1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---------------------------
ĐẶNG THỊ THÚY HỒNG
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH HÀNG KHÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2017
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---------------------------
ĐẶNG THỊ THÚY HỒNG
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CÔNG TRÌNH HÀNG KHÔNG
CHUYÊN NGÀNH
4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trường Đại học
Thương Mại, khoa Sau Đại Học, các thầy giáo, cô giáo của Trường đã đào tạo, bồi
dưỡng những kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu để tôi thực hiện luận
văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học TS.
Tạ Quang Bình, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng bảo vệ
luận văn đã chỉ dẫn, bổ sung những ý kiến quý báu giúp tôi nhận thức sâu sắc hơn
về nội dung nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà quản lý, các cán bộ công nhân
viên của Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không đã giúp đỡ và tạo điều kiện
cung cấp cho tôi những số liệu và thông tin hữu ích để tôi thực hiện luận văn này.
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới những người bạn, những đồng
nghiệp đặc biệt là gia đình tôi đã dành cho tôi sự động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
5
MỤC LỤC
6
10
11
12
13
14
15
16
CPSXC
DN
ĐM
GTGT
KTTC
KTQT
NVL
NVLTT
SP
SX
SXC
Chi phí sản xuất chung
Doanh nghiệp
Định mức
Giá trị gia tăng
Kế toán tài chính
Kế toán quản trị
Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trực tiếp
Sản phẩm
Sản xuất
Bảng 2.15
Bảng 2.16
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng khối lượng dự toán công trình
Bảng dự toán kinh phí công trình
Lệnh chi
Hóa đơn giá trị gia tăng
Phiếu xuất kho
Sổ chi tiết TK 621
Sổ chi tiết TK 622
Bảng chấm công
Bảng thanh toán tiền lương
Sổ chi tiết TK 623
Sổ chi tiết TK 627
Sổ chi tiết TK 154
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất quý II
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp
Sổ chi tiết chi phí sử dụng máy thi công
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ
quản lý kinh tế tài chính, có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các
hoạt động kinh tế. Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán quản trị
là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính đảm nhiệm hệ thống tổ
chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế đặc biệt là thông tin về chi phí và
giá thành sản phẩm. Thêm vào đó, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
việc quản lý tốt chi phí luôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu.
Kiểm soát và quản lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh
doanh hợp lý, hiệu quả nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh
trong các doanh nghiệp. Chính vì vậy, kế toán quản trị chi phí và tính giá thành sản
phẩm là rất cần thiết đối với bất kì một doanh nghiệp nào muốn thành công trên
thương trường.
Công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất phải tùy thuộc vào đặc điểm tổ
chức sản xuất, quy trình công nghệ, trình độ và yêu cầu quản lý của mỗi doanh
nghiệp. Do các nguyên nhân chủ quan và khách quan mà kế toán quản trị chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các công ty xây dựng hiện nay còn khá
mới mẻ, nhận thức và tổ chức còn nhiều bất cập, chẳng hạn như việc tổ chức và ứng
dụng nó vào trong các quyết định quản lý còn gặp nhiều khó khăn từ chính những
người làm quản lý, cán bộ làm công tác kế toán. Mặt khác, do đặc thù của doanh
nghiệp xây dựng là mỗi sản phẩm có tính chất đơn chiếc và được sản xuất theo hợp
đồng giao nhận thầu nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau
giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo thiết kế mẫu nhưng được
xây dựng ở các địa phương khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của từng công trình cũng khác nhau. Công
quản trị chi phí sản xuất kinh doanh nói chung tại các doanh nghiệp. Tác giả Hoàng
Thị Việt Hà (2012) đã đánh giá về thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tổng Công Ty Vinaconex,
đưa ra các nguyên tắc chung, các quan điểm cơ bản và nội dung hoàn thiện và giải
pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại các doanh nghiệp hiện nay. Các công trình nghiên cứu này, các
11
tác giả tập trung phân tích những lý luận về tổ chức kế toán quản trị nói chung, kế
toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm nói riêng, đồng thời phân tích thực
trạng công tác kế toán quản trị chi phí ở các loại hình doanh nghiệp đặc thù ở các
khía cạnh như: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành,
phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, phương pháp tính giá thành…. Đồng thời
đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Mặt khác, một số tác giả tập trung nghiên cứu vào việc xây dựng mô hình kế
toán quản trị chi phí cho một số loại hình doanh nghiệp cụ thể: tác giả Phạm Thị
Thủy (2007) đã đánh giá thực trạng hệ thống kế toán quản trị chi phí trong các
doanh nghiệp Dược phẩm theo hướng có thể cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà
quản trị trong quá trình ra quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranh khắc
nghiệt. Tác giả Huỳnh Lợi (2008) đã trình bày về quan điểm mục tiêu xây dựng kế
toán quản trị phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam, mô hình, cơ chế vận hành mô
hình kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam và các giải pháp hỗ trợ cần thiết
để đảm bảo xây dựng khả thi kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam. Trong
các công trình này, người viết cũng tập trung phân tích các vấn đề lý luận về kế toán
quản trị chi phí đồng thời phân tích đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi
phí sản xuất tại các doanh nghiệp trên các khía cạnh đối tượng tập hợp chi phí sản xuất,
đối tượng tính giá thành, dự toán chi phí sản xuất, phương pháp tính giá thành… và
đưa ra đề xuất hoàn thiện.
- Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và xây dựng công trình hàng không?
-Đã có những nghiên cứu nào trước đây về vấn đề kế toán quản trị chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm xây dựng?
- Tình hình thực tế về vấn đề còn tồn tại của kế toán quản trị chi phí và giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không ?
- Công ty đã và đang có những biện pháp gì để quản lý chi phí và cách tính
giá thành sản phẩm xây dựng?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Xác định đối tượng nghiên cứu là kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Công Trình Hàng Không.
13
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ngành xây dựng có những đặc điểm riêng
mang tính đặc thù chi phối cách thức quản lý doanh nghiệp cũng như chi phối đến
nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức kế toán nói chung và công tác kế toán
quản trị chi phí sản xuất sản phẩm nói riêng,
- Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán
quản trị chi phí sản xuất nói chung tại các doanh nghiệp xây dựng và thực tế công
tác kế toán quản trị chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty
Cổ Phần Công Trình Hàng Không.
- Phạm vi thời gian thực hiện đề tài: Tháng 05/2016 – 11/2016
6. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu các vấn đề về kế toán quản trị chi phí và giá thành tôi đã sử
dụng hai phương pháp chủ yếu đó là phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp
phân tích dữ liệu.
a. Phương pháp thu thập dữ liệu :
Trong quá trình khảo sát thực tế tại Công ty cổ phần Công Trình Hàng
việc thực hiện điều tra sẽ chọn lấy ý kiến của 20 phiếu điều tra cho các thành viên
trong Công ty là Giám đốc, kế toán trưởng và một số kế toán viên trong Công ty.
Bước 3: Tiếp cận và thực hiện phát phiếu điều tra cho những người
trong danh sách .
Bước 4: Thu lại phiếu điều tra, tiến hành tổng hợp và xử lý các số liệu
thu được từ phiếu phục vụ cho việc đánh giá, phân tích.
Mẫu phiếu khảo sát (Bảng 1.1 – phần Phụ Lục)
Tổng hợp kết quả phiếu điều tra (Bảng 1.2 – phần Phụ Lục)
Mục đích của phương pháp: Tìm hiểu những thông tin tổng quát về tổ chức
bộ máy kế toán, những thông tin tổng quát về kế toán quản trị chi phí nói chung.
Phương pháp quan sát thực tế: Quan sát là phương pháp thu thập thông
tin thông qua việc sử dụng các giác quan và các thiết bị hỗ trợ để ghi nhận các
hiện tượng hoặc các hành vi của con người phục vụ cho công tác nghiên cứu một
vấn đề khoa học. Trong quá trình khảo sát tại đơn vị, tôi đã trực tiếp quan sát những
hoạt động đang diễn ra tại phòng kế toán của DN, quan sát những tài liệu về kế
toán cũng như tìm hiểu về các nghiệp vụ kế toán của DN.
Mục đích của phương pháp: Nhằm tiếp cận trực tiếp, theo dõi được các
hoạt động, các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày, các thao tác và quá trình làm việc của
phòng kế toán.
15
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Phương pháp được sử dụng để thu
thập dữ liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu tài liệu. Đây là phương pháp mà
người nghiên cứu sẽ tìm đọc những tài liệu có liên quan tới đề tài của mình, sau đó
chắt lọc ra những điểm, những mục cần thiết và ghi chép lại theo một trình tự logic
để phục vụ cho bài viết của mình. Mục đích của phương pháp này là thông qua
những thông tin thu thập được sẽ có được những dẫn chứng tin cậy nhất cho những
quan điểm và lập luận của mình.
1.1.1 Khái niệm, bản chất của kế toán quản trị
1.1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Theo Luật kế toán Việt Nam (2003): Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản lý và quyết định
kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán ( Khoản 3- Điều 4 - Luật Kế toán Việt
Nam - số 03).
Theo Ray H. Garrison (2006) “ Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp
tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách
nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó”.
Theo PGS.TS Nguyễn Phú Giang (2008) “ Kế toán quản trị là một khoa học
dựa trên cơ sở các số liệu kế toán, tiến hành thu nhập, xử lý, phân tích tổng hợp và
thiết kế các thông tin kế toán thành các thông tin hữu ích phục cụ cho việc ra các
quyết định ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp”( Trang 8 – Kế toán quản trị ).
Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trị
như sau: Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin
định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của đơn vị cụ thể, giúp các nhà
quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực
hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Như vậy, kế toán quản trị chi phí là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung
cấp các thông tin về chi phí của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị doanh
nghiệp thực hiện tốt các chức năng quản trị chi phí trong quá trình kinh doanh.
1.1.1.2. Bản chất của kế toán quản trị
Kế toán là công cụ không thể thiếu trong quản lý kinh tế. Kế toán chủ yếu tập
trung vào ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài chính của một tổ chức, các báo
cáo này nhằm để truyền đạt thông tin tài chính của một tổ chức. Chức năng của
17
kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài sản
18
cung cấp bởi các trung tâm chi phí trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị chi phí
sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào khi có sự thay đổi của một
số nhân tố nào đó, trách nhiệm giải thích những thay đổi bất lợi của chi phí thuộc
về ai và các giải pháp đưa ra để điều chỉnh sự thay đổi chi phí đó một cách kịp
thời. KTQT chi phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và những
thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định
mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho việc lựa
chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất hay
thuê ngoài.
Như vậy, bản chất của kế toán quản trị là một hệ thống thông tin quản lý
doanh nghiệp. Thông tin kế toán quản trị có chức năng quan trọng nhằm tăng
cường quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong môi trường kinh doanh luôn
biến động và phức tạp. Thực chất đó là một hệ thống thông tin quản trị hữu ích,
một hệ thống thông tin quan hệ hữu ích, một hệ thống thông tin quan hệ lợi ích,
trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp.
1.1.2 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị
Việc xác định nội dung cơ bản của kế toán quản trị là một vấn đề phức tạp
và đang có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, khi xác định nội dung của kế toán
quản trị cần xem xét các vấn đề cụ thể của nó; đồng thời phải xem xét trong mối
quan hệ tương quan với kế toán tài chính để đảm bảo cho kế toán quản trị không
trùng lặp với kế toán chi tiết thuộc kế toán tài chính và phát huy được tác dụng
đích thực của nó trong công tác quản trị doanh nghiệp.
•
Nếu xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp thì nội dung cơ
bản của kế toán quản trị là :
- KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh (lao động, hàng tồn kho, TSCĐ).
nhằm mục đích kiểm soát và quản lý chi phí chặt chẽ và dự toán chi phí chính xác
để tối thiểu hóa chi phí.
-
Phản ánh các yếu tố sản xuất như: vật tư, tài sản cố định, lao động, tiền lương, hàng
tồn kho nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấp nhất và lợi
nhuận cao nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của thị trường.
-
Phản ánh chi tiết doanh thu và kết quả từng hoạt động, bộ phận, địa điểm, sản
phẩm, mặt hàng kinh doanh… phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu, lợi
nhuận thông qua các hệ thống báo cáo kết quả kinh doanh trong việc hình thành các
quyết định điều hành hoạt động của doanh nghiệp.
-
Phản ánh chi tiết các khoản công nợ phải trả, phải thu, các khoản thanh toán khác
của doanh nghiệp…
-
Xây dựng các trung tâm trách nhiệm theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp để các nhà
quản trị đưa ra quyết định, đồng thời xác định trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận
20
và kiểm soát việc thực hiện từng khâu công việc, làm rơ các nguyên nhân gây ra sự
21
thuận với người giao thầu từ trước. Các sản phẩm hoàn thành được nghiệm thu và
bàn giao không qua nhập kho. Bên cạnh đó, tình hình và điều kiện sản xuất xây
dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây
dựng; cụ thể: con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này
sang công trình khác, còn sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) thì hoàn thành,
đứng yên một chỗ, đây là một đặc điểm ngược lại và hiếm thấy đối với các ngành
sản xuất khác. Phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất luôn phải
thay đổi theo từng địa điểm, giai đoạn xây dựng; đặc điểm này gây khó khăn cho
việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu
di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất như: Chi phí
điều động nhân công, máy móc thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và dọn mặt
bằng để tập kết vật liệu, máy thi công… đòi hỏi kế toán phải quản trị chi phí, phản
ánh chính xác chi phí và phân bổ chi phí này hợp lý.
Thứ ba, sản phẩm xây dựng có giá trị lớn vượt quá số vốn lưu động của
doanh nghiệp xây dựng. Hơn nữa, thời gian thi công thường kéo dài, trong thời gian
thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng
rất nhiều nguồn lực, điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản
xuất của doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu. Chính vì vậy, các doanh
nghiệp xây dựng phải lựa chọn phương án thi công hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt
chẽ, phải có quy ước thanh toán chia thành nhiều kỳ theo giai đoạn thi công, dự trữ
vốn phù hợp, theo dõi sát chi phí phát sinh (chi phí sản xuất, chi phí lãi vay…) trong
quá trình thi công tránh thất thoát, lãng phí.
Mặt khác, do thời gian thi công công trình thường kéo dài nên kỳ tính giá
thành không phải hàng tháng như các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà
thường tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình được thể hiện qua
phương pháp lập dự toán và phương thức thanh toán giữa bên giao thầu và bên nhận
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêu
dùng các yếu tố sản xuất kinh doanh như tư liệu lao động, đối tượng lao động và
sức lao động để tạo ra các sản phẩm, công việc, nhằm đáp ứng các nhu cầu sản xuất
và tiêu dùng của xã hội.
Theo VAS01 – chuẩn mực chung thì chi phí là tổng giá trị các khoản làm
giảm lợi ích kinh tế trong kì kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản
khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn tới làm giảm vốn chủ sở hữu. Như
vậy, chi phí trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh
23
nghiệp phải chịu, bao gồm cả các khoản phát sinh mà không gắn với quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp.
Kế toán tài chính cho rằng chi phí cho những công trình, hạng mục công trình
là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà
doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định. Như vậy, theo quan điểm này thì chi phí của doanh nghiệp phải được ghi nhận
theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và thu nhập, chỉ được xác định trên bình diện
chung của toàn doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch toán.
Mặt khác, chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được hiểu là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi tiêu trong quá trình sản xuất kinh doanh
đòi hỏi phải được bù đắp bằng thu nhập của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất kinh
doanh được ghi nhận ở thời điểm chi tiêu cho sản xuất. Những khoản chi tiêu phát
sinh trong doanh nghiệp nhưng không liên quan đến quá trình sản xuất có nguồn
vốn riêng bù đắp thì không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như các doanh nghiệp sản xuất khác, doanh nghiệp xây dựng cũng tiến hành
sản xuất sản phẩm nhưng sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là các hạng mục
công trình, trong quá trình sản xuất thi công, các doanh nghiệp xây dựng cũng phải
bỏ ra những khoản chi phí nhất định.
Chi phí nguyên vật liệu chính;
Chi phí nguyên vật liệu phụ ;
Chi phí nhiên liệu;
Chi phí phụ tùng thay thế;
Chi phí nguyên vật liệu khác;
+ Chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua tất cả các công
cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì kế toán. Tổng chi phí công cụ
dụng cụ là tiền đề để các nhà quản trị hoạch định mức luân chuyển sử dụng công cụ
dụng cụ, định mức dự trữ, nhu cầu mua công cụ dụng cụ hợp lý.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Là số tiền khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sản
xuất trong doanh nghiệp xây dựng bao gồm khấu hao máy thi công và TSCĐ khác sử
dụng cho hoạt động sản xuất và phục vụ sản xuất ở các tổ, đội, bộ phận thi công.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các dịch vụ bên ngoài cung cấp cho
hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì kế toán của doanh nghiệp. Chi phí này giúp
nhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng các đơn vị dịch vụ phục vụ cho quản
trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
25
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh
mà doanh nghiệp thường thanh toán trực tiếp trong kì kế toán. Đây chủ yếu là
các dòng tiền mặt chi tiêu nhỏ tại doanh nghiệp. Sự nhận biết tốt yếu tố này
giúp nhà quản trị doanh nghiệp hoạch định được ngân sách chi tiêu trong doanh