luận văn thạc sĩ kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần catalan - Pdf 41

NGUYỄN CHÍ THỨC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

LÊ XUÂN QUÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CATALAN

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

LỚP: CH18A – QLKT

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

LÊ XUÂN QUÝ

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CATALAN

giáo viên bộ môn, sự quan tâm của các thầy cô cùng với sự nỗ lực của bản thân, đặc
biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS. Trần Hải Long đến nay tôi đã hoàn thành luận
văn với đề tài: “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty cổ phần Catalan”.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Hải Long, người trực
tiếp hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên khoa Kế toán, tập thể giáo viên
khoa sau Đại học, các thầy cô trong ban Giám hiệu đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Ngoài ra để có được kết quả như ngày hôm nay phải kể đến công lao của
các cô, chú anh chị trong phòng kế toán tại Công ty Cổ phần Catalan. Tôi xin gửi
lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cô, chú, anh chị trong công ty, đặc biệt là
phòng kế toán công ty đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi tiếp cận với thực tế về
công tác kế toán nói chung và công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính
giá thành sản xuất nói riêng, đồng thời tư vấn và giải đáp các thắc mắc giúp tôi
hoàn thành đề tài này.
Xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành
đề tàì này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Tác giả

Lê Xuân Quý


iii

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
2.1.2. Chức năng...................................................................................................................26

Bảo hiểm thất nghiệp

CCDC

Công cụ dụng cụ

CPBH

Chi phí bán hàng

CPSX

Chi phí sản xuất

CPQLDN

Chi phí quản lý doanh nghiệp

DD

Dở dang

KPCĐ

Kinh phí công đoàn

KTQT

Kế toán quản trị


Sản phẩm dở dang cuối kỳ

SXC

Sản xuất chung

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TK

Tài khoản

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ

Tài sản cố định


1

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp hoạt động theo
chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá thành kế hoạch
định sẵn. Vì vậy, việc xác định hiệu quả sản xuất thông qua công tác kế toán chi phí

Ngành xây dựng với đặc điểm nổi bật là sản phẩm của ngành phức tạp, đa
dạng, có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài, các công trình, dự án có tính đơn
chiếc, đặc thù ... dẫn đến công tác quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm luôn
biến động, có sự khác biệt nhất định giữa các công trình. Do đó hạch toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Nhờ số liệu mà kế toán cung cấp,
Ban lãnh đạo có thể theo dõi, tính toán chi phí của từng công trình, từng giai đoạn
sản xuất, xác định được hiệu quả sản xuất kinh doanh và quan trọng hơn là tìm ra
các giải pháp quản lý để tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh và tăng sức canh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy công tác tập hợp
chi phí và tính giá thành sản phẩm luôn được Ban Lãnh đạo nói chung và bộ máy
tài chính kế toán nói riêng của các doanh nghiệp quan tâm thực hiện và hoàn thiện
các quy trình ghi chép, tập hợp và quản lý. Đòi hỏi doanh nghi ệp phải đưa ra những
tiêu chí, biện pháp, lịch trình cụ thể trong đó công tác tập hợp chi phí và tính giá thành
là một vấn đề quan trọng và cần được hoàn thiện. Chính vì vậy mà ở các phạm vi và
lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có rất nhiều tác giả bàn luận về vấn đề này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm, mỗi tác giả lại có cách nhìn nhận, suy nghĩ khác nhau làm đa
dạng hơn vấn đề cần nghiên cứu.
Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2012) Trường Đại
học Thương mại với đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắptại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ
tầng” tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị chi phí
và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây lắp tìm ra được những
ưu, nhược điểm từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp thuộc Tổng
công ty xây dựng và phát triển hạ tầng.



Với mục tiêu đã xác định, đề tài nghiên cứu những lý luận chung về kế toán
quản trị chi phí và giá thành trong doanh nghiệp cung cấp vật liệu, đồng thời nghiên
cứu thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành tại Công ty cổ phần
Catalan.


4

* Phạm vi nghiên cứu:
Với mục tiêu đã xác định, đề tài nghiên cứu đề tài nghiên cứu các vấn đề thuộc
kế toán quản trị chi phí và giá thành phục vụ cho công ty Cổ phần Catalan.
- Về thời gian: Nghiên cứu các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, hệ thống chứng từ
sổ sách kế toán, các báo cáo… chủ yếu trong năm tài chính 2015 và 2016.
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện công tác kế toán
quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Catalan.
4. Mục tiêu nghiên cứu và đóng góp của đề tài.
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận chung về kế toán quản trị chi
phí và tính giá thành sản phẩm.
- Vận dụng lý luận nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Catalan.
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rút ra những ưu nhược điểm và đề xuất các
giải pháp mang tính đồng bộ góp phần hoàn thiện kế toán quản trị chi phí và tính
giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Catalan.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý của Công ty cổ
phần Catalan trong việc đưa ra các giải pháp tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu
thập dữ liệu bằng cách sử dụng nguồn sơ cấp và thức cấp tại Công ty Cổ Phần
Catalan, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích, tổng hợp và các
phương pháp khác để làm rõ đối tượng nghiên cứu.

kế toán tài chính, mà chi phí còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông
tin phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Vì vậy, chi phí có thể là phí tổn thực
tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng có thể là chi phí ước
tính khi thực hiện dự án hay giá trị mất đi khi lựa chọn phương án, hoạt động này mà
bỏ qua phương án, hoạt động khác.
Chi phí sản xuất có các đặc điểm như sau:
+ Những phí tổn về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh gắn
liền với mục đích kinh doanh.
+ Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao
trong kỳ và giá của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí.


6

+ Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đo lường bằng
thước đo tiền tệ và được xác định trong một khoảng thời gian xác định.
b) Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất trong các Doanh nghiệp gồm nhiều loại với tính chất kinh
tế, mục đích, công dụng và yêu cầu của quản lý khác nhau. Để hạch toán đúng đắn
chi phí sản xuất và đáp ứng các yêu cầu của nhà quản trị Doanh nghiệp cần phân
loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, những chi phí có tính chất, nội dung kinh tế giống
nhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt
động sản xuất nào, ở đâu.
Toàn bộ các chi phí sản xuất của Doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên liệu,
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất.
- Chi phí nhân công: Gồm có toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân sản
xuất, tiền trích BHXH, KPCĐ, BHTN của công nhân sản xuất.

+ Chi phí dịch vụ cho khâu bán hàng, như chi phí quảng cáo, hoa hồng, hội
chợ, chi phí bảo hành, khuyến mãi...
+ Chi phí bằng tiền khác liên quan đến công tác tiêu thụ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi liên quan đến công tác
quản lý chung, công tác quản lý văn phòng toàn doanh nghiệp. Đây là các loại chi
phí liên quan đến cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp và chủ yếu phụ thuộc vào quy
mô hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí quản lý không chỉ bao gồm các chi phí
cho công tác quản lý hành chính chung mà còn các khoản chi không được hoạch
toán vào chi phí sản xuất và chi phí bán hàng.
- Các chi phí khác: Là những khoản chi phí không liên quan đến quá trình hoạt
động của doanh nghiệp như chi phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động khác.
Phân loại chi phí theo tính chất của chi phí.
Cách phân loại này dựa vào mối quan hệ của chi phí phát sinh với đối tượng
chịu chi phí thể hiện như thế nào. Theo cách thức phân loại này chi phí được phân
thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Đây là những chi phí tham gia cấu thành nên
thực thể của sản phẩm hay chứa đựng giá trị của lao động kết tinh trong sản phẩm
dịch vụ.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan nhiều đối tượng sản
phẩm, dịch vụ khác nhau. Chi phí gián tiếp không tham gia trực tiếp chế tạo ra sản
phẩm nhưng không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí gián


8

tiếp bao gồm nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, vừa phản ánh chi
phí vật chất, vừa thể hiện hao phí lao động và không thể xác định cho từng đối
tượng cụ thể nên phải được tập hợp chung và được phân bổ cho đối tượng chịu chi
phí theo các tiêu thức khác nhau.


quả hoạt động của từng bộ phận, sản phẩm.
• Phân loại chi phí phục vụ cho quản trị
Để phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là phụ vụ cho việc ra
quyết định chi phí được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Tùy thuộc vào
chức năng, yêu cầu quản lý trong từng trường hợp cụ thể, chi phí được phân thành
những loại chủ yếu sau.
- Phân loại chi phí theo chức năng
Phân loại chi phí theo chức năng cho biết vai trò, chức năng của từng loại chi
phí đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại chi phí theo
chức năng sẽ cung cấp thông tin về chi phí một cách chi tiết, cụ thể phục vụ cho
việc lập báo cáo tài chính theo định kỳ của doanh nghiệp.
- Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với kỳ xác định kết quả
kinh doanh
Theo quy định, sau mỗi kỳ hoạt động các doanh nghiệp đều phải lập báo cáo
xác định kết quả kinh doanh trên cơ sở so sánh giữa thu thập và chi phí trong kỳ.
Theo mối quan hệ này, chi phí được phân thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
+ Chi phí sản phẩm: Là những chi phí gắn liền với việc sản xuất ra sản phẩm
hoặc chi phí để mua hàng hóa nên có liên quan đến kết quả của nhiều kỳ kinh doanh.
+ Chi phí thời kỳ: Là chi phí liên quan đến các dòng chi phí phát sinh kỳ nào
sẽ được kết chuyển toàn bộ để xác định kết quả kinh doanh của kỳ đó.
Phân loại chi phí theo nội dung này để các nhà quản trị nhận thức được vai trò
của công tác quản lý chi phí sản xuất dở dang, thành phẩm tồn kho và có sự đánh
giá đúng đắn khi so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh giữa các kỳ khác nhau.
- Phân loại theo cách ứng xử của chi phí.
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất chia thành 3 loại
+ Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương quan
tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
+ Chi phí bất biến (định phí): là những khoản chi phí không biến đổi khi mức
độ hoạt động thay đổi.

Phân loại chi phí kế toán chi phí phục vụ cho việc tập hợp, phân bổ chi phí
vào đúng các đối tượng theo từng quy trình, công nghệ sản xuất nhất định.
1.1.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm.
a) Khái niệm.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng trong doanh nghiệp
sản xuất. Thông qua chỉ tiêu này có thể thấy được năng lực, hiệu quả của công nghệ
sản xuất, công tác quản lý sản xuất trong việc phối hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra
sản phẩm đầu ra. Giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán của sản phẩm
hàng hóa trên thị trường.


11

Theo giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp của Trường Đại học
Kinh tế quốc dân (2011): “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các khoản hao phí về lao động sống vào lao động vật hóa có liên quan đến khối
lượng, công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.”.
Theo Giáo trình kế toán quản trị (2009) trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về
lao động sống và lao động vật hóa được tính cho một đại lượng, kết quả, sản phẩm
hoàn thành nhất định”.
Cùng quan điểm trên Giáo trình Kế toán tài chính (2009) của Đại học
Thương Mại (trang 242) cho rằng: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền
các chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ) nhất
định đã hoàn thành”.
Tóm lại, từ những khái niệm trên có thể hiểu giá thành sản phẩm là toàn bộ
chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra tính cho khối lượng sản phẩm đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có mối quan hệ với nhau, giá thành
sản phẩm có chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá. Để bù đắp chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra cho sản xuất sản phẩm thì chính là số tiền thu được khi tiêu thụ

+ Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý định phí sản xuất là giá thành bao
gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn thành và một phần
định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so với mức hoạt
động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn). Phần định phí còn lại chính là
chi phí hoạt động dưới công suất sẽ được ứng xử như chi phí thời kỳ, tức là được
tham gia xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.
 Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
+ Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính toán giá thành kế hoạch do bộ phận
kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình
sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu
của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
+ Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm, nó được tính trước khi tiến
hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Đây là một công cụ để doanh nghiệp có
thể quản lý được định mức chi phí, xác định được kết quả sử dụng tài sản, vật tư, tiền
vốn,... đánh giá đúng những giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện
+ Giá thành thực tế của sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất
và sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Chỉ tiêu này chỉ xác định được


13

khi kết thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3. Nhiệm vụ kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp sản xuất.
 Nhiệm vụ.

hoàn hảo, không có sự gián đoạn trong thời gian sản xuất.
- Định mức thực tế là định mức được xây dựng chặt chẽ trên cơ sở phù hợp
với điều kiện thực tế và có khả năng đạt được. Hệ thống định mức chi phí trong
doanh nghiệp bao gồm:
+ Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Để tính định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải tính được mức giá và
định mức lượng của NVL.
Định mức lượng NVL
Lượng NVL cần thiết
Mức hao hụt
cho một đơn vị SP
=
sản xuất 1 đơn vị SP
+
cho phép
Định mức giá một đơn vị nguyên vật liệu bằng giá mua cộng với chi phí thu
mua. Định mức này do nhân viên kỹ thuật kết hợp với kế toán giá thành xác định.
Định mức chi phí

=

Định mức lượng

Định mức giá

x

nguyên vật liệu
nguyên vật liệu
+ Định mức chi phí nhân công trực tiếp


=

Định mức giá biến

x

Định mức lượng thời gian


15

sản xuất chung
phí sản xuất chung
lao động trực tiếp
Định mức định phí sản xuất chung: Loại định mức này cũng được xây dựng
tương tự như định mức biến phí sản xuất chung
Định mức định phí
sản xuất chung

Định mức giá định
=

phí sản xuất chung

Định mức lượng thời gian
x

lao động trực tiếp


sản xuất

Nhu cầu tiêu
=

thụ kế hoạch

Nhu cầu tồn
+

kho cuối kỳ

Sản phẩm tồn
-

kho đầu kỳ

Doanh nghiệp cần lập kế hoạch lượng sản phẩm tồn kho để chủ động và tránh
tình trạng tồn kho quá nhiều làm ứ đọng vốn và phát sinh những chi phí không cần
thiết. Mặt khác cũng tránh tình trạng thiếu sản phẩm dẫn đến nhu cầu sản phẩm cần
sản xuất có thể vượt quá năng lực sản xuất của DN.
Lập dự toán chi phí sản xuất
Quá trình xây dựng các dự toán chi phí sản xuất bao hàm tất cả các chức năng
và các cấp quản lý, nó gắn liền với quạn trị sản xuất kinh doanh của cơ sở, tạo điều
kiện trong việc phát huy tính chủ động sáng tạo của đơn vị cơ sở và tính khả thi của
dự toán đã lập, mặt khác tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát của đơn vị cấp trên. Căn
cứ hệ thống định mức các chi phí sản xuất kinh doanh, DN tiến hành lập các dự
toán chi phí sản xuất gồm:
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán CPNVLTT được lập trên cơ sở dự toán sản xuất và định mức chi phí

BL: Chi phí nhân công trực tiếp dự toán
Q: Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch
L: Định mức thời gian lao động/ sản phẩm
PL: Đơn giá tiền lương/ giờ lao động
Mức độ sử dụng nhân công trực tiếp cũng được quyết định bởi mối quan hệ về
mặt kỹ thuận giữa lao động và sản phẩm đầu ra, tức là định phí thời gian lao động/
sản phẩm.
Đối với đơn giá tiền lương, mặc dù đơn giá tiền lương có thể được xác định
bởi quyết định của nhà quản lý hoặc hợp đồng lao đông nhưng việc xác định mức
đơn giá tiền lương tiêu chuẩn cho một sản phẩm để lập dự toán có thể gặp khó khăn
bởi vì có thể có những người làm cùng một công việc trong kỳ nhưng lại được
hưởng các mức lương khác nhau (do trình độ lao động hay do thỏa thuận). Để xác
định đơn giá tiền lương tiêu chuẩn, có thể tính bình quân mức lương trả cho tất cả
các nhân công trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm.
- Dự toán chi phí sản xuất chung
Mục đích của dự toán chi phí sản xuất chung là chỉ ra mức độ dự kiến của tất
cả các chi phí sản xuất gián tiếp. Khác với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi
phí nhân công trực tiếp, không sẵn có một mối quan hệ đầu ra – đầu vào cho khoản


18

chi phí sản xuất chung. Tuy nhiên chi phí sản xuất chung bao gồm biến phí sản xuất
chung và định phí sản xuất chung. Vậy dự toán chi phí sản xuất chung bao gồm dự
toán định phí sản xuất chung và dự toán biến phí sản xuất chung. Việc chia nhỏ các
khoản mục chi phí và sử dụng các số liệu thống kê trong quá khứ sẽ giúp chúng ta
xác định chi phí sản xuất chung sẽ biến động như thế nào theo mức độ hoạt động
của DN bằng việc áp dụng các phương pháp ước tính chi phí.
Dự toán chi phí sản



hoạch

Khối lượng sản phẩm sản xuất theo kế hoạch

1.2.2. Xử lý, phân tích thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu là phương pháp so sánh giữa kỳ
phân tích với kỳ gốc của tổng số cũng như từng loại chi phí (so sánh tuyệt đối và so
sánh tương đối) nhằm đánh giá công tác quản lý chi phí, đồng thời xác định trọng
điểm quản lý chi phí của doanh nghiệp.
Phân tích các thông tin chi phí sản xuất là phân tích các biến động chi phí:
biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, biến động chi phí nhân công trực tiếp và
biến động chi phí sản xuất chung.
Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu: Biến động chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp là chênh lệch giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh với
chi phí nguyên vật liệu dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế. Do chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp phụ thuộc vào hai nhân tố là mức tiêu hao NVL và đơn giá NVL
nên biến động CPNVLTT được tách thành biến động mức tiêu hao NVL và biến
động giá NVL.


19

Biến động
mức tiêu hao
NVL
Biến động

Mức tiêu
=

động tốt làm giảm chi phí NVL.
Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp: Biến động chi phí nhân công
trực tiếp là chênh lệch giữa CPNCTT thực tế phát sinh với chi phí nhân công dự
toán cho khối lượng sản xuất thực tế. CPNCTT phụ thuộc vào hai yếu tố là năng
suất lao động và đơn giá nhân công nên biến động CPNCTT được tách thành biến
động năng suất lao động và biến động giá nhân công.
Biến động
NSLĐ
Biến động
giá nhân

Thời gian lao

=

động thực tế
=

-

Thời gian lao

x

động định mức

Đơn giá

Đơn giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status