LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
Hà Nội, Ngày
tháng
Tác giả
Tạ Thị Tuyết Anh
năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu Trường Đại học
Thương Mại, các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi
nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS,TS.Trần Thị Hồng Mai đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách
trọn vẹn và hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ,
nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam, đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2015
Tác giả
Tạ Thị Tuyết Anh
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm thất nghiệp
Công cụ dụng cụ
Chi phí bán hàng
Chi phí sản xuất
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Dở dang
Kinh phí công đoàn
Kế toán quản trị
Kế toán tài chính
Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trực tiếp
Nhân công trực tiếp
Người lao động
Năng suất lao động
Sản phẩm
Sản phẩm dở dang cuối kỳ
Sản xuất chung
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
STT
1
2
sản xuất là tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh.Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là
một trong những công cụ hữu hiệu giúp các nhà quản trị quản lý doanh
nghiệp, do thông tin cung cấp cụ thể, chi tiết và kịp thời. Khi sử dụng thông
tin chi tiết đã được tóm lược theo yêu cầu sử dụng, nhà quản trị có thể phát
hiện vấn đề để giải quyết nhanh chóng, cải tiến kịp thời và đạt hiệu quả hơn.
Do vậy, làm tốt kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý
nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp.Mặt khác để hội nhập với nền kinh tế
thế giới thì việc áp dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là điều tất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam là Công ty có vốn đầu tư
của Hàn Quốc tại Hải Dương với ngành nghề chính là chế tạo sản xuất các
loại bulông, đai ốc, đinh ghim, đinh tán phục vụ cho ngành công nghiệp. Hiện
nay, Công ty chủ yếu sản xuất sản phẩm để xuất sang thị trường nước ngoài;
trong đó Châu Âu chiếm 80% còn lại là Châu Mỹ. Qua thực tế công tác kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH KPF Việt
Nam cho thấy chủ yếu vẫn được thực hiện trên góc độ kế toán tài chính còn
trên góc độ kế toán quản trị vẫn chưa thực sự được quan tâm, chưa đáp ứng
được hết các nhu cầu thông tin cho nhà quản lý Công ty. Điều này có ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
tyTNHH KPF Việt Nam.
6
Từ những lý do trên, em quyết định chọn đề tài:“Kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF
Việt Nam”.
Thông qua đề tài này, có thể tìm hiểu sâu hơn về kế toán quản trị chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty, thấy được vấn đề còn tồn tại cũng
Đại học Thương mại với đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắptại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng và
phát triển hạ tầng” tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế
toán quản trị chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp
xây lắp tìm ra được những ưu, nhược điểm từ đó đề xuất các giải pháp hoàn
thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng.
Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Huyền (2013) Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển ngành
Nước và Môi trường” tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản về mặt lý luận
và thực trạng của hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp
tại các doanh nghiệp xây lắp dưới cả hai góc độ là kế toán tài chính và kế toán
quản trị. Từ đó tìm ra được những ưu, nhược điểm từ đó đề xuất các giải pháp
hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển ngành Nước và Môi trường.
Trong bài báo của Ths. Đỗ Đức Tài đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểm
toán số 11/2013 của Trường Đại học Lao động Xã hội về “Kế toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất trứng gà thương phẩm”
tác giả đã hệ thống những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành trứng gà thương phẩm. Trình bày các quy định, đặc điểm của kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất trứng
8
gà thương phẩm. Tuy nhiên tác giả chỉ tập trung dưới góc độ kế toán tài chính
chưa quan tâm đến kế toán quản trịtrong doanh nghiệp.
Qua các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống các nội dung
cơ bản về kế toán tài chính và kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
- Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách
nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam đang được thực hiện như thế nào? Thông tin về
kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu thông
tin phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp không?
- Cần phải có những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF
Việt Nam?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kế toán quản trị chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt Nam mà không nghiên cứu kế
toán quản trị chi phí ngoài sản xuất.
Thời gian nghiên cứu: Tập trung vào năm 2014, 2015.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu phục vụ cho việc viết đề tài được lấy từ hai nguồn chính
là nguồn dữ liệu sơ cấp và nguồn dữ liệu thứ cấp. Nghiên cứu này được thực
hiện thông qua các phương pháp:
Phương pháp quan sát: Quan sát thực hiện công tác kế toán từ thu thập
thông tin, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán quản trị chi phí và giá
thành sản phẩm bulông, đai ốc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn KPF Việt
Nam nhằm thu thập số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
10
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả tiến hành nghiên cứu các tài
liệu từ nguồn tài liệu thứ cấp như văn bản pháp luật, giáo trình, sách chuyên
khảo, website của doanh nghiệp về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức quản lý, đặc
1.1.1.2. Khái niệm chi phí sản xuất
Hiện tại có khá nhiều khái niệm về chi phí sản xuất như:
Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Thương Mại
(2005): “Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng
(bộ phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của
doanh nghiệp”.
Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Kinh tế quốc dân
(2012): “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động
sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh được tính cho một thời kỳ nhất định”.
Chi phí sản xuất, dưới góc độ của kế toán quản trị có thể được coi là
những khoản phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất, có thể là
những phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước được tổng hợp theo từng bộ phận,
từng khâu của quá trình sản xuất.
Khái niệm chi phí sản xuất có sự khác với khái niệm chi tiêu. Mặc dù chi
tiêu là cơ sở để phát sinh chi phí. Tuy nhiên, chi phí và chi tiêu khác nhau cả
về thời gian phát sinh và về lượng. Có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng
chưa được tính hết ngày vào chi phí trong kỳ này và có những khoản được
tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu. Sự khác nhau giữa chi phí
và chi tiêu là do đặc điểm, cách thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản
trong quá trình sản xuất cũng như yêu cầu kỹ thuật khi hạch toán.
12
Từ các quan điểm trên ta có thể hiểu chi phí sản xuất là các phí tổn (chi
phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác) phát sinh gắn liền
với hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp tính cho một thời
kỳ nhất định và được biểu hiện bằng tiền.
1.1.1.3. Khái niệm giá thành sản phẩm
1.1.1.4. Khái niệm kế toán và kế toán quản trị
a) Khái niệm kế toán
Khái niệm về kế toán có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau:
Nhà nghiên cứu lý luận, nhà quản trị doanh nghiệp, người sử dụng thông tin
kế toán liên quan cho nên cách trình bày khái niệm kế toán có thể khác nhau.
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (2009) Trường Đại học Thương Mại
đã xác định “Xét dưới góc độ khoa học, Kế toán là môn khoa học thu nhận xử
lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình tài sản và sự vận động của tài
sản trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan
nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của
các đơn vị đó.
Xét dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, Kế toán là việc thu
thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới
hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Theo giáo trình Nguyên lý kế toán (2011)Trường Đại học Ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh (trang 18): “Kế toán được xem là một hệ thống
thông tin.”
Trong Luật kế toán (2003) cho rằng “Kế toán là việc thu thập, xử lý
kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá
trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Các khái niệm về kế toán nêu trên cho thấy những quan niệm về kế toán
ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn kế toán với việc phục vụ
cho công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ không thể thiếu được trong
14
hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung
cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh
tế tài chính trong các đơn vị nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh
Từ những quan điểm trên có thể thấy kế toán quản trị là một phận của kế
toán nói chung có chức năng quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các
nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, có thể hiểu kế toán quản trị là một bộ môn
khoa học có nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin định lượng được
về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho các nhà quản trị trong việc
điều hành và quản lý doanh nghiệp.
1.1.1.5. Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Đối với những nhà quản lý các cấp thì các chi phí là mối quan tâm hàng
đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của
những chi phí đã chi ra. Kế toán quản trị chi phí cung cấp cả những thông tin
quá khứ và những thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự
toán trên cơ sở định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời
làm căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, ký kết hợp
đồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài...
Kế toán quản trị chi phí quan tâm đến việc lập dự báo của thông tin và
trách nhiệm của nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí
qua hệ thống trung tâm chi phí được cung cấp bởi các trung tâm chi phí trong
doanh nghiệp.
Trong bài báo “Kế toán quản trị chi phí và ứng dụng của kế toán quản trị
chi phí vào các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam” của tác giả Đào
Thị Minh Tâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tài chính - kế toán số 03/2009
thì “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực
hiện việc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc
thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoach định, tổ chức thực hiện,
kiểm tra và ra quyết định”
16
Kế toán quản trị chi phínhằm cung cấp thông tin cụ thể về chi phí phát
Việc đo lường chi phí của một hoạt động theo một mục đích nào đó là
kết quả cụ thể của kế toán quản trị. Tuy nhiên, một nhiệm vụ quan trọng hơn
của kế toán quản trị là phải giúp nhà quản lý có những giải pháp tác động lên
các chi phí này nghĩa là cần phải xác định nguyên nhân gây ra chi phí để có
thể can thiệp, tác động vào các nghiệp vụ, các hoạt động phát sinh các chi phí.
Nghĩa là cần:
Phân tích một các cụ thể để hiểu các chi phí được hình thành như thế
nào. Biết được từng thành phần chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sản
xuất, giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ.
Xây dựng được các khoản dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động
của doanh nghiệp. Dựa trên đặc điểm của từng doanh nghiệp, quy trình công
nghệ của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý đối với từng doanh nghiệp mà
doanh nghiệp tiến hành xây dựng định mức cho phù hợp làm cơ sở để xây
dựng dự toán hợp lý.
Kiểm soát việc thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữa
chi phí theo dự toán và thực tế. Qua việc phân tích các thông tin về chi phí sản
xuất do kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cung cấp sẽ
tìm ra nguyên nhân của chênh lệch giữa chi phí theo dự toán mà đơn vị đã lập
so với thực tế hoạt động sản xuất.
Mặt khác, khuyến khích những người, những bộ phận có khả năng tới
các thành phần chi phí làm việc phù hợp với chính sách và quy định của
doanh nghiệp nhằm tiết kiệm và hạ thấp chi phí một cách hợp lý nhất.
Ngoài ra, kế toán quản trị còn giúp người ra quyết định lựa chọn các giải
pháp phù hợp khi lựa chọn phương án kinh doanh.
Đối tượng của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị không những được áp dụng cho các doanh nghiệp mà
còn được áp dụng cả cho những tổ chức, các đoàn thể... Dưới đây chỉ đề cập
Chi phí sản xuất chung thực tế thường cuối kỳ mới xác định được đầy
đủ. Chi phí sản xuất chung được tập hợp và phân bổ cho các đối tượng chịu
chi phí theo tiêu thức phân bổ phù hợp. Chi phí sản xuất chung phụ thuộc chủ
yếu vào các chứng từ bên ngoài như hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, chất
đốt, … các hóa đơn này đến cuối kỳ hoặc đầu kỳ saucác nhà cung cấp mới
tính và gửi cho doanh nghiệp.
Những chi phí sản xuấtliên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất thường tập hợp thành từng nhóm và chọn tiêu thức để phân bổ cho từng
đối tượng chịu chi phí.
Thực hiện mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
theo chi phí thực tế doanh nghiệp chỉ có được thông tin về giá thành sản phẩm
sau khi kết thúc quá trình sản xuất, giá thành sản phẩm thể hiện chi phí sản
xuất trong quá khứ, rất phù hợp với thông tin theo yêu cầu của kế toán,
nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán chung khi lập và trình bầy báo cáo tài
chính. Vì vậy, thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thường chậm
trễ và đôi khi không còn tác dụng cho các quyết định sản xuất kinh doanh
trong kỳ. Điều này làm cho thông tin chi phí và giá thành chỉ phục vụ được
cho hai mục tiêu chủ yếu là định giá và kiểm soát chi phí sau khi thực hiện.
(2) Mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chi
phí thực tế kết hợp ước tính
Đặc điểm của mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm theo chi phí thực tế kết hợp ước tính là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp đều được tập hợp cho các đối tượng chịu chi phí
theo chi phí thực tế. Chi phí sản xuất chung tính cho các đối tượng tập hợp chi
phí theo số ước tính. Cuối kỳ, trên cơ sở số chi phí sản xuất thực tế đã tập hợp
được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí. Do đó có thể phát sinh chênh
20
21
1.1.4. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí
Muốn thực hiện hiệu quả công việc của kế toán quản trị chi phí doanh
cần tổ chức bộ máy nguồn nhân lực và điều kiện trang thiết bị hiện có của đơn
vị. Hiện nay, có ba loại mô hinh tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí để
các doanh nghiệp có thể lựa chọn vận dụng.
(1) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng kết hợp
Đây là mô hình kết hợp hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tài
chính trong cùng một bộ máy kế toán của đơn vị.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí dạng kết hợp thể hiện
qua sơ đồ (phụ lục 1.01)
Theo mô hình này thì tổ chức bộ máy kế toán như sau: Kế toán quản trị
và KTTC được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, không phân chia thành
bộ phận KTQT và bộ phận KTTC mà chỉ phân chia thành các bộ phận kế toán
thực hiện từng phần hành công việc kế toán theo chức trách, nhiệm vụ được
phân công. Các bộ phận này vừa làm nhiệm vụ KTQT, vừa làm nhiệm vụ
KTTC.Với kế toán đảm nhiệm phần hành kế toán chi phí theo dõi chi phí phát
sinh để hoàn thành hệ thống thông tin chi phí trên báo cáo tài chính đồng thời
theo dõi chi tiết thông tin chi phí theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp, xây
dựng định mức chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích chênh lệch chi phí thực
tế so với chi phí định mức...
Theo cách tổ chức bộ máy kế toán trên thì KTTC sử dụng các tài khoản
kế toán tổng hợp, còn KTQT sử dụng các tài khoản kế toán chi tiết và các
phương pháp khác như: thống kê, toán…. Để hệ thống hoá, xử lý và cung cấp
thông tin cho nhà quản trị.
22
toán tài chính được tổ chức thành hai hệ thống riêng biệt. Tuỳ vào điều kiện
và nhu cầu của từng doanh nghiệp mà tổ chức nên các phần hành kế toán
quản trị sao cho phù hợp nhất. Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp theo mô
hình này sẽ gồm hai bộ phận chính là bộ phận kế toán tài chính và kế toán
quản trị. Hai bộ phận này có thể ở trong cùng một phòng và cũng có thể thành
hai phòng chức năng.
Bộ phận kế toán tài chính: Căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
phản ánh trên các chứng từ kế toán theo mẫu quy định kế toán ghi vào các tài
khoản, sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết theo quy định của từng phần
hành kế toán đảm nhiệm sau đó tổng hợp để lập báo cáo tài chính theo quy
định của chế độ kế toán.Thông tin do kế toán tài chính cung cấp chủ yếu phục
vụ cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các cơ quan chức năng của
nhà nước, các nhà đầu tư...
Bộ phận kế toán quản trị: Bộ phận kế toán quản trị ngoài việc sử dụng
các chứng từ bắt buộccòn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ hướng dẫn phản
ánh các nghiệp vụ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp. Căn cứ vào các chứng
từ kế toán này kế toán phản ánh vào các tài khoản kế toán dùng trong kế toán
quản trị được xây dựng thành một hệ thống riêng, mang ký hiệu riêng, phản
ánh chỉ tiêu giá trị và hiện vật.Vì vậy, bộ phận kế toán quản trị xây dựng hệ
thống sổ kế toán riêng phục vụ cho việc ghi chép các nghiệp vụ thuộc kế toán
quản trị, từ đó lập nên các báo cáo kế toán quản trị. Các báo cáo kế toán quản
trị được lập riêng dưới dạng các bảng cân đối bộ phận với kỳ hạn ngắn hơn
các báo cáo tài chính. Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các Bảng cân đối bộ phận
còn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời gian lao động; ngoài các
chỉ tiêu quá khứ, các chỉ tiêu được thực hiện, kế toán quản trị còn thiết lập các
cân đối trong dự đoán, trong kế hoạch.
24
sản xuất và giá thành sản phẩm, phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm, cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
thông qua hệ thống các báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm.
1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất
Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin thích hợp về
chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vì
vậy, đối với kế toán quản trị chi phí không đơn thuần nhận thức chi phí như
kế toán tài chính mà chi phí còn được nhận thức theo các khía cạnh nhận diện
thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Kế toán quản trị chi
phí thường chú trọng đến các cách phân loại chi phí sản xuất.
1.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động
Cách phân loại này giúp dễ dàng kiểm soát chi phí phát sinh ở các giai
đoạn sản xuất khác nhau từ đó có thể xác định chi phí theo từng thời điểm
phát sinh để có thể gắn trách nhiệm của nhà quản lý trong đơn vị với từng địa
điểm phát sinh. Đồng thời, vận dụng cách phân loại này kế toán có thể xây
dựng định mức chi phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm và khối lượng sản
phẩm theo dự toán tiêu thụ được xây dựng.
Chi phí sản xuất là loại chi phí chế tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục chi phí: Chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu
được sử dụng cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm. Thuộc chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp có thể là nguyên liệu, vật liệu chính; vật liệu phụ sử dụng trực
tiếp cho sản xuất sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể liên quan
trực tiếp đến một hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí. Chi phí nguyên vật liệu