Luận văn thạc sỹ: Hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng hoạt động kho hàng dược phẩm tại công ty Diethelm Việt Nam - Pdf 25


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuỗi cung ứng trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ gần hai thập kỷ
năm nay nhưng còn khá mới mẻ ở Việt Nam, chỉ có một số ít tập đoàn lớn ở
Việt Nam áp dụng mô hình SCM vào hoạt động kinh doanh của mình. Đề tài
nghiên cứu chuỗi cung ứng cũng đã bắt đầu được chính thức đưa vào chương
trình giảng dạy tại một số trường đại học tại Việt Nam. Ngoài ra còn phải kể
đến một số ít các chương trình đào tạo ngắn hạn của nước ngoài giới thiệu
khái quát về chuỗi cung ứng cũng như chuyên môn nghiệp vụ dành cho nhà
quản trị chuỗi cung ứng.
Trong hoạt động dịch vụ kho hàng - đặc biệt là kho hàng dược phẩm,
việc ứng dụng các kiến thức và kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng nhằm tối
ưu hóa vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm
xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ,
đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí hợp lý, thời gian tối ưu là một
điều mới, lý thú và thử thách đối với các doanh nghiệp - đặc biệt là doanh
nghiệp phân phối dược phẩm.
Phần lớn các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về Quản trị chuỗi cung
ứng đều hiểu rõ và thống nhất về những thành tố cơ bản tạo nên một chuỗi
cung ứng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều nhà quản lý lại không hoàn toàn
hiểu quản trị chuỗi cung ứng mang đến lợi ích gì cũng như không đánh giá
cao những lợi thế cạnh tranh mà một chuỗi cung ứng được quản lý tốt đem lại.
Làm thế nào để thực hiện chức năng SCM tốt và phù hợp trong bối cảnh toàn
cầu hoá nền kinh tế? Và ưu tiên nào sẽ được áp dụng để tăng cường năng lực
của chuỗi cung ứng tại doanh nghiệp trong thời kỳ mở ra những cơ hội mới
nhưng cũng đặt ra những thách thức mới? Đây là câu hỏi được đặt ra cho các

1

nhà quản trị chuỗi cung ứng cũng như những người nghiên cứu có quan tâm

tại Trung tâm phân phối dược phẩm Bình Dương của Công ty Diethelm Việt
Nam, đồng thời có sự so sánh tương quan với kho hàng dược phẩm Sanofi
Pharma và Kho hàng Diethelm Philippines để minh họa cho các kết luận của
đề tài. Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp, tài liệu từ năm 2005 đến 2009
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát, thu thập, tổng hợp, phân tích các dữ liệu thứ
cấp tại Kho hàng dược phẩm Công ty Diethelm Việt nam từ năm 2005 - 2008;
Phân tích quá trình quản lý kho trong đó có thể hiện được các mối liên
hệ, nội dung và kết cấu được biểu hiện bằng những thông tin, số liệu diễn ra
hằng ngày đã được ghi nhận, thống kê, tìm ra sự tác động của các quy luật
kinh tế khách quan, phản ánh bản chất của quá trình quản lý kho hàng dược
phẩm để từ đó nhận thức và cải tạo cho phù hợp với thực tế khách quan và
mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu.
Phương pháp so sánh:
Đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có
cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác định xu hướng mức độ biến
động của chỉ tiêu. Nó cho phép chúng ta tổng hợp được những đặc điểm
chung, xác định được những đặc điểm riêng của các hiện tượng được so sánh,
từ đó đánh giá được các lợi thế hay bất lợi, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm
ra các giải pháp quản lý tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể. Những vấn đề cơ
bản cần chú ý khi so sánh đó là: xác định số gốc để so sánh, xác định điều
kiện so sánh, mục tiêu so sánh.
5. Đóng góp của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu vai trò quan trọng của quản trị
chuỗi cung ứng trong kho hàng dược phẩm nói riêng và đối với tiến trình hội
nhập của nền kinh tế Việt nam nói chung.

3

Nghiên cứu kinh nghiệm SCM của kho hàng dược phẩm ở các nước

1.1.1. Khái niệm chuỗi cung ứng
Có nhiều định nghĩa về Chuỗi cung ứng, tại cuốn The Triple A –
Supply Chain, tác giả Dr. Hau Lee định nghĩa rằng “Chuỗi cung ứng gồm các
nhà cung cấp, các, nhà sản xuất, các nhà phân phối, người bán lẻ và người
tiêu dùng trong mối quan hệ đa chiều thông qua việc vận chuyển, cung cấp
thông tin và cấu trúc tài chính. Mục tiêu của chuỗi cung ứng là đem lại giá trị
về sản phẩm, dịch vụ cho người sử dụng cuối cùng cũng như lợi nhuận cho
mỗi thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng”
GS. J Souviron định nghĩa chuỗi cung ứng trong cuốn Supply Chain
Management: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên
quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình
và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ
trong tay người tiêu dùng cuối cùng. Năng lực của các thành viên trong chuỗi
cung cấp được sắp xếp nhằm mục đích tạo ra giá trị lớn hơn cho người sử
dụng, với chi phí thấp hơn cho toàn bộ chuỗi cung cấp”.
Hình 1.1: Cấu trúc và chu trình của chuỗi cung ứng

5

Tuy có cách diễn đạt có khác nhau, tựu chung lại các học giả đều khẳng
định Chuỗi cung ứng bao gồm 5 nhân tố, đó là: Nhà cung ứng, Nhà sản xuất,
Nhà phân phối, Người bán lẻ và Khách hàng.
Hình 1.2: Quá trình và các luồng vận chuyển của chuỗi cung ứng
Hình 1.3: Luồng thông tin và vật chất của chuỗi cung ứng

6

Thông qua quá trình và các luồng vận chuyển từ khâu mua nguyên vật
liệu, sản xuất hàng hoá và phân phối hàng hoá đến tay người tiêu dùng kết
hợp với luồng thông tin và luồng vật chất (tài chính) tạo nên một hành trình

(Nơi nào tốt nhất để làm cái gì?) và Thông tin (Cơ sở để ra quyết định?)
- Sản xuất là khả năng của chuỗi cung ứng tạo ra và lưu trữ sản phẩm.
Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần
này. Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề
cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất
của doanh nghiệp.
- Vận chuyển: Việc vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm giữa các nơi
trong chuỗi cung ứng. Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và
hiệu quả công việc biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển.
- Tồn kho: Là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào.
Chính yếu tố tồn kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
tham gia chuỗi cung ứng. Nếu tồn kho ít tức là sản phẩm được tiêu thụ nhanh,
hiệu quả sản xuất và lợi nhuận của doanh nghiệp ở mức cao.
- Định vị: Doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở
đâu? Nơi nào là địa điểm tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết
định sự thành công của chuỗi cung ứng. Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất
được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

8

- Thông tin: Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM.
Nếu thông tin chuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem lại những kết quả chuẩn xác.
Ngược lại, nếu thông tin không đúng, hệ thống SCM sẽ không thể phát huy
tác dụng.
Việc giảm chi phí một bất kỳ khâu nào của chuỗi cung ứng bằng cách
tận dụng những lợi ích đạt được từ phía đối tác không hẳn đã có tác dụng đến
cả chuỗi. Ví dụ như nhà sản xuất muốn giảm tồn kho vật tư, sản phẩm của
mình sẽ yêu cầu nhà cung cấp chuyển giao vật tư theo tiến độ sản xuất hoặc
yêu cầu người bán hàng tồn trữ sản phẩm mà không tính chi phí, nhưng thật ra
chi phí tồn kho vật tư sẽ được cộng vào giá bán vật tư và chi phí tồn trữ hàng

phí và Mức độ hài lòng của khách hàng.
Dù nhìn nhận dưới góc độ nào thì tựu trung, việc đánh giá hiệu quả của
quản trị chuỗi cung ứng trong mối liên kết chặt chẽ giữa các chức năng của
chuỗi cung ứng được thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
1.1.3.1 Tăng trưởng doanh số và lợi nhuận
Trước hết, hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng được thể hiện qua tốc độ
tăng trưởng về doanh số. Đồng nghĩa với tăng trưởng doanh số là mức độ đáp
ứng thị trường của chuỗi cung ứng đó đối với nhu cầu thị trường không giảm
và thị phần của doanh nghiệp tăng lên. Điều này còn thể hiện sức mạnh của
nhà sản xuất, nhà cung cấp đối với những loại hàng hóa họ tạo ra để đưa đến
cho nhà cung ứng phân phối cho thị trường. Ngoài ra nó cũng thể hiện vai trò
quản trị của doanh nghiệp cung ứng trong mối quan hệ với các nhà cung cấp,
thông qua thị trường để xác lập, điều chỉnh mối quan hệ với những người sản
xuất, cung cấp hàng hóa và ngược lại vận dụng linh hoạt quan hệ mày để tác
động vào thị trường nhằm làm cho lượng hàng hóa do mình cung ứng là nhiều
nhất trong một vòng quay thời gian.

10

1.1.3.2 Tối ưu hóa việc sử dụng tài sản và kiểm soát chi phí
Khi nhu cầu của nhà phân phối không đồng nhất với nhu cầu thực tế
của người tiêu dùng cuối cùng đã tạo ra mức tồn kho không thể dự đoán được
và buộc lượng hàng tồn kho phải cao mà vẫn không thể ngăn chặn được tình
trạng thiếu hàng. Nhà phân phối bắt đầu thực hiện việc chia sẻ thông tin về
nhu cầu thực tế (và khá ổn định) với nhà sản xuất, và nhà sản xuất bắt đầu
quản lý tồn kho cho nhà phân phối. Sự phối hợp của kế hoạch sản xuất và
quyết định tồn kho đã trao đổi cho nhau khá tốt, giúp cải thiện lượng hàng tồn
kho, doanh số và các chi phí cho các bên liên quan.
Các đơn hàng hoàn hảo là khi chúng sẵn sàng khi có yêu cầu, hoàn
thiện, được định giá và lên hóa đơn đúng, và không bị lỗi. Thứ hai, nhà quản

tốt đẹp đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, khi bất kỳ một
khâu nào trong chuỗi cung ứng không làm thoả mãn khách hàng thì không
những doanh nghiệp đó đánh mất khách hàng đó mà còn làm mất đi rất nhiều
khách hàng tiềm năng. Các doanh nghiệp điều hiểu rằng để luôn đạt được
thành công, muốn có sự tăng trưởng trong doanh nghiệp thì chỉ có thể định
hướng theo thị trường (market driven), có nghĩa là phải đầu tư và kinh doanh
dựa trên cơ sở nắm bắt nhu cầu của khách hàng với mục tiêu thỏa mãn tốt nhất
nhu cầu và mong muốn của họ. Thực hiện việc nghiên cứu chỉ số hài lòng của
khách hàng (Customer Satisfaction Index – CSI) sẽ giúp doanh nghiệp cung
ứng tiếp cận và giải quyết được vấn đề trên. Qua đó, các nhà quản trị chuỗi
cung ứng sẽ có những kết quả cụ thể về sự đánh giá, cảm nhận của khách
hàng đối với từng sản phẩm – dịch vụ mà họ cung ứng. Đây cũng là cơ sở
vững chắc cho việc cải tiến chất lượng, xây dựng các chiến lược cạnh tranh,
tiếp thị, chiến lược xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại của chính nhà
cung ứng đó trong phạm vi địa bàn hoạt động cũng như trong ngành kinh
doanh.

12

1.2. Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng
1.2.1 Đối với doanh nghiệp
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và siêu cạnh tranh, bất kỳ một sản phẩm
nào cũng chịu áp ức từ các đối tượng có liên quan (nhà cung ứng, đối thủ cạnh
tranh hiện tại và tiềm năng, chính phủ, tổ chức phi chính phủ, khách hàng…)
cùng với tốc độ thay đổi công nghệ và những tiến bộ vượt bậc trong công
nghệ thông tin, thương mại điện tử. Bên cạnh đó là xu hướng rút ngắn vòng
đời sản phẩm , áp lực từ yêu cầu ngày càng cao của khách hàng và người tiêu
dùng đôfng thời với xu hướng cạnh tranh toàn cầu gay gắt và biên giới thị
trươờn ngày càng mở rộng với sự xuất hiện các kênh phân phối mới đã đặt ra
cho doanh nghiệp một cách nhìn mới về vai trò, chức năng SCM trong hoạt

các chính sách thương mại phù hợp hay dựa trên các số liệu thống kê, phân
tích. Việc này giúp cho doanh nghiệp chủ động đối phó với các tình huống có
thể xảy ra.
Thực hiện tốt chức năng SCM là doanh nghiệp đã làm tốt việc quản lý
các nhà cung cấp, nguồn nguyên vật liệu đầu vào, kiểm soát chất lượng đầu ra
của sản phẩm đồng thời đánh giá được những bất ổn, đe doạ để đưa ra phương
án khắc phụ, điều chỉnh kịp thời.
Với chức năng SCM, doanh nghiệp còn có thể tăng cường năng lực
quản lý đối với sự thay đổi và tăng trưởng. Những doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả khi ở quy mô nhỏ và vừa nhưng khi bắt đầu mở rộng quy mô lớn
hơn, vượt tầm kiểm soát thì các nhà quản trị thường lúng túng.
Một chuỗi cung ứng tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp thu hút thêm nhiều
khách hàng, gia tăng thị phần, tiết kiệm chi phí, từ đó gia tăng doanh thu và
lợi nhuận. Chính nhờ quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả mà các doanh nghiệp,
tập đoàn sản xuất hay phân phối mới có thể trở thành công ty hàng đầu thế
giới trong bối cảnh nhiều áp lực của nền kinh tế toàn cầu. Việc thiết kế và

14

quản trị các luồng trong chuỗi cung cấp (luồng sản phẩm, luồng thông tin và
luồng vật chất) có mối quan hệ chặt chẽ với thành công của chuỗi cung cấp
qua đó góp phần quan trọng trong thành công hay thất bại của một doanh
nghiệp.
1.2.2 Đối với hoạt động của kho hàng dược phẩm
Thực hiện tốt chức năng SCM trong việc quản lý các luồng vật chất,
luồng thông tin của chuỗi cung ứng giúp cho việc tiết kiệm chi phí, tối đa hoá
lợi ích của doanh nghiệp cũng như của khách hàng. Khi các quy trình của
SCM được thiết kế và thực hiện đồng bộ nhằm đạt tới những mục tiêu hay kết
quả cụ thể như là phát triển một sản phẩm mới, hoàn thành đơn hàng, hay
đánh giá và lựa chọn nhà cung ứng đối với kho hàng dược phẩm.

Công ty Diethelm Philippine đã áp dụng hệ thống phần mềm quản lý
toàn diện mà công ty hiện đang sử dụng là phần mềm Navision của Microsoft,
có khả năng hỗ trợ quản lý ở tất cả các khâu trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty bao gồm tài chính kế toán, bán hàng, tồn kho…; hỗ trợ cho
phần mềm này là Scala để tính toán và quản lý nguyên vật liệu và phần mềm
manugistic để tính lượng hàng bổ sung. Hiện nay công ty đã thực hiện được
việc tích hợp thông tin từ ba phần mềm này để tạo thành một chu trình quản lý
khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ.
Kinh nghiệm SCM tại Mamplasan - Diethelm Philippine
Mặc dù có sự đầu tư đáng kể về cơ sở vật chất cho hạ tầng kho hàng
cũng với các chương trình quản lý luồng thông tin thông qua những phần
mềm chuyên dụng nhưng Dithelm Philippine lại thiếu các giải pháp xử lý
luồng thông tin ngược, các giải pháp chăm sóc khách hàng còn yếu kém – làm
cho quan hệ quản trị khách hàng CRM kém hiệu quả mặc dù ở các giai đoạn
trước công ty đã thực hiện khá tốt quan hệ quản trị nhà cung cấp và quản trị
chuỗi cung ứng nội bộ.

16

1.3.2 Trung Tâm phân phối Dược phẩm Sanofi Pharma
Công ty LD Dược Phẩm Sanofi-Aventis Việt Nam tiền thân là công ty
liên doanh giữa Sanofi Pharma (Pháp) và Xí nghiệp dược phẩm Trung Ương
23, năm 1993 sau đó chính thức được đổi tên thành Công ty Liên doanh dược
phẩm Sanofi–Aventis Việt Nam vào tháng 6/2006. Công ty có 02 nhà máy
sản xuất thuốc viên và thuốc nước là: Nhà máy Sanofi Synthelabo Việt Nam
và Nhà máy Aventis Việt Nam đều đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hình 1.5: Sơ đồ tổ chức chuỗi cung ứng Sanofi - Aventis
Như vậy, chuỗi cung ứng được hình thành bắt đầu từ đầu vào cho đến
đầu ra sản phẩm, bắt đầu từ bộ phận mua hàng (SC-Purchaser), đảm bảo việc
cung ứng nguyên vật liệu thông suốt cho nhà máy và kết thúc là trung tâm

để tính toán và quản lý nguyên vật liệu và phần mềm manugistic để tính lượng
hàng bổ sung. Hiện nay công ty đã thực hiện được việc tích hợp thông tin từ
ba phần mềm này để tạo thành một chu trình quản lý khép kín từ sản xuất đến
tiêu thụ. Bên cạnh đó, công ty cũng đã đầu tư phần mền quản lý toán diện
(ERP), một công cụ tối quan trọng để thực hiện quản lý theo chuỗi cung ứng.

18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Một doanh nghiệp có “định hướng chuỗi cung ứng” và “quy trình quản
trị chuỗi cung ứng” phù hợp là doanh nghiệp nhìn nhận giá trị chiến lược của
việc quản lý các hoạt động và các luồng lưu chuyển trong chuỗi cung ứng
trong mối quan hệ đa chiều hướng đến mục tiêu hoạt động của chính họ.
Các nhà quản trị cần phải nhận ra rằng quản trị chuỗi cung ứng đòi hỏi
sự phối hợp trong phạm vi rộng các hoạt động và luồng chảy mà nó mở rộng
ra nhiều ranh giới tổ chức hay chức năng. Những hoạt động này bao gồm việc
mua hàng và giải phóng hàng, vận tải, nhận hàng, xử lý nguyên liệu, lưu kho
và phân phối, kiểm soát và quản lý tồn kho, lên kế hoạch cung cầu, xử lý đơn
hàng, lên kế hoạch sản xuất và dịch vụ khách hàng.
Các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm đã thực hiện một hoặc nhiều
hoạt động này bao năm nhưng điều mà họ vẫn chưa nhìn nhận được đó là
những hoạt động tương hỗ với nhau và cần phải được sắp xếp phối hợp và
đồng bộ hóa – đó chính là bản chất của quản trị chuỗi cung ứng.
Vì thế, cần phải nhìn nhận chuỗi cung ứng kho hàng dược phẩm như là
tập hợp các quy trình có quan hệ với nhau chứ không phải là tập hợp các hoạt
động riêng rẽ phi tuyến. Những quy trình này được thiết kế để đạt tới những
mục tiêu hay kết quả cụ thể như là phát triển một sản phẩm mới, hoàn thành
các đơn hàng, hay đánh giá và lựa chọn nhà cung ứng phù hợp.
Quản trị chuỗi cung ứng tốt sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ khách
hàng với chi phí thấp nhất, nhưng muốn hoàn thiện SCM thì trước hết phải

ảnh, thiết bị điện tử và thiết bị tẩy rửa. Dịch vụ đóng gói và dán nhãn lại sản
phẩm; Thu mua các loại thủy sản tại Việt nam để xuất ra nước ngoài; Xuất
khẩu các sản phẩm dược tại Việt nam sang Campuchia.

20

Diethelm Việt nam có mạng lưới hoạt động rộng khắp Việt Nam
- Trụ sở chính đặt tại Khu Công nghiệp Việt nam – Singapore
- Văn phòng giao dịch và Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Trung tâm phân phối hàng hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Chi nhánh tại Hà Nội
- Các kho hàng đặt tại Bình Dương (2 kho Trung tâm), Hà Nội (2
kho), Đà Nẵng (2 kho), Cần Thơ (1 kho) và Kiên Giang (1 kho)
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Diethelm Việt Nam
2.1.2.1 Cơ cấu kinh doanh ngành hàng Diethelm Việt Nam
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu ngành hàng Diethelm Việt Nam
Theo cơ cấu kinh doanh ngành hàng, Công ty Diethelm Việt Nam do
DKSH Thụy Sỹ đầu tư vốn và hỗ trợ về kinh doanh tập trung phân phối và
tiếp thị trong 4 ngành hàng chính là: Máy móc thiết bị, phụ tùng, hóa chất
chuyên dụng, hàng tiêu dùng và dược phẩm.

21
Diethelm Việt Nam
Ngành hàng
máy móc thiết
bị, phụ tùng
Ngành hàng
Hoá chất
chuyên dụng
Ngành hàng

bán hàng
Giám đốc
Nghiên cứu
Phát triển
Giám đốc
Chuỗi cung
ứng
Giám đốc
Dịch vụ
Khách hàng
Tài chính
Nhân sự
Hành chính
Tiếp thị
Bán hàng
Quảng cáo
Nghiên cứu
Ứng dụng
Mua hàng
Logistics
Kho vận
Đơn hàng
Phân phối
Khiếu nại

Hình 2.3: Tăng trưởng về doanh thu 2005 - 2008
(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty TNHH Diethelm Việt Nam 2005 – 2008)
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động SX-KD năm 2006 – 2008
Chỉ tiêu 2006 2007 2008
1. Doanh thu (tỷ đồng)


23

Kinh tế - xã hội
Việt Nam là nước đang phát triển với dân số gần 87 triệu dân (2009), cơ
cấu dân số trẻ (60% dân số có độ tuổi dưới 30) và tỷ lệ tăng dân số ở mức cao,
cùng với chất lượng đời sống ngày càng cải thiện nên nhu cầu sử dụng các sản
phẩm dược phẩm tăng mạnh. Theo thống kê của WHO, chi phí cho khám
chữa bệnh của người dân Việt Nam đạt mức 22USD/người/năm (2,5% thu
nhập bình quân đầu người). Tiềm năng thị trường dược phẩm Việt Nam năm
2008 đã vượt mức 1 tỷ USD và dự kiến sẽ đạt mức 1,5 tỷ USD năm 2010
(xem hình 2.5) trong đó tỷ lệ dược phẩm nhập khẩu từ nước ngoài ở mức 80 –
85% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dược phẩm (xem hình 2.6)
Hình 2.4: Tiềm năng thị trường dược phẩm Việt nam
(Nguồn: Báo cáo Hội nghị ngành dược Việt Nam đến 2020 – Bộ Y tế)
Hình 2.5: Kết quả kim ngạch xuất nhập khẩu thuốc Việt Nam 2005-2008

24

(Nguồn: Báo cáo Hội nghị ngành dược Việt Nam đến 2020 – Bộ Y tế)
Chi phí cho dược phẩm của người dân cũng ở mức cao nhất so với khu
vực và tăng lên hàng năm tương ứng với mức tăng thu nhập bình quân đầu
người được thống kê và dự báo dưới đây.
Hình 2.6: Chi phí cho dược phẩm bình quân đầu người 2005 - 2008
(Nguồn: Báo cáo Hội nghị ngành dược Việt Nam – Bộ Y tế )
Luật pháp

25
ĐVT: Triệu USD
Tiền thuốc bình quân đầu người được tính trên tổng doanh thu thuốc sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status