1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là
: Lê Thị Ngọc Ánh
Sinh ngày
: 09/02/1989
Nơi sinh
: Hưng Yên
Học viên lớp
: CH19B – Chuyên ngành Kế toán
Khóa 2013 – 2015
: Trường Đại học Thương mại
Mã số
: 60340301
Tôi xin cam đoan:
1. Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Thị Ngọc Ánh
3
3
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH, BHYT, BHTN
BTC
BH
BP
BTP
CCDC
CP
CPNCTT
CPNVLTT
CPSXC
CBCNV
CVP
CK
DT
DN
ĐHĐCĐ
ĐVT
ĐP
Chi phí – sản lượng – lợi nhuận
Cuối kỳ
Doanh thu
Doanh nghiệp
Đại hội đồng cổ đông
Đơn vị tính
Định phí
Hội đồng quản trị
Hoàn vốn
Kế toán quản trị
Máy móc thiết bị
Nhân công trực tiếp
Nhập kho
Nhân viên phân xưởng
Nguyên vật liệu
Kinh phí công đoàn
Kế toán tài chính
Quyết định
Quản lý doanh nghiệp
Sản phẩm
Sản phẩm dở dang
Sản xuất
Toàn bộ
Tài khoản
Tỷ lệ
4
4
Công ty May thuộc Bộ Quốc phòng” cho nghiên cứu của mình với mong muốn
tìm ra những đóng góp vào công việc đổi mới phương thức quản lý của các Công ty
May thuộc Bộ Quốc phòng nói riêng và các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói
chung để góp phần vào sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập.
6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành là công việc không thể
thiếu trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt
chi phí, qua đó nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Vì vậy, trong các nghiên cứu trước đây đã có một số tác giả nghiên cứu về
công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp như: Luận án tiến sỹ của NCS.
Đinh Thị Kim Xuyến (2014) “Công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại
các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam”- Luận án Tiến sỹ kinh tế- Chuyên ngành
Kế toán, Học viện Tài chính. Trong luận án này đã nêu lên được công tác kế toán
quản trị tại các doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện kế toán quản
trị chi phí như: phân loại chi phí theo cách ứng xử, lập dự toán linh hoạt, xác định
lại đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí
sản xuất chung. Dù vậy trong luận văn này mới chỉ tập trung vào một số doanh
nghiệp viễn thông tiêu biểu, chưa thực sự đưa ra những giải pháp hiệu quả thực sự
đối với ngành viễn thông nói chung. Ngòai ra, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, chuyên
ngành Kế toán, Đại học Thương Mại, Vũ Thị Ngoan (2014): “Kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành tại các công ty sản xuất tủ điện trên địa bàn Hà Nội”,
trong luận văn này tác giả đặt ra ứng dụng kế toán quản trị chi phí tại các doanh
nghiệp sản xuất tủ điện trên địa bàn Hà Nội nên đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện
kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp này. Trong luận văn này, tác giả chủ
yếu đi vào những đặc trưng của doanh nghiệp sản xuất tủ điện trên địa bàn khá lớn
và có quy mô lẫn mức độ ứng dụng kế toán quản trị khác nhau nên giải pháp đưa ra
xuất và giá thành tại các Công ty May thuộc Bộ Quốc Phòng
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
tại Công ty, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành các Công ty May thuộc Bộ Quốc Phòng
4. Câu hỏi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về kế toán quản trị chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm tại các công ty May thuộc Bộ Quốc phòng. Tác giả có đặt ra
một số câu hỏi:
- Cơ sở lí luận của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp sản xuất là gì?
8
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm tại các công ty May thuộc
Bộ Quốc phòng được thực hiện như thế nào? Có ưu điểm và hạn chế gì?
- Cần có những giải pháp và điều kiện gì để hoàn thiện kế toán quản trị chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong công ty May thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn
liên quan đến kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành tại các Công ty May
thuộc Bộ Quốc phòng gồm: Công ty X20, Công ty May 19
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: luận văn nghiên cứu, khảo sát tại một số công ty May
thuộc Bộ Quốc phòng: Công ty X20, Công ty May 19
+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu dựa trên số liệu thực tế phát sinh và tình
hình kinh doanh năm 2013, 2014 của các công ty May thuộc Bộ Quốc phòng
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề đặt ra cần nghiên cứu để tài luận văn sử dụng
phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với duy vật lịch sử để xem xét các vấn đề
cần nghiên cứu từ lý thuyết đến thực tế. Bên cạnh đó luận văn sử dụng các phương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm các Công ty May thuộc Bộ Quốc Phòng.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm các Công ty May thuộc Bộ Quốc Phòng.
10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Tổng quan về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Khái niệm và bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành trong
doanh nghiệp
Kế toán là công cụ quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, có chức năng thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho quyết định
kinh tế. Song, do phạm vi và mục đích cụ thể là cung cấp thông tin khác nhau nên
kế toán được phân chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Trong đó, thông
tin kế toán tài chính chủ yếu phục vụ nhu cầu của các đối tượng bên ngoài doanh
nghiệp, thông tin của kế toán quản trị lại được cung cấp cho nhà quản trị các cấp để
quản lý, điều hành trong nội bộ doanh nghiệp
Xuất phát điểm của KTQT là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá
trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất nhằm đề ra
các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh
theo từng hoạt động. Dần dần cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói
chung, khoa học kế toán cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ năm
1957 trở lại đây, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã đi sâu
nghiên cứu và áp dụng những thông tin kế toán phục vụ cho yêu cầu quản lý. Sự
người làm công tác quản lý.
- Kế toán quản trị là một bộ phân của công tác kế toán nói chung, một chức
năng quan trọng không thể thiếu đối với hệ thống quản lý doanh nghiệp.
Kế toán chi phí và giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính là bộ
phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí đã phát sinh trong tổ
chức theo đúng nguyên tắc, chuẩn mực kế toán để cung cấp thông tin về giá thành,
giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động và giá trị hàng tồn kho trên Báo cáo tài
chính. Còn kế toán chi phí và giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán quản trị, bộ
phận kế toán chi phí có chức năng định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình
bày, giải thích và truyền đạt về thông tin chi phí (bao gồm cả những thông tin quá
12
khứ, dự báo và ước tính) của các sản phẩm, các hoạt động, các trung tâm chi phí và
khả năng sinh lời của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, có thể hiểu kế toán quản trị chi phí và giá
thành chính là một bộ phận chuyên môn của hệ thống kế toán quản trị có nhiệm vụ
cung cấp thông tin về chi phí cho các nhà quản lý các cấp trong mỗi tổ chức để thực
hiện quản lý các nguồn lực nhằm thực hiện các chức năng quản lý doan nghiệp
1.1.2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp
1.1.2.1. Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu quan trọng trong các
doanh nghiệp sản xuất. Việc giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp
tăng lợi nhuận, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy kế toán quản trị chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Kế toán quản trị chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm sẽ cung cấp thông tin cho các các nhà quản trị trong việc thực
hiện các chức năng quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch sản
xuất, tổ chức và điều hành sản xuất , kiểm soát và ra quyết định sản xuất kinh doanh
thống báo cáo kế toán quản trị chi phí, giúp các cấpquản trị doanh nghiệp ra các
quyết định kinh doanh hợp lý và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.2.Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp sản xuất
Kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc dự toán và lập kế hoạch
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài ra KTQT còn là một công
cụ để phân tích, đánh giá việc thực hiện các chi phí, doanh thu, lợi nhuận và vai trò
quan trọng nhất của KTQT là công cụ cho ban quản trị ra quyết định góp phần nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. KTQT đóng vai trò quan trọng trong tổ
chức bộ máy của các doanh nghiệp. Chính những lợi ích KTQT mang lại, việc tổ
chức và thực hiện KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành tại các doanh nghiệp sản
xuất là một yêu cầu cấp thiết
14
1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản
xuất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ
trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, chúng giống nhau ở chỗ
đều là chi phí (về chất ). Tuy nhiên, có sự khác nhau về lượng do có yếu tố sản
phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ cũng như về sản phẩm hỏng. Song nếu trong
trường hợp doanh nghiệp có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hay
không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
1.2.1.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất.
Theo quan điểm của kế toán tài chính thì chi phí được định nghĩa: “Chi phí
sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa mà
doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định” [5, tr.85]. Theo quan điểm này, chi phí phải được ghi nhận theo nguyên tắc
chất sự nghiệp. Do đó, không phải bất cứ khoản chi phí nào của doanh nghiệp cũng
được gọi là chi phí sản xuất mà chỉ những khoản chi phí cho việc tiến hành sản xuất
mới được gọi là chi phí sản xuất.
Thực chất chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn của
doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào
quá trình sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá
trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch
toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kỳ:
năm, quý, tháng,…. Chi phí sản xuất gồm nhiều loại khác nhau để phục vụ công tác
kế toán quản trị chi phí Doanh nghiệp có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuất
theo một số tiêu thức điển hình như sau:
Thứ nhất: Phân loại chi phí theo chức năng.
Theo cách phân loại này, DN căn cứ vào vai trò của chi phí với từng chức
năng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Phân loại chi phí sản xuất theo chức
năng là cơ sở để tập hợp chi phí và xác định giá thành sản phẩm, đồng thời cung cấp
thông tin cho việc lập báo cáo tài chính.
16
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành 3
khoản mục chi phí cơ bản: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, Chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sản xuất chung.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm chi phí về nguyên liệu, vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng cho sản xuất trực tiếp sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm chi phí về tiền lương, các khoản phụ cấp
có tính chất lương cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và các khoản trích
bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của lao động trực tiếp sản
xuất.
- Chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất
vượt quá mức căn bản, do đó phần này sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức sử dụng
trên mức căn bản.
Để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát chi phí hỗn hợp, nhà quản trị
cần phân tích chi phí hỗn hợp để xác định biến phí, định phí theo phương pháp phù
hợp. Các phương pháp phân tích thường được kế toán quản trị sử dụng là:
-Phương pháp cực đại cực tiểu: căn cứ trên chi phí phát sinh và mức hoạt
động qua các thời kỳ, xác định số liệu chênh lệch của chi phí tương ứng với mức độ
hoạt động cao nhất và thấp nhất trong kỳ hạch toán, từ đó xác định biến phí đơn vị.
Căn cứ vào kết quả tính được, các mức hoạt động, chi phí ứng với các mức hoạt
động đó để xác định chi phí. Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến do đơn
giản và dễ áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ quản tâm đến mức độ hoạt
động tối đa, tối thiểu mà bỏ qua giá trị của các mức độ hoạt động khác do đó kết
quả chưa thực sự chính xác.
-Phương pháp bình phương bé nhất: Căn cứ trên sự tính toán của phương
trình tuyến tính: Y = ax+ b. Từ phương trình tuyến tính căn bản này tiến hành khảo
sát chi phí hỗn hợp ở các mức độ khác nhau và thiết lập hệ phương trình tuyến
-Phương pháp đồ thị phân tán : Là một công cụ phân tích chi phí rất hữu ích
nhất là đối với những chuyên gia phân tích có kinh nghiệm. Đường biểu diễn của
chi phí trên đồ thị thể hiện rõ những đặc trưng hoặc những ảnh hưởng của các sự
kiện kinh tế, xã hội … đến chi phí.
18
Việc phân biệt định phí và biến phí giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
xác định đúng phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả của chi phí SXKD,
phấn đấu để nâng cao hiệu lực của định phí trong sản xuất kinh doanh.
• Thứ ba: Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định.
Chi phí được chia thành: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.
- Chi phí kiểm soát được: Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lí nào đó
dụng theo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho họ.
- Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh trong quá khứ và không bị ảnh
hưởng bởi các phương án hoạt động trong hiện tại cũng như tương lai của doanh
nghiệp. Chi phí chìm là khoản chi phí có trên sổ sách kế toán nhưng là những chi
phí giống nhau ở mọi phương án nên nó là chi phí không thích hợp đối với việc ra
quyết định và không phải cân nhắc khi lựa chọn các phương án.
1.2.1.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa được tính cho một lượng sản phẩm hoàn thành. Các
chi phí sản xuất sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính và định lượng. Mặt
định tính của chi phí sản xuất đó là các yếu tố chi phí hiện vật hay bằng tiền tiêu
hao trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Mặt định lượng của chi phí thể hiện
mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí tham gia vào quá trình sản xuất, chế tạo
để cấu thành nên thành phẩm, biểu hiện bằng thước đo tổng quát là thước đo giá trị.
Mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi
các doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí sản xuất và thu được sản phẩm, công
việc lao động đã hoàn thành và đảm bảo trang trải, bù đắp những chi phí đầu vào
của doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất và phải có lãi, do đó để thu được
lợi nhuận doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định giá bán
Mặt khác giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất
lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanh
nghiệp. Mức giá thành và tỷ lệ hạ giá thành có thể thể hiện trình độ sử dụng hợp lý,
tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng,... khả năng tận dụng công nghệ máy móc,
mức độ trang thiết bị và áp dụng kỹ thuật máy móc,..
20
Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm, doanh
nghiệp có thể tiến hành phân loại giá thành sản phẩm theo các tiêu thức sau:
21
sản phẩm, và là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.2.2. Lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành trong doanh nghiệp
Dự toán chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản trị doanh
nghiệp.Dự toán là việc tính toán, dự kiến phối hợp giữa các mục tiêu cần đạt được
với khả năng huy động các nguồn lực trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
theo các chỉ tiêu số lượng, giá trị trong khoảng thời gian nhất định trong tương lai.
Dự toán chi phí sản xuất là cơ sở để các nhà quản trị kiểm tra, giám sát quá trình sản
xuất kinh doanh và đánh giá kết quả các biện pháp thực hiện. Mặt khác, dự toán chi
phí sản xuất kinh doanh giúp các nhà quản lý phát hiện, ngăn ngừa và hạn chế
những rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, trong nền kinh
tế thị trường muốn tồn tại và phát triển, các nhà quản lý cần dự toán được các chi
phí sản xuất kinh doanh để từ đó đưa ra được các chiến lược biện pháp tổ chức quản
lí sản xuất kinh doanh hợp lý.
Quá trình xây dựng dự toán chi phí là một quá trình bao gồm nhiều nội dung
như: dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp và
dự toán chi phí sản xuất chung.
Kết thúc của quá trình xây dựng dự toán chi phí sản xuất, nhà quản trị sẽ có cơ sở
để so sánh với số liệu thực tế để đưa ra các đánh giá về tình hình thực hiện dự toán.
Nếu có chênh lệch giữa số liệu thực tế và số liệu dự toán, nhà quản trị cần đi
sâu vào tìm hiểu nguyên nhân, đánh giá xem sự sai lệch đó là do nguyên nhân
khách quan hay nguyên nhân chủ quan như: thay đổi về giá cả thị trường, tay nghề
của người lao động, chất lượng của máy móc, thiết bị sản xuất ảnh hưởng đến năng
suất lao động… từ đó đề ra được phương hương khắc phục hay điều chỉnh dự toán
cho phù hợp.
Dự toán sản xuất kinh doanh được xây dựng cho từng bộ phận, từng đơn vị
trực thuộc và tổng hợp chung toàn doanh nghiệp, dự toán được thiết lập cho cả kỳ
kinh doanh (năm) và được cụ thể cho từng giai đoạn (các quý).
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+
Dự toán sản lượng
cho 1 đơn vị sản phẩm
Số lượng NVL
đơn vị SP
-
tiêu thụ trong kỳ
Định mức số lượng NVL
lượng NVL cho 1 = cần thiết để SX 1 +
đơn vị SP
x Định mức chi phí NVLTT
x
Số lượng NVL hao
hụt cho phép trong
SX 1 đơn vị SP
(nếu có)
Sản lượng dự
kiến tồn cuối kỳ
=
Định mức chi phí NCTT/ 1SPSX
lượng sản xuất
x
Trong đó:
Định mức chi phí NCTT
=
Định mức thời gian cần
x
Định mức giá 1 đơn vị
để SX 1 đơn vị SP
thiết để SX 1 đơn vị SP
thời gian sản xuất
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được lập cho từng loại sản phẩm , sau đó
tổng hợp lại được dự toán chi phí nhân công trực tiếp cho toàn doanh nghiệp. Dự
toán chi phí nhân công trực tiếp giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc sử dung
lao động, đem lại hiệu quả tốt nhất.
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt
động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng. Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu
tố chi phí biến đổi và chi phí cố định. Dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đến
toán biến phí sản xuất chung được xác định như sau:
Dự toán biến phí
= Dự toán biến phí trực tiếp
x
Tỷ lệ biến phí SXC với
sản xuất chung
biến phí trực tiếp
Nếu xác định được tiêu chuẩn phân bổ chi phí sản xuất chung và đơn giá phân
bổ biến phí sản xuất chung thì dự toán biến phí sản xuất chung được xác định.
Dự toán biến phí
=
Tiêu chuẩn phân bổ chi
sản xuất chung
phí sản xuất chung
1.2.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
x
Đơn giá phân bổ biến phí SXC
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác
nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao vụ khác nhau hay
cũng có thể được tập hợp qua các phương pháp khác nhau. Các nhà quản trị doanh
hạch toán ban đầu, chi phí sản xuất phát sinh được phản ánh riêng cho từng đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất trên chứng từ ban đầu, để căn cứ vào chứng từ
thực hiện hạch toán trực tiếp chi phí sản xuất cho từng đối tượng riêng biệt.
Phương pháp phân bổ: Phương pháp này được áp dụng cho những trường
hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí. Khi thực hiện
phương pháp phân bổ chi phí doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các căn cứ
phân bổ sau: Giờ công, ngày công, giờ máy hoạt động, diện tích sử dụng….. và
phương pháp phân bổ trực tiếp hoặc phân bổ theo cấp bậc.
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức(CT1.2.1)
Hi
=
Ti
∑Ti
Trong đó:
- Hi: Là hệ số phân bổ chi phí cho đối tượng i
- Ti: Tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
- ∑Ti: Tổng tiêu chuẩn phân bổ
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể