LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Xu hướng toàn cầu hóa mở ra những vận hội cũng như những
thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt trong năm
2012 lạm phát tăng cao nên chi phí cho việc sản xuất kinh doanh
tăng, hiệu quả sử dụng vốn giảm. Nếu so sánh lợi nhuận của doanh
nghiệp trong năm với lãi suất ngân hàng thì nhiều doanh nghiệp
không nên hoạt động vì lợi nhuận của doanh nghiệp thấp hơn mức
lãi suất nhận được nếu đem khoản tiền đó gửi ngân hàng. Trong
hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, các doanh nghiệp cần
quan tâm hoàn thiện hệ thống KSNB của mình nhằm tiết kiệm chi
phí, tăng hiệu suất kinh doanh, tăng mức sống của người lao động,
thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thương trường.
Hệ thống KSNB là tổng thể những chính sách được thiết kế để
ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt
động, và nhằm đạt được sự tuân thủ các chính sách và quy trình
được thiết lập. Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ đem lại các lợi
ích sau: Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo
tài chính của công ty; giảm bớt rủi ro do gian lận hoặc trộm cắp đối
với công ty do bên thứ ba hoặc nhân viên của công ty gây ra; giảm
bớt rủi ro do sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại
cho công ty; giảm bớt rủi ro do không tuân thủ chính sách và quy
trình kinh doanh của công ty; và ngăn chặn việc tiếp xúc những rủi
ro không cần thiết do quản lý rủi ro chưa đầy đủ.
Công ty CP KD Than Miền Bắc – Vinacomin là một đơn vị
thành viên của Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam. Công ty có
nhiệm vụ cung cấp Than phục vụ đời sống cho nhân dân trong khu
vực các tỉnh Miền Bắc. Ngoài hoạt động kinh doanh Than Công ty
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử làm phương pháp chủ đạo, ngoài ra còn sử dụng các phương
pháp khác như thống kê, tổng hợp, phân tích, dùng hệ thống sơ đồ
bảng biểu để trình bày các nội dung lý luận và thực tiễn.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, sơ đồ, phụ lục, tài liệu tham
khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các
doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty
cổ phần kinh doanh than Miền Bắc- Vinacomin.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát
nội bộ tại Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc- Vinacomin.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT
NỘI BỘ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về hệ thống KSNB
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển lý luận về KSNB
Hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là một
chuỗi các quy trình nghiệp vụ đan xen nhau một cách có hệ thống,
và ở bất kì khâu nào của các quy trình nghiệp vụ cũng cần chức
năng kiểm soát. Hoạt động kiểm soát luôn giữ một vị trí quan trọng
trong quá trình quản lý và điều hành kinh doanh. Thông qua việc
bất hợp pháp cho chính phủ nước ngoài, Quốc hội Mỹ đã thông qua
Điều Luật Hành vi Hối lộ ở nước ngoài. Trong đó, kiểm soát nội bộ
rất được quan tâm đề cập đến để kiểm soát mọi hoạt động và như
thế, khái niệm kiểm soát nội bộ lần đầu tiên được xuất hiện trong
một văn bản pháp luật.
Từ năm 1980 - 1988, với sự kiện nghiêm trọng là sự sụp đổ
hàng loạt các công ty cổ phần có niêm yết ở Hoa Kì như ngân hàng
Continental Illinois National Bank & Trust Co. năm 1984; Công ty
Dầu khí Texaco Inc. năm 1987; Tập đoàn Tài chính Financial Corp.
of America, năm 1988… các nhà lập pháp buộc phải quan tâm
nhiều đến kiểm soát nội bộ và ban hành nhiều quy định hướng dẫn
như:
- Ủy ban quốc gia về phòng chống gian lận báo cáo tài chính
(Treadway Commission) – 1985, đưa ra hàng loạt các quy tắc về
đạo đức, kiểm soát và làm rõ các chức năng của kiểm soát nội bộ
- Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Mỹ (ASB: Auditing Standard
Board) ban hành bản điều chỉnh chuẩn mực kiểm toán về kiểm soát
nội bộ vào năm 1988
- Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC: Securities and Exchange
Commission) ban hành các nguyên tắc về báo cáo trách nhiệm và
đánh giá hiệu quả của kiểm soát nội bộ năm 1988
- Năm 1991, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ (IIARF: The
Institude of Internal Auditors Research Foundation) đưa ra các
hướng dẫn kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin.
Những quy định này đều hướng chung đến mục tiêu phát triển
vai trò của kiểm soát nội bộ trong tổ chức, nhưng theo nhiều
phương diện và có tồn tại một số điểm không đồng nhất, vì thế dẫn
đến yêu cầu phải hình thành một hệ thống lý luận có tính chuẩn mực
đốc, các nghị sĩ và cơ quan quản lý Nhà nước.
- Phần 2: Khuôn khổ chung của kiểm soát nội bộ
Đây là phần cơ bản nhất của Báo cáo COSO, trong đó có định
nghĩa về kiểm soát nội bộ, mô tả các bộ phận cấu thành của kiểm
soát nội bộ, đưa ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá hệ thống kiểm
soát nội bộ.
- Phần 3: Báo cáo cho bên ngoài
Đây là tài liệu bổ sung, cung cấp hướng dẫn cho cho các tổ
chức cách thức báo cáo cho các đối tượng bên ngoài về hệ thống
kiểm soát nội bộ cho mục tiêu báo cáo thông tin tài chính.
- Phần 4: Các công cụ đánh giá kiểm soát nội bộ
Phần này đưa ra các công cụ hướng dẫn, gợi ý rất thiết thực
cho việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
Tóm lại, Báo cáo COSO là tài liệu đầu tiên trên thế giới
nghiên cứu về định nghĩa kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có
hệ thống. Đặc điểm là tầm nhìn rộng, mang tính quản trị, đề cập các
vấn đề liên quan báo cáo tài chính, lĩnh vực hoạt động và tính tuân
thủ. Báo cáo COSO tạo lập một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về kiểm
soát nội bộ.
* Giai đoạn hậu COSO (Từ năm 1992 đến nay):
Nền tảng lý luận chuẩn cơ bản về kiểm soát nội bộ mà báo cáo
COSO đã tạo dựng là cơ sở lý luận hoàn thiện. Nhờ đó mà đã có
hàng loạt nghiên cứu mở rộng và phát triển trên nhiều lĩnh vực như:
o COBIT _ 1996 (Control Objective For Information and
Related Technology) do ISACA ban hành. COBIT là hệ thống kiểm
soát nội bộ phát triển theo hướng công nghệ thông tin, nhấn mạnh
đến hệ thống kiểm soát trong môi trường CIS. Cụ thể bao gồm kiểm
soát CIS trong các lĩnh vực: Hoạch định, Tổ chức mua và triển khai,
(VACO) vào tháng 5/1991 đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với
công tác kiểm tra kế toán ở Việt Nam.
Sau đó, với sự thành lập của nhiều công ty kiểm toán khác như
các công ty hợp danh, công ty liên doanh, các công ty kiểm toán
quốc tế tại Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho kiểm toán
Việt Nam phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Có thể tóm
tắt quá trình phát triển của các lý luận cho hoạt động kiểm toán và
kiểm soát nội bộ như sau:
- Tháng 1/1994, Chính phủ ban hành Quy chế kiểm toán độc lập
- Tháng 7/1994, Cơ quan kiểm toán Nhà nước trực thuộc chính
phủ được thành lập
- Tháng 10/1994, Bộ Tài chính chính thức ban hành Quy chế
Kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước
- Tháng 9/1999, Bộ Tài chính ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam (VSA) đầu tiên. Lần lượt các năm 2000, 2001, 2003,
2005 Bộ Tài chính ban hành thêm các chuẩn mực, và cho đến nay
đã có 7 đợt ban hành các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam như sau:
· Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC (27/09/1999) về việc ban
hành và công bố 04 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 1)
· Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC (29/12/2000) về ban hành
và công bố 06 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 2)
· Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC (21/12/2001) về ban hành
và công bố 06 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Đợt 3)
· Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC (14/3/2003) về ban hành và
công bố 05 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 4)
· Quyết định số 195/2003/QĐ-BTC (28/12/2003) về ban hành
và công bố 06 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 5)
· Quyết định số 03/2005/QĐ-BTC (18/01/2005) về ban hành và
và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm quản lý và điều hành các
hoạt động của doanh nghiệp.
Báo cáo COSO định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình
bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn
vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được
các mục tiêu sau đây:
Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính
Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế thì “Hệ thống KSNB là hệ
thống chính sách và các thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn
mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, đảm bảo độ tin cậy
của thông tin, đảm bảo việc tuân thủ và thực hiện các chế độ pháp
lý, đảm bảo tính hiệu quả của các hoạt động”.
Còn chuẩn mực kế toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ”, khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ được hiểu
như sau: “Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát
do doanh nghiệp được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm
bảo cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm
tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo
cáo tài chính trung thực, hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng
có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp. Hệ thống KSNB bao gồm:
môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
Từ các khái niệm trên có thể đi đến một định nghĩa chung về hệ
thống kiểm soát nội bộ: “Đó là quá trình đo lường, đánh giá và tác
động lên đối tượng kiểm soát nhằm bảo đảm mục tiêu, kế hoạch của
tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả”
Dù được hiểu theo định nghĩa nào thì KSNB cũng có những
triển thì trách nhiệm của Ban giám đốc là phải xây dựng, duy trì và
vận hành hệ thống KSNB hiệu quả để phục vụ tốt cho hoạt động
quản lý và điều hành.
1.1.3. Mục đích của hệ thống KSNB
Hệ thống KSNB trong doanh nghiệp được xây dựng nhằm đạt
các mục đích sau đây:
Bảo vệ tài sản và sổ sách: Tài sản của các công ty bao gồm cả
tài sản hữu hình (như tiền mặt, vật tư, TSCĐ), và các tài sản vô hình
như các tài liệu quan trọng, uy tín của doanh nghiệp... những tài sản
này của công ty có thể bị trộm cắp, bị tham ô, sử dụng sai mục
đích... nếu không có những biện pháp kiểm soát thích hợp. Việc bảo
vệ tài sản và sổ sách trở nên ngày càng quan trọng từ khi hệ thống
máy tính được sử dụng, một số lượng lớn thông tin trên các đĩa từ
có thể bị lấy cắp hoặc bị phá hoại nếu chúng không được cẩn trọng
bảo vệ.
Tính tin cậy của thông tin: Thông tin kinh tế, tài chính do bộ
máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình
thành các quyết định của nhà quản lý. Do đó nhà quản lý cần phải
có được thông tin đảm bảo kịp thời về thời gian, tính chính xác cao
và tin cậy về thực trạng hoạt động, phản ánh đầy đủ khách quan các
nội dung chủ yếu của hoạt động kinh tế, tài chính để đưa ra quyết
định điều hành. Hệ thống KSNB được xác lập nhằm đảm bảo các
thông tin cung cấp như vậy.
Việc thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống KSNB được xây
dựng nhằm đảm bảo rằng các quy định, quy chế của doanh nghiệp
và các chế độ pháp lý có liên quan đến doanh nghiệp đó được tuân
Các nhà quản lý cao cấp là người quyết định và điều hành mọi
hoạt động của đơn vị, vì thế quan điểm, đường lối quản trị, cũng như
tư cách của họ là vấn đề trung tâm trong môi trường kiểm soát.
Phong cách quản lý của các nhà quản lý có thể chia ra làm hai
loại:
+ Nhà quản lí quá táo bạo và mạnh dạn, những người này có
thể sẵn sàng mạo hiểm để đổi lấy lợi nhuận cao. Đối với những
doanh nghiệp này, khả năng gặp rủi ro lớn, các chính sách thường
không ổn định dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp khó đi vào nề
nếp.
+ Nhà quản lí quá rụt rè, họ giữ thái độ thận trọng khi đưa ra
bất cứ một quyết định nào. Những doanh nghiệp này thường bị bỏ lỡ
thời cơ và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Qui mô và mức độ hoạt động phân tán từ đó ảnh hưởng đến cơ
cấu quyền lực trong đơn vị cũng là một vấn đề tiêu biểu của đặc thù
quản lí ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống KSNB.
1.2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí là tổng hợp các bộ phận được
chuyên môn hoá với những trách nhiệm, quyền hạn nhất định có mối
liên hệ mật thiết với nhau, nhằm thực hiện các chức năng quản lí.
Cơ cấu tổ chức đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo và kiểm
soát hoạt động của đơn vị. Một cơ cấu tổ chức hợp lí sẽ đảm bảo sự
thông suốt trong phân công, phân nhiệm, trong uỷ quyền và phê
chuẩn, ngăn ngừa sự vi phạm các chính sách, thủ tục kiểm soát, loại
bỏ được những hoạt động không phù hợp có thể dẫn đến sai lầm và
gian lận.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trong điều kiện
các yếu tố khác của hệ thống KSNB chưa hoàn thiện hoặc chưa
Lập kế hoạch là một chức năng quan trọng của công tác quản
lí, nó cho biết phương hướng hoạt động, giảm sự tác động của những
thay đổi, tránh được sự lãng phí, dư thừa trong quản lí. Nếu việc lập
và thực hiện các kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc,
thì nó trở thành một công cụ kiểm soát rất hữu hiệu.Chính vì thế các
nhà quản lý phải quan tâm xem xét về tiến độ thực hiện kế hoạch,
định kỳ so sánh giữa số liệu thực hiện và số liệu kế hoạch. Đây cũng
chính là một khía cạnh mà các kiểm toán viên rất quan tâm, đặc biệt
là trong áp dụng thủ tục phân tích.
1.2.1.5. Uỷ ban kiểm toán
Tại một số quốc gia lớn- chẳng hạn như Mỹ- thì các công ty cổ
phần có quy mô lớn thường thành lập một uỷ ban kiểm toán trực
thuộc Hội đồng quản trị. Uỷ ban thường có 3 đến 5 uỷ viên, không
phải là nhân viên của Công ty có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
-
Giám sát sự chấp hành luật pháp của Công ty.
-
Xây dựng bộ máy kiểm toán nội bộ, kiểm tra, giám sát
công việc của kiểm toán viên nội bộ.
-
Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
-
vị nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà quản lí trong sự thiết kế
và vận hành hệ thống KSNB như luật pháp, sự kiểm tra của các cơ
quan nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ...
1.2.2. Hệ thống kế toán
Hệ thống kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra tài sản,
nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản bằng các
phương pháp kế toán: phương pháp chứng từ, tính giá, đối ứng tài
khoản và phương pháp tổng hợp- cân đối.
Thông qua việc ghi nhận, tính toán, phân loại, kết chuyển vào
sổ cái, tổng hợp và lập hệ thống báo cáo cung cấp những thông tin
cần thiết cho quá trình quản lý và kiểm soát các mặt hoạt động của
đơn vị. Do đó, hệ thống kế toán là một bộ phận quan trọng của kiểm
soát nội bộ. Một hệ thống kế toán hữu hiệu sẽ đảm bảo các mục tiêu
tổng quát sau đây:
o Tính có thật: nghĩa là chỉ được ghi chép những nghiệp vụ có
thực, không ghi chép những nghiệp vụ giả tạo vào sổ sách
của đơn vị.
o Sự phê chuẩn: trước khi thực hiện mọi hoạt động nghiệp vụ,
đều phải đảm bảo rằng chúng đã được phê chuẩn hợp lệ.
o Tính đầy đủ: Nghĩa là không được loại bỏ, giấu bớt để ngoài
sổ sách về mọi nghiệp vụ phát sinh.
o Sự đánh giá: Không để xảy ra những sai phạm trong tính
toán, trong việc áp dụng chính sách kế toán.
o Sự phân loại: Bảo đảm số liệu được phân loại đúng đắn theo
sơ đồ tài khoản của đơn vị, và ghi nhận đúng đắn các loại sổ
sách kế toán có liên quan.
hệ thống KSNB, có thể chia thành hai loại biện pháp kiểm soát:
kiểm soát trực tiếp và kiểm soát tổng quát.
Kiểm soát trực tiếp:
Kiểm soát trực tiếp là các biện pháp kiểm soát được xây dựng
trên cơ sở đánh giá các yếu tố dẫn liệu trong báo cáo tài chính. Kiểm
soát trực tiếp bao gồm ba loại hình cơ bản:
Kiểm soát quản lí: là việc kiểm soát các hoạt động đơn lẻ do
những nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động tiến hành.
Kiểm soát quản lí là biện pháp rất có hiệu lực để phát hiện, ngăn
chặn các sai sót, gian lận.
Kiểm soát xử lí: là kiểm soát được đặt ra để kiểm tra việc xử lí
các giao dịch, tức là kiểm tra lại những công việc mà giao dịch được