GIÁ TRỊ TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN
TRƯỜNG TỘ
MỞ ĐẦU
Đúng là thời gian đã và đang ủng hộ Nguyễn Trường Tộ, đưa ông ngày
một về gần với chúng ta, với đất nước hôm nay. Khoa học xã hội và nhân văn
vẫn cần tiếp tục khám phá Nguyễn Trường Tộ, không ít mỹ từ cao sang đã dành
để tôn vinh ông: “Người yêu nước sáng suốt”, “Nhà yêu nước sáng suốt nhất của
thế kỷ XIX”, “Nhà cải cách lớn của dân tộc”, “Nhà phê bình xã hội đầu tiên ở
nước ta”, “Nhà kiến trúc tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XIX”, “Một trí tuệ lớn
mang tầm quốc tế”, “một nhà thiết kế vĩ đại của đất nước ở thế kỷ XIX”.
Tuy nhiên là một trí thức lỗi lạc, vượt trên tầm thời đại, nhưng khi ông
còn sống thì bị bài xích, nghi ngờ, và không được trọng dụng Tư tưởng canh tân
của ông cuối cùng cũng không được thực hiện.
Có thể nói, Nguyễn Trường Tộ là một trong những trí thức tân học đầu ti
ên ở nước ta, có những khác biệt về chất so với những bậc sỹ phu tiền bối Nho
học từ xưa đến bây giờ. Cũng mang tấm lòng ưu thời mẫn thế, yêu nước thương
dân như những tri thức khác trên những khúc quanh của lịch sử, nhưng Nguyễn
tiên sinh lại có một tư tưởng hoàn toàn mới mẻ, một thái độ sống tích cực và đầy
ý thức trách nhiệm đối với dân tộc Mặc dù những ý tưởng cải cách của ông
không được sử dụng và bản thân Nguyễn Trường Tộ không được sử dụng trong
triều đình, ông vẫn là một nhân cách trí thức lớn, đáng để người đời suy ngẫm
và học tập.
Vì vậy nghiên cứu “những giá trị trong tư tưởng cải cách của Nguyễn
Trường Tộ”, để nhận định lại cuộc cải cách của Nguyễn Trường Tộ ở Việt Nam
dưới triều đại nhà Nguyễn. Đồng thời để chỉ ra tính thời sự của những tư tưởng
canh tân của ông, góp phần thiết thực vào việc tìm một giải pháp cho công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay.
1
NỘI DUNG
1. Cuộc đời Nguyễn Trường Tộ.
Sinh ra trong một gia đình Nho học, theo đạo Gia Tô, bố làm nghề
Nguyễn Trường Tộ. Ông cho rằng duy tân để đưa đất nước lên cõi văn minh,
phú cường.
2. Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
2.1. Vấn đề chính thể xã hội
Chính thể xã hội vừa là cơ sở tồn tại vừa là mục tiêu hướng tới của mọi
phương diện hoạt động trong cuộc sống của một quốc gia, kể cả một khi có công
cuộc duy tân. Sau Nguyễn Trường Tộ, với các nhà Duy Tân, Đông Kinh nghĩa
thục ở đầu thế kỷ XX thì công cuộc duy tân đã dược tiến hành với khát vọng xây
dựng một xã hội dân chủ tư sản. Trong khi với Nguyễn Trường Tộ trước đó thì
vẫn duy trì chế độ phong kiến. Bản điều trần “Ngôi vua là quí, chức quan là
trọng” (cuối tháng 5.1866) thể hiện rõ điều đó. Tuy nhiên phải thấy mô hình chế
độ phong kiến mà Nguyễn Trường Tộ nhe nhắm lại có những nét riêng so với
chế độ phong kiến đương thời của nhà Nguyễn như sau:
-Đã thấy rõ những mặt trái; những xấu xa của chế độ phong kiến đương
thời. Sau này có người mệnh danh ông là “Nhà phê bình xã hội đầu tiên ở nước
ta”, chính là từ đó. “Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sinh tai
biến để cảnh cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của nhân dân đã
kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi. Trong triều đình quần thần
chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn
chặn các bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy
cũng đã nhiều. Ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác
phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ nước,
việc đó đã xảy ra lâu rồi… đối ngoại thì không có cách nào để động đến một
mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho,
lại đi tàn sát nhân dân mình, giận cá chém thớt. Khiến cho dân bị cái hại “cháy
nhà vạ lây” Thật đúng như câu nói “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”.
3
Chế độ phong kiến mà Nguyễn Trường Tộ muốn có là một chế độ phong
kiến hoà mục. Có thể nói đây là chỗ Nguyễn Trường Tộ còn chịu ảnh hưởng của
Nho giáo, của Khổng nho vốn có thuyết “trung dung” mà sau này bị các học giả
phàm những ai đã nhập ngạch bộ Hình xử đoán các vụ kiện tụng thì chỉ có
thăng trật chứ không bao bị biếm truất. Dù vua, triều đình cũng không giáng
chức họ được một bậc. Như vậy là để giúp cho các vị này được thong dong
trong việc chấp hành luật pháp không bị một bỏ cuộc nào. Phàm những tội ngũ
hình đều do các vị này xử. Vua cũng không được đoán phạt một người nào theo
ý mình mà không có chữ ký của các quan trong bộ ấy”.
Có thể có người cho rằng Nguyễn Trường Tộ đã có hạn chế trong chủ
trương “Ngôi vua là quí chức quan là trọng”. Với cách nghĩ thông thường thì
đúng thế là hạn chế. Nhưng quan sát lịch sử nhân loại xưa và nay cho thật thấu
đáo để nghĩ thì chuyện cũng không phải là đơn giản khi nói đến hạn chế này của
Nguyễn Trường Tộ.
2.2. Nội dung duy tân, cải cách
Trong hệ thống điều trần của Nguyễn Trường Tộ, hai văn bản trực tiếp có
nội dung duy tân, cải cách tập trung nhất là: “Bản kế hoạch làm cho dân giàu
nước mạnh khoảng 20 – 6 đến 18 – 7 năm 1864” và bản “Tám việc cần làm
gấp”
Trong “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh”, Nguyễn Trường Tộ đã từ
việc tổng kết lại tình hình lịch sử Đông Tây, Đông văn minh trước, Tây văn
minh sau, nhưng Tây khôn ngoan vượt lên trên Đông theo quy luật vừa cạnh
tranh, vừa học tập, lợi dụng nhau trong sự sống; từ việc nhìn lại lịch sử đất nước
hiện đang bị cản trở bởi những người “Cứ viện xưa chống nay nói quấy qúa làm
rối loạn việc chính trị, đàm luận xì xào để chia bè lập đảng mà bài bảng triều
đình. Họ có biết đâu thời thế đổi thay, có những cái của đời xưa không áp dụng
cho đời nay được” Ông để xuất những điều cấp thiết. “Đó là …. các phương
pháp làm hạt nổ và đúc súng, đúc kim loại cùng các môn quang học, cơ học, hoá
học, khai mỏ than”. Cách đề xuất của Nguyễn Trường Tộ chính là cách xây
dựng phát triển cơ sở khoa học kỹ thuật tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế,
làm giàu đất nước. Đúng là rất hiện đại như ngày nay đất nước đã và đang làm.
5
Cũng từ cách đặt vấn đề một cách hiện đại như thế, ông cho việc làm giàu trước
Mỗi điều cũng lại là một nội dung vừa phong phú vừa đích đáng. Trong
đó vẫn có phần xác lập quan điểm, nhận thức làm nền cho các biện pháp cụ thể.
Ví như trong điều thứ tư “xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng” thì bắt đầu
là việc giới thuyết “học là gì”, tiếp đến là nhận định, phê phán tình hình học
thuật đương thời là “từ trẻ đến già, từ trường công đến trường tư đua nhau trau
chuốt từng câu hay từng chữ kheó sao mà tệ mạt đến thế. Nếu đem cái công phu
đã bỏ tâm trí một đời ra trau chuốt chữ nghĩa mà học những việc hiện tại như
trận đồ binh pháp, đắp thành giữ nước, sử dụng súng ống thì cũng có thể chống
được giặc, Nếu đem cái công lao nửa đời người đã dùng để học thuộc lòng
những tên người tên xứ, rập khuôn việc chính trị, nhắc lại những cặn bã, xa xưa
của Ngu, Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống Nguyên mà học những việc hiện
tại như binh, hình, luật lệ, tài chính, thương mại xây dựng canh nông, dệt và
những cái mới khác thì dần dần cũng có thể làm cho nước mạnh dân giàu. Tại
sao đến nay vẫn chưa nghe dân chúng khuyên nhau học những cái thực dụng ấy,
mà chỉ ưa chuyện kỳ dị xa xưa, bàn bạc những chuyện từ họ Hy Hoàng, còn việc
nước, dân tình được mất đều phó mặc cho triều đình. Vậy phải chăng họ tự xem
họ như con nít? Không phải lỗi ở họ mà chính ở học thuyết… Nói về học thuyết
mà không có đường lối sáng suốt rõ ràng, một phần do ở sách vở và một phần
tại triều đình.
Đoạn văn này đáng xem là linh hồn, là điều cốt lõi nhất làm nền cho mọi
đều nghị cải cách, mọi bộ phận, mọi chi tiết trong bản thiết kế duy tân của
Nguyễn Trường Tộ. Ở đây trong điều thứ tư này, Nguyễn Trường Tộ đã đi đến
những đề nghị cụ thể gồm các việc thành lập: 1) Khoa nông chính. 2) Khoa thiên
văn và khoa Địa lý. 3) Khoa công kỹ nghệ. 4) Khoa luật học. Và “Dùng quốc
âm” với quan điểm cơ bản là:
“Không có một nền học thuật sáng suốt thì phong tục ngày một bại hoại,
lòng người sẽ ngày một giả dối, phù phiếm, trống rỗng, tập tục sẽ làm thay đổi
con người, dù người tốt cũng không tránh khỏi ảnh hưởng, huống gì những hạng
dưới, lòng người đã hư hỏng thì khó tìm được người chuộng nghĩa thực tâm sốt
7
- Không hiểu bản chất giáo sỹ
- Chưa nhận thức được “dân là gốc của nước”, cho rằng “ vua quan là gốc
của nước” dẫn đến việc phản đối sự thay đổi trật tự xã hội hiện hành mà muốn
duy trì lâu dài ngôi vua
- Không quan tâm vận động nho sĩ và nhân dân để truyền bá canh tân
9
KẾT LUẬN
Trước thách thức mới, Đảng ta đã xác định “tính tất yếu của đường lối
chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa, định hướng xã hội chủ nghĩa”, “kết hợp
chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”, coi việc đổi mới tư duy
lý luận trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá giáo dục, an ninh, quốc phòng,
đối ngoại là kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm mục
đích bảo vệ, xây dựng và phát triển vị thế độc lập của Việt Nam trong thời đại
toàn cầu hóa hiện nay. So sánh hai thời điểm lịch sử và tiến trình vận động của
tư duy dân tộc, một lần nữa, chúng ta khẳng định những đóng góp và sức sống
tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ cả về mặt lịch sử và đối với thực tiễn
hiện nay.
10