nghiên cứu bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra trên cá tầm (acipenser spp.) nuôi tại lâm đồng - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
 LÊ PHƯỚC THUẦN NGHIÊN CỨU BỆNH DO VI KHUẨN VÀ NẤM GÂY RA
TRÊN CÁ TẦM (Acipenser spp.) NUÔI TẠI LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã ngành: 60.62.70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. VÕ THẾ DŨNG
TS. NGUYỄN HỮU DŨNG

NHA TRANG - NĂM 2012

i LỜI CAM ĐOAN

đình, bạn bè đã luôn động viên khích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó.

Tác giả
Lê Phước Thuần
iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1. Sơ lược về hình thái phân loại, phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản và giá trị
của họ cá tầm Acipenseridae: 4

1.1.1. Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm: 4

1.1.2. Đặc điểm sinh học, sinh sản cá tầm: 5


2.3. Phương pháp nghiên cứu: 31

2.3.1. Sơ đồ khối nghiên cứu: 32

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu bệnh do vi khuẩn: 33

2.3.2.1. Phương pháp nuôi cấy, phân lập và định danh vi khuẩn: 33

iv

2.3.2.2. Phương pháp nghiên cứu độ nhạy kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh 35

2.3.2.3. Phương pháp gây cảm nhiễm vi khuẩn gây bệnh: 36

2.3.3. Phương pháp nghiên cứu bệnh do nấm: 37
2.3.3.1. Môi trường nuôi cấy nấm: 38

2.3.3.2. Phương pháp nuôi cấy và phân loại nấm: 38

2.4. Phương pháp xử lý số liệu: 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1. Nhận xét chung về hiện trạng nghề nuôi cá tầm nói riêng và nuôi cá nước lạnh
nói chung tại Lâm Đồng: 40

3.2. Một số bệnh thường gặp trên cá tầm nuôi thương phẩm tại Lâm Đồng xuất hiện
trong thời gian nghiên cứu: 41


CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 83
v DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

S‰: Độ mặn
t
0
C: Nhiệt độ
TB: Trung bình
ĐK: Đường kính
%: Phần trăm
Mcg: Microgam
KST: Ký sinh trùng
CĐCN: Cường độ cảm nhiễm
TLCN: Tỷ lệ cảm nhiễm
TSBG: Tần số bắt gặp
VK: Vi khuẩn
KSĐ: Kháng sinh đồ
NT: Nghiệm thức
vi


Hình 3.25: Cá tầm bị lở loét được phân tích sự cảm nhiễm nấm 67
Hình 3.26: Khuẩn lạc nấm N1 trên môi trường PDA 68
Hình 3.27 : Nấm Saprolegnea sp. phân lập từ cá tầm 69
Hình 3.28: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chết của cá tầm cảm nhiễm Saprolegnia sp 72
vii DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của thịt cá tầm 8
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng của Caviar 9
Bảng 1.3: Các loài nấm được tìm thấy trên cá tầm [32] 25
Bảng 3.1: Phân bố mẫu cá tầm thu 44
Bảng 3.2: Các thông số về số lượng, chiều dài, khối lượng mẫu thu 45
Bảng 3.3: Tần số bắt gặp các mẫu cá tầm thu 45
Bảng 3.4: Tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bị xuất huyết, lở loét 47
Bảng 3.5: Tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bị sưng miệng 49
Bảng 3.6: Tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bơi quay, mất định hướng 50
Bảng 3.7: Đặc điểm sinh hóa của một số loài VK phân lập được bằng test API-20E 55
Bảng 3.8: Kết quả kháng sinh đồ của một số loài VK có TSBG cao 56
Bảng 3.9: Kết quả thí nghiệm cảm nhiễm VK Streptococcus sp. lên cá khỏe. 59
Bảng 3.10: Kết quả thí nghiệm cảm nhiễm VK Aeromonas hydrophyla lên cá khỏe 62
Bảng 3.11: Kết quả thí nghiệm cảm nhiễm VK Pseudomonas cepacia lên cá khỏe 65
Bảng 3.12: Tổng thể các mẫu cá tầm được kiểm tra bệnh nấm 67
Bảng 3.13: TSBG nấm trên cá tầm bệnh 68
Đây là những đối tượng mới nên những nghiên cứu về chúng trên thế giới mà
đặc biệt là ở Việt Nam còn chưa nhiều. Các nghiên cứu lại thường tập trung vào hoàn
thiện quy trình sản xuất giống, nuôi thương phẩm mà chưa có nhiều nghiên cứu về tình
hình dịch bệnh và quản lý sức khỏe cho cá nuôi. Cho nên nguy cơ bệnh trên cá và
bùng phát thành dịch là luôn có thể xảy ra.
Tại Lâm Đồng Từ tháng 9/2006, cá tầm bắt đầu được đưa vào nuôi thử nghiệm
và phát triển. Đây là đối tượng có thể thích nghi và phát triển tốt tại một số địa phương
trong tỉnh (hồ Tuyền Lâm, Giang ly, Lâm Hà, Di Linh…) mở ra triển vọng mới cho
phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng trên địa bàn tỉnh. Lâm
Đồng là tỉnh có tiềm năng lớn cho phát triển nghề nuôi cá tầm do có điều kiện khí hậu
mát mẻ, thủy văn phù hợp; nhiệt độ dao động từ 15–23
0
C, trung bình 19
0
C; lượng mưa
khá lớn, trung bình 1.654 mm/năm; độ ẩm cao 86%.
2

Tuy nhiên, là đối tượng nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài, cộng với việc quản lý
chưa tốt nên trong quá trình nuôi cá tầm thường xuất hiện các dấu hiệu bệnh như: xuất
huyết trên thân, gốc vây, miệng, lở loét, cá bơi quay, không định hướng, , khi giải
phẩu bên trong thì thấy nội quan bị tổn thương, ruột sưng, xuất hiện nhiều chất dịch
trong cơ thể… đây là những dấu hiệu bệnh lý chính của bệnh do vi khuẩn và có thể là
nấm gây ra trên các đối tượng NTTS.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng ta có thể thấy rằng những nghiên cứu về các
tác nhân gây bệnh trên cá tầm đang được nuôi đồng thời đưa ra cơ sở khoa học cho
việc phòng và trị bệnh cho loài cá nhiều tiềm năng này là vô cùng cần thiết.
Chính vì thế được sự đồng ý của Hội đồng xét duyệt đề cương luận văn cao học
chuyên ngành NTTS trường Đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu NTTS-3 và các thầy
cô, cán bộ hướng dẫn, tôi đã thực hiện đề tài:
4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược về hình thái phân loại, phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản và giá
trị của họ cá tầm Acipenseridae:
1.1.1. Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm:
Hệ thống phân loại cá tầm:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata

hồ như sông Delaware, Rhin, Garonne, Elbe, Volga, Danube và hồ Ladoga.
Cá tầm là loài di cư nên chúng di chuyển nhiều và dễ thích nghi với các điều
kiện sinh thái khác nhau, lợi dụng đặc điểm này, nhiều nước ở Châu Âu, châu Mỹ và
Châu Á đã nhập cá về nuôi và rất thành công. Các loài được nuôi phổ biến hiện nay là
cá tầm Nga, cá tầm Siberi, cá tầm trắng, cá tầm mũi ngắn, cá tầm sao, Beluga và
Sterlet. Cá tầm phân bố ở các thủy vực nước ngọt, ven biển hoặc các hồ nội địa chủ
yếu ở các nước ôn đới như: Nga, Azerbaijan, Kazakhstan, Turkmenistan, Iran,
Ukraine, Bulgaria,Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, một số nước châu Âu và Bắc Mỹ.
1.1.2. Đặc điểm sinh học, sinh sản cá tầm:
Cá tầm là loài cá ăn thịt, sống và kiếm mồi trong môi trường nước mát (lợ,
ngọt), sạch. Với chiếc mõm hình nêm, chúng sục sạo lớp đáy bùn mềm và bắt mồi
bằng cơ quan xúc giác nhạy cảm (râu). Trong tự nhiên cá có tập tính bắt mồi ở tầng
đáy, thức ăn khoái khẩu của cá tầm là các loài động vật đáy: nhuyễn thể, cá tầng đáy,
giáp xác, ốc, giun.
Cách thức bắt mồi của cá: do cấu tạo cơ quan bắt mồi của cá nằm ở phía dưới,
miệng cá phía dưới, cá không đớp mồi mà dùng 4 râu, môi nhận biết thức ăn rồi há
miệng thật rộng và đưa miệng dài ra như cái ống, hút thức ăn vào. Cá tầm thường bắt
tìm thức ăn vào ban đêm.
Trong tự nhiên, khi còn nhỏ thành phần thức ăn chính của chúng là nhuyễn thể,
giun ít tơ, ấu trùng muỗi, ấu trùng các côn trùng và tôm tép nhỏ…. Khi cá trưởng
thành thức ăn của chúng là cá nhỏ, tôm và những động vật nhỏ trong nước….
6

Trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá có chiều dài 3,05 cm (7-10 ngày sau khi trứng
nở) cá bắt đầu ăn mồi, thức ăn chủ yếu là các côn trùng, động vật phù du như
Copepoda, Cladocera, giun ít tơ. Từ những năm 1989 công trình nghiên cứu thức ăn
cho cá thành công đã mở ra triển vọng lớn cho nghề nuôi cá tầm trên thế giới.
Đối với cá tầm mới nở cho cá ăn thức ăn tươi sống cá lớn nhanh và tỷ lệ sống
cao hơn các loại thức ăn khác (cám nhỏ và cá tạp…). Thức ăn tươi sống dùng phổ
biến hiện nay là các loại giun đốt (trùn chỉ, trùn quế). Đối với cá giống và cá trưởng

trưởng thành để phân biệt. Một số loài như cá tầm mõm ngắn (A. brevirostrum), cá
tầm Đại tây dương (A. oxyrinchus oxyrinchus) và cá tầm trắng (A. transmontanus) có
thể căn cứ hình dạng lỗ niệu sinh dục cá trưởng thành để phân biệt đực cái đạt độ
chính xác đến 82%. Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu nhằm xác định sớm giới tính
7

của cá tầm nhưng kết quả chưa thực sự chưa rõ ràng và ít có khả năng áp dụng vào
thực tế sản xuất.
Cá tầm thành thục ở giai đoạn 4-6 năm tuổi hoặc hơn nữa. Do tuổi phát dục cá
tầm rất muộn và cá đực phát dục sớm hơn cá cái một vài năm, nên việc nuôi cá bố mẹ
rất tốn kém và phải chờ đợi lâu. Khi cá bố mẹ đến tuổi thành thục đòi hỏi phải trải qua
thời gian mùa đông nhất định thì buồng trứng mới chuyển sang giai đoạn IV và cho đẻ
được. Cá đẻ không liên tục, khoảng cách giữa các lần đẻ là 1-2 năm. Trong tự nhiên,
cá có thời gian thành thục chậm hơn rất nhiều, thành thục sớm hay muộn phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố môi trường và hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn. Vào mùa đông,
nhiệt độ nước hạ xuống cũng là lúc tuyến sinh dục của cá cũng bắt đầu phát triển
mạnh. Nhiệt độ thích hợp nhất cho tuyến sinh dục của cá phát triển là 8-12
0
C.
Theo các chuyên gia Trung Quốc, cá tầm có thể thành thục trong môi trường
nước ngọt như các loài cá truyền thống khác với thời hạn ngắn hơn (5 năm). Trung
bình cá cái nặng 15-20 kg có thể cho 10-20 vạn trứng. Trong sinh sản nhân tạo năng
suất trứng bình quân là 10.000 trứng/kg cá cái, 1kg trứng có khoảng 40.000 hạt trứng.
Kích thước trứng lớn nhất 3,5mm, nhỏ nhất 2,8mm, trung bình 3,1mm. Trứng cá tầm
có hình tròn hoặc hình bầu dục, có màu xám hoặc màu xám đen. Trứng cá thành thục
là trứng có đường kính 3.1mm trở lên, có độ bóng và đàn hồi.
Ở Nga thì việc cho cá đẻ nhân tạo đã đạt được rất nhiều thành công và có ý
nghĩa rất to lớn trong quá trình khôi phục, phát triển nguồn lợi tự nhiên và nghề nuôi
cá tầm thương phẩm hàng đầu thế giới.
1.1.3. Giá trị cá tầm:

m
-
Vitamin A (IU)
-
Th
iamine (B1) ( mg)
-
Riboflavine (mg)
-
Niacin (mg)
-
Pyridoxine (mg)
-
Folic acid (mcg)
-
Vitamin B12 (mcg)
-
Calcium (mg)
-
Sắ
t (mg)
-
Magnesium (mg)
-
Potassium (mg)
-
Kẽ
m (mg)
89
3.4 g

0.08 mg
9.40 mg
0.23 mg
17.0 mcg
2.5 mcg
14.4 mg
0.8 mg
40.0 mg
322 mg
0.5 mg

Trong số các món ăn đặc sản của Nga, món được toàn thế giới biết đến nhiều
nhất có lẽ là trứng cá tầm hay Caviar. Ðược xem là món ăn đặc biệt dành cho người
giàu sang và giới quyền thế. Caviar, tiếng Anh hay Caviare, tiếng Pháp, phát xuất từ
tiếng Thổ Nhĩ Kỳ khavyar để chỉ trứng (roe) ướp muối của nhiều loại cá tầm khác
nhau. Caviar phải luôn luôn trữ ở 0
0
C. Giá lạnh sẽ làm hư cấu trúc tế bào, và nhiệt độ
cao hơn sẽ làm hỏng trứng.
9

Caviar của Nga còn phân loại tùy theo loài cá:
-
Sevruga caviar: Trứng nhỏ, hạt màu xậm, đường kính 2.5 mm mùi rất nặng.
-
Osetr caviar: Hạt màu nâu, đường kính 3mm, vị như “đậu”.
- Beluga caviar: Hạt lớn nhất 3-4 mm, màu xám nhạt, đắt giá nhất.
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng của Caviar

Thành phần dinh dưỡng

Riboflavin
40
2.9 g
0.7 g
0.7 g
64 %
94 mg
3.9 g
0.6 g
44 mg
240 mg
48 mg
1.9 mg
3.2 mcg
89.6 RE
0.1 mg
Caviar chứa khá nhiều vitamin B12, và là nguồn cũng cấp sắt và magnesium
cùng vitamin A khá tốt. Tuy nhiên vì chứa nhiều sodium, nên người huyết áp cao cần
thận trọng. Tyramine trong Caviar có thể hợp với chất ức chế MAO để gây huyết áp
tăng cao. Người bị migraine cũng không nên dùng.
Caviar ăn chung với khoai tây hấp là món ăn chính của ngư phủ vùng Caspian,
và dân đánh cá vùng này được nổi tiếng là có tuổi thọ cao nhất tại Nga.
10

1.2. Tình hình nuôi cá tầm trên Thế giới và Việt Nam: [1]
1.2.1. Tình hình nuôi cá tầm trên Thế giới:
Bắt đầu từ năm 1869, ở thành phố Simbiec trên sông Volga nay là thành phố
Ulianovscơ hai người là Ovxianhicov và Penxam lần đầu tiên đã thụ tinh nhân tạo cá
Acipencer ruthenus thành công. Năm 1870 trứng thụ tinh nhân tạo và cá bột của loài
này đã được gửi sang Scotlen. Năm 1874 chúng lại được gửi sang Đức. Điều này đánh

nhập khẩu không nhiều do thủ tục giấy tờ và vận chuyển phức tạp.
Có thể nói trước năm 2000 nghề nuôi cá tầm của Trung Quốc hoàn toàn tập
trung vào sinh sản nhân tạo sản xuất ra cá giống thả ra môi trường để bảo vệ nguồn lợi.
Ba đối tượng đặc hữu là cá tầm Trung Quốc (Psephurus gldius), cá tầm Trung Hoa (A.
sinensis) và cá tầm Dương Tủ (A. dabryanus) thuộc đối tượng bảo vệ cấp quốc gia.
Phương pháp chủ yếu là bắt cá bố mẹ ngoài bãi đẻ cho thụ tinh nhân tạo và ương lên
giống rồi thả lại tự nhiên. Việc cho đẻ nhân tạo cá tầm Trung Hoa dễ hơn 2 đối tượng
kia. Tuy vậy, mãi tới năm 2001 sinh sản nhân tạo loài cá này vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, nguyên nhân do tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột rất thấp[1].
Sau chiến tranh thế giới thứ hai nghề nuôi cá tầm được phát triển trở lại ở Liên
Xô cũ và có những bước phát triển vượt bậc. Nhưng từ năm 2000 sản lượng cá tầm
nuôi của Trung Quốc đã vượt lên đứng đầu thế giới.
Nghề nuôi cá tầm thế giới bắt đầu phát triển từ khoảng năm 1995. Sau 2-3 năm
sản lượng cá nuôi tăng lên nhanh chóng. Từ năm 2003 trở lại đây sản lượng cá tầm
tăng lên đột ngột do Trung Quốc, Chi Lê và một số nước công nghiệp phát triển như
Tây Ban Nha, Đức, Ý tham gia vào thị trường này.
Hiện nay, nước có nghề nuôi cá tầm gồm: Áo, Azerbaijan, Bỉ, Bulgaria, Chi Lê,
Estonia, Pháp, Đức, Hungary, Italia, Latvia, Ba Lan, Rumania, Slovenia, Tây Ban
Nha, Trung Quốc, Ukraine, Nga, Hoa Kỳ, Uruguay .
Các loài cá nuôi chủ yếu gồm: cá tầm trắng, cá tầm Siberi, cá Steliat, cá Beluga,
Beste, cá tầm sông Đanup, cá tầm Nga, cá tầm Ship….
1.2.2. Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam:
Các loài cá nước lạnh như cá hồi, cá tầm đã được các nước Nga, Pháp, Tây
Ban Nha, Thụy Điển, Ba Lan, Ý, Đức, Mỹ… nuôi từ rất lâu và cho nhiều kết quả khả
quan. Ở VN, thông qua đầu tư của Nhà nước, nỗ lực của các tổ chức KH-CN, các tổ
chức, cá nhân, đến nay nhóm cá tầm, cá hồi đã du nhập vào nước ta và trở thành đối
tượng nuôi mới ở nhiều vùng, góp phần tạo công ăn việc làm cho một bộ phận cư dân
miền núi.
12


Đồng và nhiều tỉnh có diện tích tiềm năng lớn như Sơn La, Yên Bái, Thái Nguyên,
Bắc Giang, Phú Thọ
13

Diện tích có thể nuôi được cá tầm ở Tây Nguyên rất lớn, đặc biệt nuôi tại các hồ
chứa với khoảng 54.000ha. Trong khi đó, diện tích thích hợp để nuôi cá hồi ở Tây
Nguyên chỉ khoảng 250ha. Đây chính là tiềm năng của Tây Nguyên nếu phát triển
nuôi cá tầm, có thể nuôi thương phẩm hoặc nuôi để lấy trứng.
Trên thực tế hiện nay, không chỉ ở các tỉnh vùng cao phía Bắc có nhiệt độ lạnh
quanh năm hay các tỉnh Tây Nguyên mà ngay cả một số vùng như Thanh Hóa, Nghệ
An, Thừa Thiên Huế… hay thậm chí các tỉnh Duyên hải miền Trung đều có những
vùng có khí hậu thích hợp với nuôi cá tầm, ví như: Trên hồ Đa Mi, tỉnh Bình Thuận,
Cty cá tầm Việt Nam và Cty cổ phần cá tầm long Đạ Mi đã đầu tư nuôi cá tầm rất
thành công trong 30 lồng với 23.000 con trên diện tích 30ha.
Tháng 11-2011 thành lập cơ sở nuôi trồng thứ 5 tại tỉnh Đắk Lắk, được đánh giá
là trại nuôi Cá tầm có quy mô lớn nhất khu vực Đông Nam Á.
Đối với lĩnh vực nghiên cứu và du nhập nuôi các loài cá nước lạnh, từ năm
2002, Nhà nước đã sớm quan tâm, đầu tư nghiên cứu, nhập công nghệ phục vụ phát
triển nuôi cá tầm, đã có hàng loạt dự án nhập công nghệ, đề tài nghiên cứu về sản xuất
giống và nuôi thương phẩm cá tầm được phê duyệt. Đến nay đã xây dựng đàn cá phục
vụ nghiên cứu sinh sản nhân tạo, nuôi lấy trứng và đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đã
bước đầu làm chủ công nghệ ương cá giống, nuôi thương phẩm cá tầm. Đến nay đã
bước đầu làm chủ công nghệ ương cá giống, nuôi thương phẩm, tuy nhiên kết quả
chưa ổn định, chưa làm chủ công nghệ sinh sản nhân tạo, sản xuất trứng.
Thông qua đầu tư của Nhà nước, tư nhân và với sự hỗ trợ của các tổ chức,
chuyên gia quốc tế, đến nay Việt Nam đã nhập được cá tầm Siberi, cá tầm Trung Hoa,
cá tầm Nga (A.gueldenstaedtii), cá tầm Đức (hay cá tầm Beluga) (Huso huso), cá tầm
lai (lai giữa 2 loài A.ruthenus x Huso huso).
Trong lĩnh vực nghiên cứu, lưu giữ và sản xuất giống nhân tạo, hiện nay, Viện
Nghiên cứu NTTS-1 đang lưu giữ khoảng 60 cặp cá tầm Siberi bố mẹ (Khối lượng

chủ yếu của cá là động vật đáy như giáp xác, giun, ấu trùng côn trùng, nhuyễn thể. Cá
có tuổi thọ từ 22-25 năm. Tuổi thành thục của cá cái từ 3-7 năm và cá đực từ 5-12
năm. Sức sinh sản từ 15000-44000 trứng/cá mẹ. Thời gian sinh sản từ giữa tháng 4 đến
đầu tháng 6 khi nhiệt độ nước dao động từ 12-17
0
C. Cá tầm Sterlet được dùng để tạo
con lai như:
 Sterlet x Beluga
 Sterlet x Siberian
 Sterlet x Diamondback
 Cá tầm Nga
Tên khoa học: Acipenser gueldenstaedtii Brandt, 1833
15

Tên tiếng Anh: Russian Sturgeon
Cá tầm Nga phân bố chủ yếu ở Azerbaijan, Bulgaria, Georgia, Iran,
Kazakhstan, Romania, Nga, Thổ Nhĩ kỳ và Ukraine. Cá có mõm ngắn, tù, râu tròn
nằm gần cuối mõm, môi dưới bị gián đọan. Cá ở sông Volga đi vào sông từ tháng 3
sau khi băng tan và bắt đầu quá trình di cư kéo dài đến tháng 11. Cá đực ở sông Volga
thành thục từ 8-14 tuổi, cá cái từ 10-15 tuổi. Loài cá này có thể lớn cỡ 190 cm nặng 23
kg. Cá tầm Nga không thể sinh sản và thành thục sớm nên trong tự nhiên quần đàn của
chúng rất nhỏ, được xếp vào sách đỏ thế giới ở mức báo động đỏ.
 Cá tầm Siberi
Tên khoa học: Acipenser baerii Brandt, 1833
Tên tiếng Anh: Siberian Sturgeon
Loài này diện khắp các lưu vực sông lớn Xibia chảy hướng bắc vào biển Kara,
biển Laptev và biển Đông Xibia, bao gồm sông Ob, sông Yenisei (cấp nước cho hồ
Baikal qua sông Angara) sông Lena và sông Kolyma. Nó cũng được tìm thấy ở
Kazakhstan và Trung Quốc ở sông Irtysh một nhánh chính của sông Ob. Cá tầm Siberi
cá tầm thường nặng khoảng 65 kg và có sự khác nhau về kích thước giữa các vùng

1.2.3. Nuôi cá tầm ở Lâm Đồng:
Năm 2003-2004, Viện NCNTTS-1 thông qua dự án hợp tác quốc tế với Phần
Lan đã đưa được trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử tại Sapa thành công.
Năm 2005, một số giống cá đã chuyển vào nuôi ở Đà Lạt thành công, đó là cơ sở để
các doanh nghiệp mở rộng qui mô. Năm 2007-2008, công ty cá tầm Việt Nam đã sản
xuất được gần 100 tấn cá tầm tại hồ Tuyền Lâm và Đa Nhim, Lâm Đồng, đem lại
nguồn thu đáng kể.
Thực hiện quyết định 1045/QĐ- UBND ngày 22/3/2006 của UBND tỉnh Lâm
Đồng về việc “Phê duyệt đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lâm
Đồng”, mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là tận dụng những vùng có khí hậu lạnh để nuôi
cá, đồng thời tạo môi trường thuận lợi nhất để thu hút vốn đầu tư, từ đó đẩy mạnh phát
triển kinh tế của vùng và phát triển du lịch-dịch vụ. Với mục tiêu và nhiệm vụ của đề
án được UBND tỉnh giao, từ tháng 4/2006 đến nay, sở NN & PTNT Lâm Đồng đã chủ
trì phối hợp với Viện NCNTTS-1, trạm nghiên cứu thực nghiêm Quảng Hiệp- Đức
Trọng thuộc Viện NCNTTS-3 và các công ty TNHH SX TM và DV Hoàng Phố
TP.HCM, công ty cổ phần Hà Quang Tp.HCM đã triển khai thực hiện các nội dung đề
án được duyệt, sau 2 năm thực hiện đề án nuôi cá nước lạnh có kết quả như sau:
Nuôi lồng bè trên hồ Tuyền Lâm –TP. Đà Lạt, gồm 2 đợt vận chuyển từ Sapa
và Hải Dương về Hồ Tuyền Lâm với số lượng 20 cá tầm Nga với khối lượng 1,4-
2,5kg, được nuôi trong 1 lồng. Với điều kiện sinh thái phù hợp, khả năng thích nghi và
sinh trưởng nhanh, bình quân tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt, tăng 400-
600g/tháng, có con đạt 700-1.000g/tháng. Hiện nay khối lượng bình quân đạt
14,5kg/con, cá lớn có con đạt 20kg/con.
17

Khu ao nuôi cá nước chảy tại tiểu khu 91, thôn Klong Klanh, xã Đạ Chais,
huyện Lạc Dương nằm trong thượng nguồn suối nước lạnh Đa Mưng. Tổng diện tích
nuôi thử nghiệm 3 ha, với 4 dãy gồm 27 ao, một khu ương cá bột lên cá giống 1200m
2
.

Trích đoạn Bệnh dovi khuẩn: Bệnh do virus: Bệnh do ký sinh trùng: Bệnh xuất huyết, lở loét:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status