là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị,
1.2 Khái niệm, mục tiêu của kiểm soát nội bộ
1.2.1 Theo COSO 1992
9
Theo COSO 1992 thì kiểm soát nội bộ là một quá trình do con người quản lý, hội
đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm
bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
-
Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
-
Sự tin cậy của báo cáo tài chính
-
Sự tuân thủ các luật lệ và quy định
Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con
người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
Kiểm soát nội bộ là một quá trình: điều đó có nghĩa là kiêm soát nội bộ
không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện
rộng khắp trong doanh nghiệp. Kiểm soát nội bộ phải là một bộ phận giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu của mình.
Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người trong đơn vị: Con người đặt ra
mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng tới các mục tiêu đã định.
Ngược lại, kiểm soát nội bộ cũng tác động đến hành vi của con người. Mỗi cá nhân
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị: nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu
cầu của đơn vị là chính; nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính chủ yếu xuất phát từ
yêu cầu của cổ đông, nhà đầu tư và chủ nợ; nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát
từ yêu cầu của các cơ quan quản lý
1.2.2 Theo COSO 2004
Hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hữu hiệu cũng chỉ nhằm kiểm soát
những rủi ro trong doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp đạt được những mục
tiêu đã đề ra, đưa doanh nghiệp ngày càng đi lên. Vì vậy, COSO đã phát triển Báo
cáo Kiểm soát nội bộ năm 1992 thành Báo cáo Quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM)
vào năm 2004
Theo báo cáo COSO (2004) thì Quản trị rủi ro doanh nghiệp được định nghĩa
như sau: “Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình, chịu sự chi phối của Ban
giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của doanh nghiệp, được áp dụng trong việc
thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn doanh nghiệp và áp dụng cho các cấp độ
trong doanh nghiệp, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh
hưởng đến doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được của rủi ro
nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý hướng đến việc đạt được các mục tiêu của
doanh nghiệp”
Nội dung cơ bản của Quản trị rủi ro gồm có: quá trình, con người, đảm bảo
hợp lý, các mục tiêu, thiết lập chiến lược, áp dụng toàn đơn vị, nhận dạng sự
kiện.
1.1.5 Theo COSO 2013
Theo COSO 2013 “Kiểm soát nội bộ là một quá trình ảnh hưởng bởi Ban
giám đốc, nhà quản lý và các cá nhân của tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sự
đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu liên quan đến”. Ngoài việc cập
nhật 3 mục tiêu là: mục tiêu về hiệu quả quản lí, mục tiêu báo cáo, mục tiêu về tính
tuân thủ thì COSO 2013 còn giới thiệu 17 nguyên tắc cần thiết trong xây dựng hệ
11
thể ảnh hưởng đáng kể kiểm soát nội bộ
10. Chọn và phát triển các hoạt động kiểm
soát đó giảm thiểu rủi ro
11. Chọn và phát triển công nghệ điều khiển
12. Triển khai các hoạt động kiểm soát thông
qua các chính sách và thủ tục
13. Sử dụng, chất lượng thông tin có liên quan
để hỗ trợ các chức năng kiểm soát nội bộ
14. Truyền đạt thông tin kiểm soát nội bộ
trong nội bộ
15. Truyền đạt thông tin kiểm soát nội bộ bên
ngoài
16. Thực hiện đánh giá thường xuyên hoặc
định kỳ kiểm soát nội bộ (hoặc một sự kết
hợp của hai)
17. Giao tiếp thiếu kiểm soát nội bộ
12
1.1.6 Những điểm giống và khác nhau của COSO 1992, COSO 2013
Giống nhau:
- Kiểm soát nội bộ đều được xem như một quá trình
- Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: Vì kiểm soát nội
bộ không chỉ à những chính sách, thủ tục, biểu mẫu,…mà phải bao gồm cả
yếu tố con người – Hội đồng Quản trị, Ban giám đốc, nhân viên của tổ chức.
Chính con người định ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát,
thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng.
- Cung cấp một sự đảm bảo hợp lý giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề
ra.
thành viên của công ty nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội
bộ.
1.3.2 Đánh giá rủi ro
Bất kỳ doanh nghiệp nào trong quá trình sản suất kinh doanh đều phải đối mặt
với rủi ro. Những rủi ro này có thể do bản thân doanh nghiệp hay từ môi trường
kinh tế, chính trị, xã hội bên ngoài tác động.
- Rủi ro bên trong doanh nghiệp thường do các nguyện nhân: mâu thuẫn về
mục đích hoạt động, các chiến lược của doanh nghiệp đưa ra cản trỏ việc thực hiện
các mục tiêu. Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp.
Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính, của trang thiết bị,
hạ tầng cơ sở. Tổ chức và cơ sở hạ tầng không thay đổi kịp với sự thay đổi, mở
rộng của sản xuất. Chi phí cho quản lý và trả lương cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm
soát thích hợp hoặc do xa Công ty mẹ hoặc do thiếu quan tâm…
- Các yếu tố bên ngoài: Thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành.
Thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụ hiện hành bị
lỗi thời. Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá cả và thị
phần. Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh hưởng đến hoạt động
của tổ chức…
14
Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên: xác
định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn. Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất xuất
hiện và xác định các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng.
Rủi ro là khả năng xảy ra sự cố bất lợi cho chủ thể, hay có thể hiểu nó là
những nguy cơ một hành động hay một sự việc có ảnh hưởng bất lợi đến việc đạt
được những mục tiêu cũng như việc thực hiện thành công những chiến lược kinh
doanh của một tổ chức. Khi thực hiện công việc, kiểm soát viên cần phải phát hiện,
xác định được phạm vi của rủi ro để báo cáo và có những đề suất để đơn vị có thể