nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa (nerita balteata reeve, 1855) tại quảng ninh - Pdf 25

i

MỤC LỤC

1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
1.1 Tình hình nghiên cứu về ĐVTM trên thế giới và ở Việt Nam 1
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 2
1.2 Tình hình nghiên cứu ốc đĩa trên thế giới và Việt Nam 3
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.2.1.1 Nghiên cứu hệ thống phân loại 4
1.2.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.2.1.3 Đặc điểm phân bố 5
1.2.1.4 Đặc điểm sinh sản 6
1.2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 7
1.2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 7
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu động vật thân mềm ở tỉnh Quảng Ninh 7
1.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi ĐVTM ở Quảng Ninh 9
1.3.1 Sản xuất giống động vật thân mềm 9
1.3.2 Nuôi thương phẩm ĐVTM 10
1.3.2.1 Hình thức nuôi ĐVTM bằng giàn bè, lồng treo 11
1.3.2.2 Hình thức nuôi ĐVTM trên bãi triều 14
1.3.2.3 Tình hình dịch bệnh trên ĐVTM tại Quảng Ninh 15
1.3.2.4 Thị trường tiêu thụ ĐVTM 16
1.3.3 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ninh 17
1.3.3.1 Vị trí địa lý 17
1.3.3.2 Địa hình 17
1.3.3.3 Khí hậu 18
2 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20

5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
6 PHỤ LỤC 48 iii

DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Hình dạng cấu tạo ngoài của ốc đĩa N. balteata 5
Hình 2: Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh 18
Hình 3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20
Hình 4: Địa điểm thu mẫu ốc đĩa tại Quảng Ninh 21
Hình 5: Mối tương quan giữa chiều cao và khối lượng thân của ốc đĩa 30
Hình 6: Mối tương quan giữa chiều cao và khối lượng thân mềm ốc đĩa 30
Hình 7: Cơ quan sinh dục của ốc đĩa đực (A) và cái (B) 31
Hình 8: Tỷ lệ đực cái theo phân nhóm kích thước 33
Hình 9: Tổ chức học tế bào sinh dục của ốc đĩa giai đoạn I (100x) 35
Hình 10: Tổ chức học tế bào sinh dục của ốc đĩa giai đoạn II. 35
Hình 11: Tổ chức học tế bào sinh dục của ốc đĩa giai đoạn III (100x) 36
Hình 12: Tổ chức học tế bào sinh dục của ốc đĩa giai đoạn IV (100x) 36
Hình 13: Tổ chức học tế bào sinh dục của ốc đĩa giai đoạn IV (100x) 37
Hình 14: Hệ số thành thục sinh dục của ốc đĩa đực 37
Hình 15: Hệ số thành thục sinh dục của ốc đĩa cái 38
Hình 16: Trứng ốc đĩa trên mẫu soi tươi (100x) 40
Hình 17: Kích thước thành thục lần đầu của ốc đĩa 42

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Số lượng giống ĐVTM giai đoạn 2005 – 2010 [17] 9
Bảng 2: Các loài ĐVTM chủ yếu được nuôi tại Quảng Ninh [17] 11
Bảng 3: Diện tích, sản lượng nuôi bãi triều từ năm 2004 – 2011 [17] 15
Bảng 4: Các chỉ tiêu kích thước của ốc đĩa trong thời gian nghiên cứu 27
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu về ĐVTM trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Thái Trần Bái (2001), ngành động vật thân mềm có số lượng loài rất
lớn (khoảng 130.000 loài) và có khu vực phân bố rộng trong các môi trường
sống khác nhau nên có tính đa dạng rất cao. Trong đó, lớp chân bụng là lớp lớn
nhất trong ngành động vật thân mềm, bao gồm khoảng 35.000 loài. Đa số các
loài thuộc lớp chân bụng đều có giá trị kinh tế cao [1]. Hiện nay, trên thế giới
đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các loài thuộc lớp chân bụng
này. Một số nghiên cứu thành công tiêu biểu để làm cơ sở cho các nghiên cứu
về ốc đĩa như: ốc hương Babylonia areolata, ốc nhảy Strombus canarium
Nateewathana (1995) đã nghiên cứu về sự phân bố của ốc hương B.
areolata trên thế giới. Kết quả cho thấy loài này có khu vực phân bố chủ yếu ở
vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương như: SriLanka, Trung Quốc, Hồng Kông,
Philippines, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Nam. Ốc hương B. areolata sống trong
những vùng nước sâu từ 5 – 20 m, nền đáy là cát hoặc cát bùn pha lẫn vỏ động
vật thân mềm [22]. Raghunathan và CTV (1994) đã có nghiên cứu về tốc độ sinh
trưởng của ốc hương, sau 10 tháng nghiên cứu trên loài ốc hương Babylonia
spirata đã cho thấy sự sinh trưởng của loài này thấp hơn so với một số loài chân

50 con/l cho tỷ lệ sống của ấu trùng là cao nhất 97,7%. Nghiên cứu của Zaidi và
CTV (2005) cho biết, mùa vụ sinh sản của ốc nhảy ở Indonesia tập trung vào
khoảng từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 3 năm sau [30].
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về các đối tượng trong lớp chân bụng thuộc ngành
động vật thân mềm vẫn còn là những nghiên cứu mới mẻ do có rất ít công trình
nghiên cứu. Một số đối tượng đã được nghiên cứu như ốc hương, ốc nhảy, bào
ngư Những nghiên cứu đầu tiên về động vật chân bụng là những khảo sát về
thành phần loài sinh vật đáy ở một số đầm vịnh và vùng ven biển Việt Nam,
trong đó có động vật thân mềm và đặc biệt là ốc hương [2]. Theo Nguyễn Chính
(1996), ốc hương là những loài có vỏ mỏng nhưng chắc chắn, dạng bậc thang
với tháp vỏ bằng 1/2 chiều cao vỏ. Trên vỏ có các phiến vân màu tím nâu hình
chữ nhật hay hình thoi [2].
3 Nguyễn Thị Xuân Thu và CTV (2000) đã nghiên cứu thành công về đặc
điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm ốc hương
B. areolata. Đây được coi là nghiên cứu toàn diện nhất về ốc hương ở Việt Nam
và cũng là nghiên cứu thành công đầu tiên trên thế giới về nuôi ốc hương xuất
khẩu từ nguồn giống nhân tạo [14]. Ốc hương có khả năng thành thục quanh
năm, trong đó tập trung vào tháng 3 – 10 với tỷ lệ thành thục đạt 60 – 90%.
Trong điều kiện nhân tạo mỗi con cái đẻ khoảng 18 – 75 bọc trứng/lần đẻ (trung
bình 38 bọc) và mỗi bọc chứa khoảng 168 – 1.849 trứng (trung bình khoảng 743
trứng) [15].
Dương Văn Hiệp và CTV (2006) đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo ốc nhảy
S. canarium. Tuy nhiên do đối tượng này được tiến hành thí nghiệm khi các đặc
điểm sinh học chưa được nghiên cứu, cơ sở vật chất hạn chế. Vì vậy kết quả thí
nghiệm chưa thực sự thành công, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về đối tượng
này [4].

như sau [20]:
Ngành: Mollusca
Lớp: Gastropoda
Bộ: Archaeogastropoda
Họ: Neritidae
Giống: Nerita
Loài: Nerita balteata Reeve, 1855
1.2.1.2 Đặc điểm hình thái
Ốc đĩa có các đặc điểm hình thái cũng giống như các đặc điểm chung của
các loài trong lớp chân bụng Gastropoda.
Vỏ: tất cả các loài ốc trong họ Neritidae đều có kích thước nhỏ hoặc trung
bình (15-40mm). Vỏ dày chắc chắn, màu nâu đen, cấu tạo bằng đá vôi-là bộ phận
bảo vệ cho khối thân mềm bên trong. Mặt trong của vỏ ốc đĩa có màu vàng nhạt,
có 22 – 28 đường xoắn ốc trên vỏ. Các đường xoắn ốc trên vỏ thưa và ngắn hơn so
với các đường xoắn ốc trên miệng vỏ. Ốc đĩa là loài có đỉnh vỏ tù, mép trong
miệng vỏ có 3 -5 răng cưa, mép ngoài có 18 – 19 răng cưa [19].
Đầu: lớp Gastropoda nói chung và ốc đĩa nói riêng có bộ phận đầu rất phát
triển nằm ở phía trước cơ thể, có dạng hình ống tròn. Đầu có một đôi xúc tu, vị
trí mắt nằm ở gốc của đôi xúc tu.
5
Hình 1: Hình dạng cấu tạo ngoài của ốc đĩa N. balteata

tại vùng rừng ngập mặn và các bãi đá, bờ kênh vùng nước lợ [28].
Riêng loài N. balteata được xác định có phân bố nhiều ở xung quanh các
gốc cây trong vùng rừng ngập mặn tại các vùng triều cửa sông, đầm, phá, đặc
biệt hơn chúng phân bố với mật độ cao tại các bờ kè, ghềnh đá trong các kênh
mương, bờ đê của các vùng biển nhiệt đới.
1.2.1.4 Đặc điểm sinh sản
Theo Tan và Chou (2000), tất cả các loài trong họ ốc đĩa đều là những loài
thụ tinh trong, trứng trước khi đẻ được đi qua một hệ thống phức tạp có tác dụng
đóng gói tạo thành các bọc, nhờ đó trứng đẻ ra được nằm trong bọc trứng bám
trên vật bám. Tuy nhiên, đặc điểm sinh sản của các loài ốc khác nhau là khác
nhau, chúng phụ thuộc vào đặc điểm của cơ quan sinh dục như: cơ quan dữ trữ
tinh trùng của con cái và cấu tạo cơ quan sinh sản của con đực [27].
Trong số 6 loài ốc được nghiên cứu tại Singapore, bọc trứng của ốc đĩa N.
balteata có kích thước khá lớn với đường kính lên tới 4mm và chiều cao là
500µm. Bọc trứng được đẻ dính vào các hốc trên vỏ các loại cây rừng ngập mặn,
vì vậy chúng nằm ngang bằng với bề mặt của nền đáy. Bề mặt ngoài của bọc
trứng được bao bọc bởi các tinh thể hình cầu và chia thành 2 nhóm có kích thước
riêng biệt. Đối với nhóm có kích thước đường kính nhỏ (10 - 20μm) các tinh thể
có dạng hình cầu lõm, bề mặt mịn. Còn đối với nhóm có kích thước lớn (30 -
70μm) các tinh thể có dạng hình cầu dẹt, sáu cạnh và rắn.
Trong mỗi bọc trứng của ốc đĩa trùng bình có 154 phôi, chiếm số lượng lớn
nhất trong số các loài ốc thuộc giống Nerita phân bố tại Singapore [28]. Tuy
nhiên, số lượng phôi trong mỗi bọc trứng khác nhau tùy theo loài. Các phôi này
bám vào các khoang màng mỏng bên trong của bọc trứng và dễ dàng rời ra khi
7 nó chuẩn bị thoát ra khỏi bọc trứng dưới tác động của áp suất bên trong bọc
trứng. Áp suất này gây ra do sự làm phồng hai lớp màng mỏng trong suốt ở mặt
trong của vỏ và khung bọc trứng.


khai đề tài: Nuôi thử nghiệm bào ngư (Haliotis diversicolor Reeve, 1846), vẹm
xanh (Perna viridis Linnaeus, 1758) và tu hài (Lutraria rhynchaena Jonas, 1844)
thương phẩm tại tại huyện Vân Đồn - Quảng Ninh [17].
Ốc hương cũng là đối tượng phân bố tự nhiên ở huyện Vân Đồn - Quảng
Ninh nhưng số lượng ít. Từ sự thành công của công nghệ sản xuất giống nhân tạo
ốc hương của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III, Trung tâm hỗ trợ phát
triển nuôi thuỷ sản Vân Đồn đã thực hiện dự án: Nuôi thử nghiệm ốc hương
(Babylonia areolata Link, 1807) thương phẩm bằng lồng chìm tại huyện Vân
Đồn - Quảng Ninh vào năm 2005.
Điệp Texas được nhập từ Mỹ vào Trung Quốc năm 1982, với những đặc tính
ưu việt như tăng trưởng nhanh, tỷ lệ cơ khép vỏ cao, đã phát triển mạnh mẽ và trở
thành một đối tượng nuôi quan trọng của Trung Quốc đặc biệt là Sơn Đông và
Liễu Ninh. Ngư dân vùng Quảng Ninh - Hải Phòng đã di nhập điệp Texas về nuôi
thử tại vùng biển vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long. Đây là một loài hải sản có tiềm
năng kinh tế nên Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã triển khai đề tài:
Nghiên cứu ứng dụng hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm
điệp (Argopecten irradians Lamarck, 1819) tại vịnh Hạ Long.
Năm 2006, Dương Văn Hiệp đã khảo sát, tìm hiểu đặc điểm sinh học của ốc
nhảy phân bố tại các bãi cỏ biển ở huyện Vân Đồn - Quảng Ninh và đã thành
công khi thử nghiệm cho ốc nhảy sinh sản nhân tạo. Trung tâm khoa học kỹ thuật
và sản xuất giống thuỷ sản Quảng Ninh đã thực hiện đề tài cấp tỉnh và đề tài
nhánh cấp bộ: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất giống
ốc nhảy (Strombus canarium Linnaeus, 1758) năm 2007 – 2008; Nghiên cứu xây
dựng quy trình sản xuất giống và nuôi nhân tạo ốc nhảy (Strombus canarium
Linnaeus, 1758) năm 2008 - 2009.
Từ thành công của mô hình nuôi tu hài thương phầm tại xã Bản Sen - Vân
Đồn do hợp phần SUMA hỗ trợ và Trung tâm Khuyến ngư Quảng Ninh thực
hiện năm 2003, đến nay nghề nuôi tu hài ở huyện Vân Đồn phát triển rất mạnh
với hàng trăm hộ dân và các công ty nuôi tu hài thương phẩm. Để đáp ứng được

Năm
Lượng giống (triệu con)
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Nuôi lồng, giàn bè
120
150
290
360
662
700
900
Nuôi bãi triều
165
190
280
310
300
300
350
Tổng
285
340
570
670

nghệ chưa ổn định, chủ yếu tận dụng trại sản xuất tôm giống hay thiết kế như trại
sản xuất tôm giống để sản xuất giống ĐVTM, chưa phù hợp với qui trình kỹ
thuật sản xuất giống ĐVTM.
1.3.2 Nuôi thương phẩm ĐVTM
Nghề nuôi ĐVTM ở Quảng Ninh đã có từ lâu, nhưng chỉ thực sự phát triển
mạnh mẽ từ năm 2006 cùng với sự phát triển nuôi tu hài và hầu Thái Bình Dương
11 trên vịnh Bái Tử Long. Đối tượng nuôi chủ yếu hiện nay ở Quảng Ninh là trai
ngọc, tu hài, hầu Thái Bình Dương, ngao dầu, nghêu Bến Tre và sò huyết…
Ngoài ra, ngư dân còn đầu tư phát triển nuôi một số loài có giá trị kinh tế cao
như: vẹm xanh, điệp quạt, ốc hương, ốc nhảy.
Bảng 2: Các loài ĐVTM chủ yếu được nuôi tại Quảng Ninh [17]
TT
Tên loài
Tên khoa học
Tên tiếng Anh
1
Trai mã thị
Pinctada martensii Dunker, 1857
Japanese Pearl Oyster
2
Trai môi vàng
Pinctada maxima Jameson, 1901
Yellow Lip Pearl Shell
3
Tu hài
Lutraria rhynchaema Jonas, 1844
Snout Otter Clam

Strombus canarium Linné, 1758
Dog conch
Các loài ĐVTM đang được nuôi phổ biển tại Quảng Ninh, chủ yếu được
nuôi theo hai hình thức :
(1) Hình thức thứ nhất: Nuôi ĐVTM theo kiểu giàn bè, lồng treo.
Các đối tượng nuôi: Trai ngọc, vẹm xanh, ốc hương, tu hài, hầu, điệp.
Các vùng nuôi: Chủ yếu là nuôi trên biển, các vũng, vịnh kín sóng gió.
(2) Hình thức nuôi thứ hai: Nuôi bãi triều (Ít áp dụng vì khó quản lý)
Các đối tượng nuôi: Ngao, sò, nghêu, (tu hài), ốc nhảy.
Các vùng nuôi: Chủ yếu là các bãi triều ven biển và các bãi triều
1.3.2.1 Hình thức nuôi ĐVTM bằng giàn bè, lồng treo
Nuôi ĐVTM bằng lồng, giàn bè trên biển là hình thức nuôi phức tạp và đòi
hỏi trình độ kỹ thuật cao hơn so với nuôi ở bãi triều, đặc biệt là nghề nuôi trai cấy
ngọc. Đối tượng nuôi chủ yếu của hình thức này là trai ngọc Mã Thị, vẹm xanh,
tu hài, hầu, điệp, ốc hương.
 Nuôi trai ngọc
Năm 2003 toàn tỉnh Quảng Ninh có 10 Công ty, Xí nghiệp nuôi Trai cấy
ngọc. Tập trung chủ yếu ở vùng biển Vân Đồn và vùng biển Hạ Long, trong đó
12 có tới 7 công ty nuôi trai ở vùng biển Vân Đồn còn lại 3 công ty nuôi trai ở vùng
biển Hạ Long. Công ty TNHH Ngọc trai Phương Đông và Công ty TNHH Ngọc
trai TAIHEIYO SHINJU Việt Nam là 2 công ty có 100% vốn nước ngoài. Công
ty Liên doanh ngọc Hạ Long có 80% vốn đầu tư nước ngoài, còn lại là các công
ty Việt Nam hoạt động bằng nguồn vốn tự có. Tổng diện tích mặt nước nuôi trai
cấy ngọc trên toàn Tỉnh năm 2005 là 400 ha. Số trai nguyên liệu là 55 triệu con/năm.
Số trai cấy ngọc là 17,5 triệu con/năm. Số ngọc thu hoạch là 952 kg [17].
Nguồn Trai giống cung cấp cho tất cả các Công ty, Xí nghiệp chủ yếu là
nguồn trai giống được nhập về từ Trung Quốc, một số lượng nhỏ được sản xuất

như Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Kết quả nghiên cứu bước đầu
của Công ty khi đưa vào nuôi thử nghiệm cho thấy điệp quạt là loài dễ nuôi, tốc độ
tăng trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn, một năm có thể nuôi hai vụ, vốn đầu tư
không cao, vật liệu làm giàn bè sẵn có, điều kiện môi trường phù hợp. Năm 2006,
Công ty đã đầu tư mở rộng diện tích nuôi lên 50 ha. Điệp quạt là đối tượng có khả
năng phát triển trở thành nghề sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
 Nuôi hầu Thái Bình Dương
Hầu Thái Bình Dương (TBD) (C. gigas) có nguồn gốc từ Nhật Bản, có tốc độ
sinh trưởng nhanh, khả năng phân bố rộng.
Năm 2006, Công ty đầu tư và phát triển Hạ Long kết hợp với Công ty Khoa
học kỹ thuật thuỷ sản Pauchen Đài Loan và chuyên gia Cục thực phẩm và dược
phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã khảo sát một số khu vực tại vùng vịnh Bái Tử Long -
Quảng Ninh. Kết quả khảo sát đã xác định vùng này có đủ điều kiện thuận lợi để
phát triển nuôi hầu TBD đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu vào các thị trường quan trọng như Mỹ và EU. Công ty Đầu tư Phát triển Hạ
Long đã nhập giống hầu từ Đài Loan về nuôi thăm dò tại Vịnh Bái Tử Long.
Năm 2007, Xí Nghiệp Hải Minh và Công ty Đầu tư Phát triển Hạ Long đã
nuôi 100 ha hầu TBD thương phẩm ở Vịnh Bái Tử Long - Vân Đồn và tiếp tục xây
dựng dự án mở rộng nuôi hầu TBD. Đến hết tháng 6 năm 2009, toàn Tỉnh đã thả
nuôi 220 ha và đang xây dựng 700 ha để đưa vào nuôi trong thời gian tới. Ước tính
có khoảng 500 tấn hầu thương phẩm đang được nuôi tại Quảng Ninh [17].
 Nuôi ốc hương
Nghề nuôi ốc hương đang phát triển nhanh tại khu vực miền Trung đặc biệt
là Khánh Hoà. Đầu năm 2005 Trung tâm Hỗ trợ phát triển thuỷ sản Vân Đồn
14 triển khai thực hiện dự án nuôi thử nghiệm ốc hương thương phẩm bằng lồng tại
đảo Hang Hoi - Vân Đồn. Tổng số có 6 ô lồng (dài 5m x rộng 2,5 m x cao 0,6 m)
với tổng diện tích 75 m
3.500 ha [17]. Cùng với sự phát triển mạnh về diện tích nuôi thì các mô hình
nuôi cũng được cải thiện về mặt kỹ thuật và từ đó sản lượng nuôi cũng không
ngừng tăng lên.
Bảng 3: Diện tích, sản lượng nuôi bãi triều từ năm 2004 – 2011 [17]
Nội dung
Năm 2004
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Diện tích (ha)
1.300
2.449
2.850
3.245
3.500
Sản lượng (tấn)
1.980
4.180
5.500
6.255
6.800

 Nuôi ngao, nghêu, sò
Ngao, nghêu, sò là các đối tượng đã được nuôi ở 10 huyện thị trong Tỉnh
nhưng chủ yếu tập trung ở Đầm Hà, Hải Hà và Hạ Long. Diện tích và sản lượng
nuôi chính là diện tích và sản lượng nuôi chương bãi. Năm 2008, toàn Tỉnh đã thả
nuôi 300 triệu giống trên diện tích nuôi 2.449 ha, số hộ nuôi năm 2008 là 617 hộ.

Năm 2012, nghề nuôi tu hài tại Quảng Ninh đã xảy ra hiện tượng tu hài nuôi
chết hàng loạt làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng của người dân, vùng nuôi bị thiệt hại
nặng nhất là huyện Vân Đồn với trên 90% số hộ nuôi, thiệt hại ước tính trên 70%
lượng giống thả, nguyên nhân chính được xác định là mật độ nuôi dày kèm theo đó
là chất lượng con giống thấp và sự có mặt của tác nhân gây bệnh là nội ký sinh
Perkinsus spp.
1.3.2.4 Thị trường tiêu thụ ĐVTM
Hầu hết các sản phẩm ĐVTM tại Quảng Ninh phần lớn đều được xuất khẩu
sang Trung Quốc và một phần nhỏ là tiêu thụ nội địa. Ngọc trai chủ yếu được
đưa về Nhật chế tác. Chỉ có duy nhất Công ty Taiheiyo Shinju Việt Nam mang
thương hiệu Quảng Ninh xuất khẩu ngọc trai sang Nhật Bản thông qua sự kiểm
duyệt của Hiệp hội xuất nhập khẩu ngọc trai Nhật Bản.
Với các loại thực phẩm như ngao, nghêu, sò phần lớn được xuất khẩu sang
Trung Quốc. Năm 2008 tổng sản lượng thu hoạch tu hài thương phẩm trên toàn
huyện Vân Đồn đạt khoảng 800 tấn thương phẩm nhưng vì đầu ra không ổn định
nên giá tu hài đã giảm nhiều so với những năm trước, chỉ còn 120.000 – 140.000
đ/kg và chủ yếu được tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc [17].
Như vậy, sản lượng ĐVTM nuôi thương phẩm tại Quảng Ninh chủ yếu
được tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc, chưa xuất khẩu được sang
các thị trường khó tính như Mỹ và Châu Âu.
17 1.3.3 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ninh
1.3.3.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, phía Tây giáp
tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam
giáp tỉnh Hải Dương và Thành Phố Hải Phòng, phía bắc giáp huyện Phòng Thành
và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đây là một trọng điểm
kinh tế vùng phía Bắc, hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã

hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Một năm có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Trong đó mùa Hạ và mùa Đông có nét đặc biệt hơn cả. Mùa hạ nóng, ẩm, mưa
nhiều, gió thịnh hành là gió Đông Nam. Mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa, chủ
yếu là gió Đông Bắc.
19 Lượng mưa hàng năm trong Tỉnh lên tới 1.700 – 2.400 mm, số ngày mưa
hàng năm từ 90 - 170 ngày. Do nằm trong vùng nhiệt đới, Quảng Ninh có
lượng bức xạ trung bình hàng năm 115,4 kcal/cm
2
nhiệt độ không khí trung
bình hàng năm trên 22,9
o
C. Độ ẩm không khí trung bình năm 82%. Tuy nhiên
lượng mưa chỉ tập trung vào mùa Hạ (hơn 85%), nhất là các tháng 7 và tháng
8, trong khi đó vào mùa đông lượng mưa chỉ khoảng 150 đến 400 mm. Diện
tích tỉnh Quảng Ninh lớn lại có nhiều vùng địa hình nên khí hậu giữa các vùng
cũng có sự khác nhau. Tỉnh Quảng Ninh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc mạnh hơn, nên so với các nơi cùng vĩ độ thì thường lạnh hơn 1-3
o
C.

20 2 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855) tại Quảng Ninh
Phân biệt
đực cái, tỷ
lệ đực : cái

Sức sinh sản,
mùa vụ sinh
sản
Kích thước
thành thục
sinh dục lần
đầu
Phát triển
tuyến sinh dục,
tỷ lệ thành thục
sinh dục
Kết luận và đề xuất ý kiến
Các chỉ tiêu
kích thước
và khối
lượng

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status