LỜI NÓI ĐẦU
Theo quy định của pháp luật , một doang nghiệp muốn thành lập cần phải
có một số vốn ban đầu tối thiểu bằng vốn pháp định . tiếp sau đó doanh nghiệp
muốn tiến hành các hoạt động sản xuất –kinh doanh củng cần phỉa có vốn. Chỉ
với đôi lời ngắn gọn trên chúng ta cũng có thể nhận thấy được vai trò vô cùng
quan trọng của vốn đối với một doanh nghiệp. Nó là yếu tố không thể thiếu để
một doanh nghiệp được hình thành , là điều kiện tiền đề của sản xuất kinh
doanh, là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp tồn tại, cạnh tranh
Nhưng vấn đề đặt ra là vốn của doanh nghiệp từ đâu mà có ? Doanh nghiệp
đã huy động từ những nguồn nào?Và doanh nghiệp nên sử dụng nguồn tài trợ
nào là hiệu quả hơn ? Kết hợp sử dụng các nguồn với tỷ lệ như thế nào cho phù
hợp ?
Trong phạm vi bài viết này bằng việc liệt kê các phương pháp , phân tích
các ưu nhược điểm , so sánh lợi ích khi sử dụng các nguồn tài trợ chúng ta sẽ lần
lượt giải quyết các vấn đề trên, đồng thời trong tình trạng thiếu vốn của doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay chúng ta cần phải đưa ra các biện pháp khơi thông
nguồn vốn trong các doanh nghiệp .
1
I.Nguồn vốn và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp doanh nghiệp :
Trong mọi doanh nghiệp ,vốn đều bao gồm 2 bộ phận : vốn chủ sở hữu và vốn
nợ ,mỗi bộ phận này lại được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo
tính chất của chúng .
1.Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp :
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp ,vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm bộ
phận sau :
- Vốn góp ban đầu
- Lợi nhuận không chia .
- Các quỹ của doanh nghiệp
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
1.1.Vốn góp ban đầu :
1.4.Phát hành cố phiếu :
Trong quá trình hoạt động sản xuất –kinh doanh , công ti cổ phần có thể tăng
vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Phát hành cổ phiếu được coi
là hoạt động tài trợ dài hạncủa doanh nghiệp . Công ti có thể phát hành các loại
cổ phiếu sau:cổ phiếu thường và cổ phhiếu ưu tiên
2. Vốn nợ
Để bổ sung vốn cho quá trìng sản xuất –kinh doanh , doanh nghiệp không thể
chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu mà còn có thể sử dụng vốn nợ thông qua các
nguồn : tín dụng ngân hàng , tín dụng thương mại , vay thông qua phát hành trái
phiếu.
2.1.Vốn từ tín dụng ngân hàng :
Nguồn vốn vay từ ngân hàng là 1 trong những nguồn vốn quan trọng nhất
,không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với
toàn bộ nền kinh tế quốc dân .Các ngân hàng thương mại cung cấp rất nhiều
dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp ,trong có việc cung ứng các nguồn vốn .
Không 1 doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín
dụng thương maịi nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị
trường .Doanh nghiệp vay vôn của ngân hàng để đảm bảo cho hoạt đông sản
xuất – kinh doanh ,để tài trợ cho các dự án của doanh nghiệp .
Xét về mặt thời hạn ,vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay
bao gồm : Vay dài hạn ( > 5 năm ) , vay trung hạn ( 1- 5 năm ) , vay ngắn hạn
( < 1 năm ) .Tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân loại trong thực tế
không giống nhau giữa các nước và có thể khác nhau giữa các ngân hàng thương
maị .
Tùy theo tính chất và mục đích sử dụng ,ngân hàng cũng có thể phân loại cho
vay thành các loại như : Cho vay đầu tư tài sản cố định ,cho vay tài sản lưu đông
,cho vay để thực hiện dự án ,cho vay để tiêu dùng …Cũng có những cách phân
chia khác như : Cho vay theo ngành kinh tế ,theo lĩnh vực phục vụ ,hoặc hình
thức bảo đảm tiền vay .
2.2.Tín dụng thương mại :
phần này chùng ta chỉ xem xét trái phiếu cua công ti trên một số khía cạnh cơ
bản .
Một trong những vấn đề cần được xem xét trước khi phàt hành làlựa chọn loại
trái phiếu nào phù hợp với điều kiện của công ti và tình hình trên thị trường tài
chính.vd:sẽ phát hành trai phiếu với thời hạn và lãi suất bao nnhiêu cho thích
hợp. Việc làm này rất quan trọng vì nó liên quan đến việc hấp dẫn của trái phiếu,
khả năng lưu hành.Trước khi phát hành cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm
của mỗi loại trái phiếu .Trên thị trường nhiều nước hiện nay thường lưu hành
nhiều loại trái phiếu công ti sau;
2.4.1Trái phiếu có lãi suất cố định
Laọi trái phiều này thường được sử dụng phổ biến , cho nên khi nói đến trái
phiếu công tin gười ta thường hiểu là trái có lãi suất cố định. Lãi suất được ghi
ngay trên mặt trái phiếu và không thăy đổi trong suốt kì hạn của nó . Như vậy cả
công ti (người đi vay) và người sở hữu trái phiếu (người cho vay) đều biết rõ
mức lãi suất của kghoản nợn trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu . Cách
thức thanh toán lãi của trái phiếu cũng thường được quy định rõ . vd: trả 2 lần
trên năm vào ngày 30/6 và 31/12 hoặc trả 1 năm một lần vào đầu năm hoặc cuối
năm . Trái phiếu thường hấp dẫn người đầu tư không ưa mạo hiêm vì giá trái
phiếu không biến động nên xuống nhiều như khi mua cổ phiếu .
Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu phải tính đến mức độ hấp dẫn
của trái phiếu . Tính hấp dẫn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Thứ nhất :lãi suất của trái phiếu
Nói đến vấn đề lãi suất thì có sự đối lập về lợi ích giữa công ty phát hành và
công chúng đầu tư .Đương nhiên công chúng đầu tư muốn mua trái phiếu có lãi
suất cao còn công ty phát hành thì lại ngược lại ,muốn phát hành trái phiếi có lãi
4
suất thấp để giảm chi phí sử dụng vốn .Vì vậy để trung hòa 2 nhu cầu trên thì
buộc công ty phát hành phải cân nhắc lãi suất có thể chấp nhận được đối với trái
phiếu của họ chứ không thể trả quá cao hay quá thấp cho nhà đầu tư .
Laĩ suất của trái phiếu phải được đặt ra trong mối tương quan so sánh với lãi
có lãi suất thay đổi là do lãi suất của nó phụ thuộc vào 1 số yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế .VD :Lãi suất LIRBOR (
London Interbank Offered Rate ) hoặc lãi suất cơ bản do ngân hàng TW quy
định .Có trường hợp lãi suất thông báo của 1 trái phiếu được ấn định như sau : i
= LIBOR + 1%/năm .
Một vấn đề đặt ra là đối với trái phiếu thả nổi thì sao ? Khi nào thì doanh
nghiệp nên phát hành loại trái phiếu này ? Trong diều kiện có mức lạm phát khá
cao và lãi suất thị trường không ổn định ,doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu
việt của loại trái phiếu này .Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao
5
động của lãi suất thực ,các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một mức lãi suất
thỏa đáng khi so sánh với tình hình thị trường .
VD : Khi mức lạm phát tăng nhanh và ở mức cao ,nếu lãi suất trái phiếu giữ ở
mức cố định thì lãi suất thực tế của trái phiếu giảm xuống do đó giảm hấp
dẫn .Vì vậy mà một số người ưa thích trài phiếu thả nổi .Tuy nhiên loại trái
phiếu này có một vài nhược điểm ,đó là : Doanh nghiệp không biết trước được
về chi phí lãi vay của trái phiếu ,điều này gây khó khăn 1 phần cho việc lập kế
hoạch tài chính của công ty .
Thứ hai:việc quản lí trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn và phức tạp
hơn do phải theo dõi và thông báo cáclần điều chỉnh lãi suất cho người mua cổ
phiếu .
2.4.3 Trái phiếu có thể thu hồi
Một số doanh nghiệp lựa chọn việc phát hành các trái phiếu có thể thu hồi
, tức là doanh nghiệp có thể thu hồi vào một thời điểm nào đó . Trái phiếu như
vậy phải được quy định ngay khi phát hành trái phiếu để người mua trái phiếu
được biết. Doanh nghiệp phải quy định rõ thời hạn thu hồi và giá cả khi doanh
nghiệp chuộc lại trái phiếu . Thông thường người ta quy định thời gian tối thiểu
mà trái phiếu sẽ bị thu hồi , vd trong thời gian 36 tháng
Loại trai phiếu này có những ưu điểm là :
Thứ nhất : có thể sử dụng như một cách điều chỉnh vốn sử dụng . Khi không cần
xuyên bị thâm hụt ngan sách , do đó việc doanh nghiệp chờ được cấp vốn là
rất khó khăn , số lượng hạn chế . HiỆN tại doanh nghiệp nhà nước đang dần
được cổ phần hóa , số lượng doanh nghiệp nhà nước còn lại không nhiều và
thực tế việc sử dụng vốn của nhà nước của các doanh nghiệp này là không
hiệu quả . Lợi nhuận các doanh nghiệp này là không cao , thậm chí còn bị
thua lỗ trong thời gian dài . Trong giai đoạn hiện nay thì nguồn tài trợ này là
khkông hiệu quả, do đó đây không phải là nguồn tài trợ tối ưu , nguồn này
chỉ có hiệu quả trong cơ chế bao cấp trước đây
Với công ti tư nhân thì vốn góp ban đầu do chủ công ti bỏ ra . Do đó
lượng vốn này thường không lớn lắm .
1.2Nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận không chia
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là con đường tốt nhất và khá hấp dẫn
của doanh nghiệp . Vì doanh ngghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ
thuộc vào bên ngoài . Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư
từ lợi nhuận để lại , họ đặt ra phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn
nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng .
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu
như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận , đuợc phép đầu tư .
Đối với doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào
khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính
sách khuyến khích tái đầu tư của nhà nước
Tuy nhiên , đối với các công ti cổ phần thì việc để lại lợi nhuận còn liên
quan đến một số yếy tố rất nhạy cảm . Khi công ty quyết định để lại một
phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư , tức là không dùng đến số lợi nhuận
đó , không dùng để chia lãi cổ phần (lợi tức) hoặc mức cổ tức bị giảm , như
vậy ảnh hưởng đến quyền lợi hiện tại của cổ đông do đó cần phải giữ một tỉ
lệ thích hợp . Nhưng bù lại họ lại có quyên sở hữu số vốn cổ phần tăng lên
của công ti mà họ không cần phải góp thêm
Như vậy giá tự ghi dổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cung với việc tự tài
trợ bằng nguồn vốn nội bộ . Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ
vốn để đẩy mạnh hoạt động nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Vậy tại sao nguồn vốn cổ phần lại có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
như vậy ? Lí do chính là nó khiến cho doanh nghiệp có cảm giác “thoải mái”
được sử dụng một lượng vốn “miễn phí”. Bởi vì doanh nghiệp không có
trách nhiệm phải hoàn lại tiền vốn gốc và khoản lãi suất cho người đầu
tưmua cổ phiếu . Lợi tức cổ phiếu (cổ tức )chỉ phải chi trả khi công ti làm ăn
có lãi . Ngược lại nếu công ti làm ăn thua lỗ hoặc chưa có lãi công ti không
có trách nhiệm hoàn trả ( đương nhiên , việc làm ăn của doanh nghiệp phải
minh bạch , công khai )
Việc thiết lập doanh nghiệp theo mô hình công ti cổ phần hoặc chuyỷen đổi
hình thành doanh nghiệp sang loại hình công ti cổ phần là việc làm được nhà
nước khuyến khích . Vì đây là một loại hình doanh nghiệp có tổ chhức quản
trị hệ thống và hiệu quả và các nhà đầu tư kinh doanh trên thế giới rất ưa
chuộng công ti cổ phần có điều kiện tham gia thị trường chứng khoán do đó
góp phần phát triển thị trường vốn . Tuy nhiên vẫn có những doanh nghiệp
chưa hoàn toàn thích thú với loại công ti cổ phần do việc huy động vốn bằng
phát hành cổ phiếu vẫn còn có những hạn chế và các dàng buộc cần được
doanh nghiệp cân nhắc kĩ lưỡng . Giới hạn phát hành quy định dàng buộc có
tính chất pháp lí . Lượng cổ phiếu tối đa mà công ti được quyền phát hành
8