ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ NGÀ
TRIẾT LÝ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỎI MỚI Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Huế, 04/2011
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TRIẾT LÝ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI
MỚI Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths. Phan Doãn Việt Hoàng Thị Ngà
Lớp:
Triết K31
Huế, 05/2011
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2
3. Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ của đề tài 3
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của đề tài 4
29
2.1.9 Về công tác xã hội
30
2.1.10 Về quốc phòng, an ninh
31
3
2.1.11 Về quan hệ ngoại giao
34
2.2. Những giá trị trong triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ
39
2.2.1 Toàn bộ các cải cách của Nguyễn Trường Tộ đã thể hiện bốn phương
diện đổi mới cơ bản trong tư duy
39
2.2.2 Những giá trị trong tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về dân sinh và
xây dựng xã hội hài hòa
46
2.2.3 Tư tưởng triết học thể hiện trong tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ
53
2.3 Vận dụng tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong công cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay
57
KẾT LUẬN
63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
66
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc đều có những giá trị thời
đại nhất định và do đó, có mối liên hệ biện chứng với sự phát triển của Việt
Nam hiện nay. Công cuộc đổi mới đất nước đã đi được chặng đường 25
cạnh đó, ông còn đưa ra không ít những kiến nghị trong nhiều lĩnh vực, từ
khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, quốc phòng, ngoại giao…
Đã có nhiều nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ và khẳng định ông là
người có tư duy vượt thời đại, đồng thời là một người công giáo yêu nước.
Sở dĩ như vậy là vì, có những điều ông viết cách đây đã hơn 150 năm mà
đến nay vẫn còn đậm tính thời sự, như chống tham nhũng, buôn lậu, mở cửa
đầu tư với nước ngoài, về việc cải cách giáo dục…
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình là “Triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó dối
với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam’’.
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ cũng như
tư tưởng cải cách của ông. Tuy mỗi người, mỗi ngành khoa học nghiên cứu,
khai thác ở những khía cạnh khác nhau nhưng tất cả đều đạt được những kết
quả đáng kể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về con người có nhiều tài ba, nhiều
tư tưởng, hoài bão lớn mà không gặp thời như Nguyễn Trường Tộ.
Tiêu biểu trong số đó phải kể đến “ Nguyễn Trường Tộ - con người
và di thảo” của tác giả Trương Bá Cần biên soạn. Cuốn sách đã góp phần
5
hình thành một “ chân dung” Nguyễn Trường Tộ tương đối trọn vẹn. Tác
giả Trương Bá Cần đã tập hợp được tương đối đầy đủ những “ di thảo”,
những “ tư liệu thành văn” của Nguyễn Trường Tộ. Toàn tập “di thảo” này
cũng chính là toàn bộ cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ được lưu
giữ lại cho chúng ta và cho con cháu mai sau.
Ngoài ra, phải kể đến “Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất
nước - Kỷ yếu hội thảo khoa học” của Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm,
cuốn sách đã tập hợp được khá đầy đủ nhiều bài viết của nhiều tác giả,
nhiều nhà phê bình và nghiên cứu trong nước về các vấn đề, khía cạnh khác
nhau trong tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ. Đó là các
vấn đề về kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự hay dưới góc nhìn của tư
5. Đóng góp của đề tài
Bàn về tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ thực sự là một việc
khó, vì xung quanh vấn đề này còn nhiều ý kiến, tranh luận. Tuy nhiên, với
mong muốn được góp phần tìm hiểu rõ hơn về triết lý của các nhà tư tưởng
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, đặc biệt là với một người yêu nước, có tri
thức uyên thâm và mang nhiều hoài bão nhưng lại không gặp thời như
Nguyễn Trường Tộ. Tác giả đã đi đến trình bày một cách ngắn gọn về cuộc
đời cũng như sự nghiệp của nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, về bối cảnh
đất nước cũng như những tiền đề lý luận để sản sinh ra con người và tư
tưởng ấy. Đặc biệt, khi nêu những nội dung cơ bản trong tư tưởng cải cách
của Nguyễn Trường Tộ, tác giả đã góp phần rút ra những giá trị triết lý
trong những tư tưởng đó và sự vận dụng trong công cuộc đổi mới ở Việt
Nam.
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
đến tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và sự vận dụng trong công
cuộc đổi mới ở Việt Nam.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm có 2 chương và 5 tiết.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
SỰ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
1.1. Vài nét về bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam vào cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX
Nhà Tây Sơn được thành lập là kết quả của cuộc vận động rộng lớn
của hàng triệu nông dân lật đổ các tập đoàn phong kiến thối nát trong nước
và chiến thắng bọn xâm lược bên ngoài. Nhưng tập đoàn phong kiến phản
động nhất đứng đầu là Nguyễn Ánh đã dựa vào thế lực của tư bản Pháp
đánh đổ nhà Tây Sơn, trở lại nắm chính quyền và phục hồi chế độ phong
kiến phản động. Sự khôi phục của nhà Nguyễn đã khiến xã hội phong kiến
còn nhiều khó khăn ở chính quốc nhưng vẫn đem quân tiến đánh Bắc Kỳ.
Triều đình hèn nhát ký điều ước 1874, đầu hàng chủ nghĩa tư bản. Trong khi
đó nhân dân ta, ngay từ ngày Pháp bắt đầu xâm lược đã kháng chiến rất anh
dũng và làm cho Pháp nhiều phen khốn đốn. Cho nên có thể nói rằng, trong
khi triều đình kháng cự rất yếu ớt thì nhân dân ta đánh rất mạnh và sẵn sàng
đứng bên cạnh triều đình chống Pháp. Đội quân của Phạm Gia Vĩnh, Lê
Huy, Trần Thiệu Chính và ngay cả Trương Định đã tự động phối hợp với
triều đình chống Pháp. Nhưng khi triều đình chủ hòa ký hàng ước 1862 thì
8
nhân dân ta không thể còn một con đường nào khác là đi ngược lại đường
lối chủ hòa của triều đình, tức là phải chống giặc, đồng thời chống cả cánh
phong kiến đầu hàng.
Về đối nội, mặc dù bọn xâm lược đang mở rộng tấn công và nguy cơ
mất nước đã rõ ràng nhưng triều đình vẫn đi sâu vào con đường lụi bại. Đối
với dân Pháp chũng tỏ ra hèn yếu bao nhiêu thì về đối với việc trị nước yên
dân chúng lại hết sức phản động.
Về nông nghiệp, chúng đã bỏ bê trễ, không chăm sóc. Việc bảo vệ đê
điều, khơi sông đào kênh làm được rất ít, cho nên đê vỡ, hạn hán, lụt lội,
mất mùa quanh năm.
Công - thương nghiệp cũng bị đình đốn nghiêm trọng. Đầu thời
Nguyễn đã có tới 124 mỏ được khai, đến đời Tự Đức chỉ còn 54 mỏ, nhưng
số mỏ thu được thuế lại rất ít.
Về ngoại thương, nhà nước cũng độc quyền, nhưng đến bấy giờ,
phương tiện vận tải không còn nữa, phải nhờ vào Chiêu thương cục của
thương nhân Trung Quốc. Thương nghiệp trong nước cũng rất tiêu điều, đến
đời Tự Đức chỉ còn 21 sở quan tân, trước kia là 69 sở. Không những thế, do
nền tài chính của nhà nước phong kiến kiệt quệ cho nên công -thương
nghiệp ngày càng lệ thuộc vào thương nhân ngoại quốc. Thuế mỏ, thuế quan
tân và các nguồn lợi khác đều cho thương nhân Hoa kiều trưng thầu.
Tình hình kinh tế suy đốn như vậy, cho nên nền tài chính của nhà
Trước tình hình nước sôi lửa bỏng, giữa lúc “tài tận, dân tàn, thế lực
suy”[5;72] như vậy, trong lúc nguy cơ mất nước đang đặt ra hàng ngày,
hàng giờ, triều đình nhà Nguyễn vẫn không chịu thức tỉnh, vẫn quỳ gối
nhượng quyền lợi cho thực dân Pháp để rảnh tay đàn áp phong trào nhân
dân khởi nghĩa và vung tiền vào những cuộc chơi xa hoa lãng phí. Do đó,
càng làm tăng lòng căm hận của nhân dân, phong trào đấu tranh của quần
chúng càng lên mạnh khiến chúng không còn đủ sức để đàn áp nữa phải nhờ
vào quân đội nhà Thanh, quân đội Lưu Vĩnh Phúc và thậm chí cả quân đội
Pháp nữa để đàn áp nông dân khởi nghĩa và đánh dẹp thổ phỉ.
Trước sự xâm lược ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp và sự lụn
bại của triều đình Huế ngày càng trầm trọng, hàng ngũ của giai cấp phong
kiến cũng ngày càng phân hóa sâu sắc. Trong lúc triều đình Huế đi vào con
đường chủ hòa, khuất phục, nhượng bộ Pháp và đàn áp nông dân khởi nghĩa
thì một số sĩ phu đứng về phía nhân dân, kiên quyết chống Pháp. Những
người sĩ phu này xuất phát từ lòng thiết tha yêu nước, muốn bảo vệ nền tự
chủ của nước nhà nhưng đồng thời cũng muốn bảo vệ ý thức hệ phong kiến,
bảo vệ nền văn hiến ngàn xưa. Họ chống Pháp là muốn bảo vệ nhà cửa
ruộng vườn, bảo vệ nhân dân nhưng họ thấy giữa họ và những người Tây
phương là khác loài và nền văn minh của địch là “man rợ”. Vì vậy đối với
họ, chỉ có một con đường là chống Pháp dù bằng bất cứ giá nào và không
thể có con đường hòa hoãn.
10
Bên cạnh xu hướng trên đây còn có một xu hướng muốn hòa với địch
để duy tân đất nước. Nói chung xu hướng này cho rằng nước ta trong điều
kiện bấy giờ không thể chống lại được chủ nghĩa tư bản phương Tây nếu
không duy tân đất nước. Những người sĩ phu này cũng xuất phát từ lòng
thiết tha yêu nước và rất mực trung quân nhưng họ hoặc là người công giáo,
hoặc được đi ra nước ngoài chịu ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây
nên con đường đi của họ có khác với những người sĩ phu kháng Pháp. Họ
chủ trương hòa với Pháp vì muốn triều đình phải mở rộng ngoại giao với
Năm 1858 (tức năm Tự Đức thứ 11) nhà thờ Tân Ấp mời ông làm
giáo sư dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier(Ngô Gia Hậu) phục ông là người
thông minh lanh lợi bèn dạy ông học tiếng Pháp, chữ Pháp và một vài môn
khoa học phổ thông. Trong hai năm sức học tiến bộ rất nhiều.
Năm 1860 (tức năm Tự Đức thứ 13) vì có lệnh cấm dân theo đạo,
Ngô Gia Hậu bèn đem ông đi Pháp, khi đi ngang qua Ý có đến yết kiến
Giáo Hoàng La Mã, rồi đến Ba Lê lưu học. Trong vòng mấy năm, ông thu
hoạch được rất nhiều, ngoài ra còn dùng thì giờ khảo cứu thêm chính trị,
học thuật và kỹ nghệ nước Pháp. Sau đó ông lại về nước. Thuyền đến
Hương Cảng, ông được gặp một giám mục người Anh. Hai bên ý tình khá
hợp. Giám mục lưu ông ở lại mấy tháng, lúc chia tay giám mục tặng ông
mấy trăm bộ sách nhưng trên đường về bị cướp biển cướp mất, chỉ còn lại
một vài quyển sách chữ Hán, bấy giờ ông đã 33 tuổi.
Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Tổ Quốc, phải cập bến Sài
Gòn, khi tỉnh thành Gia Định đã bị quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha
chiếm đóng.
Gần ba năm sống trong lòng địch, Nguyễn Trường Tộ bất đắc dĩ phải
làm việc với quân Pháp, phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình
Huế với Soái thủ Pháp ở Gia Định. Nhiều lần ông sửa bớt chữ nghĩa trong
các công hàm của hai bên, tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều
đình hoặc phương hại cho việc “tạm hòa”. Nhiều lần ông tìm cách thông
báo cho các sứ thần của triều đình như Nguyễn Bá Nghi, Phan Thanh Giản,
Phạm Phú Thứ một số âm mưu quỷ kế của giặc Pháp.
Năm 1863, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi khu vực chiếm
đóng của quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế. Từ đây cho đến cuối
đời, ông viết hàng loạt điều trần, luận văn, tờ bẩm, trình nhiều kiến nghị có
tầm chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc để giữ
nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc.
Hơn sáu mươi di thảo của Nguyễn Trường Tộ đã sưu tầm được, bàn
về nhiều phương diện:
nhằm tìm cách thu hồi lại sáu tỉnh đã bị chiếm.
Về mặt quân sự, Nguyễn Trường Tộ tuy là một người “chủ hòa”,
nhưng không có tư tưởng “chủ hàng”, hoặc hòa bình vô nguyên tắc. Năm
1867, ông khuyên triều đình “ra sức cải tu võ bị”[1;263], đề phòng quân
Pháp từ Nam Kỳ đánh lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nêu lên một
chính sách quân sự có hệ thống như: trọng võ ngang trọng văn, quý trọng
người lính, ưu đãi sĩ quan, biên soạn lý luận binh pháp, đào tạo cán bộ chỉ
huy, tạo dựng một quốc thể về mặt binh bị, chuẩn bị điều kiện tác chiến
trong thành phố, tìm cách dùng người trong vùng bị địch chiếm
Ngoài những bản điều trần tạo nên một công trình trí tuệ vĩ đại vô giá,
Nguyễn Trường Tộ còn để lại một số hoạt động thực tiễn xuất sắc như: Năm
13
1862 - 1863, ông thiết kế xây dựng tòa nhà nguyện của dòng tu nữ Sài Gòn.
Năm 1864 - 1866, ông thiết kế xây dựng bốn ngôi nhà trong giáo khu Xã
Đoài. Mấy công trình này của ông thuộc về những công trình kiến trúc đầu
tiên theo kiểu châu Âu ở Việt Nam giữa thế kỷ XIX. Cũng giữa những năm
60 thế kỷ XIX, khi hoạt động ở quê nhà, ông đã giúp Tổng đốc Nghệ An
Hoàng Tá Viêm đào Kênh Sắt, một công trình xưa kia Cao Biến rồi Hồ Qúy
Ly dự định làm mà không làm nổi. Ngoài ra, ông còn vận động dân chúng ở
Xuân Mỹ, quê hương bên nhà vợ ông, cùng nhau dời làng từ trong núi rừng
đầy lam chướng ra nơi thoáng đãng, thuận lợi canh tác.
Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ đã vượt hẳn lên trên tầm thời
đại giữa thế kỷ XIX ở Việt Nam. Vua Tự Đức tuy đã có lúc triệu ông vào
kinh để hỏi việc lớn và phải để ông sang Pháp thuê thầy thợ, mua sách vở,
máy móc, định du nhập kỹ thuật (năm 1866 - 1867), nhưng nói chung, triều
đình nhà Nguyễn cũng như các nho sĩ, văn thân thời ấy chưa hiểu nổi luồng
tư tưởng của ông, nên chưa coi trọng đúng mức những kiến nghị cách tân
của ông. Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ bị lãng quên như một luồng
ánh sáng rọi vào đám sương mù dày đặc.
Ông chết âm thầm ở làng quê Bùi Chu ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức
biết về các khoa học thường thức của Tây phương.
Trong một bài viết tháng 5 năm Tự Đức thứ 17 (tức khoảng tháng 6-
1864), Nguyễn Trường Tộ nói: “Từ 15 năm nay, tôi đã biết rõ tất phải có
mối lo như ngày nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi, học hỏi trí khôn của mọi
người để thêm sự hiểu biết cho mình, chứ không phải chỉ mới một
ngày”[1;26].
Như thế có nghĩa là, Nguyễn Trường Tộ đã bắt đầu tiếp xúc với văn
hóa Tây phương từ những năm 1848 – 1849 (theo như bài viết tháng 6 –
1864) và có thể đã đi ra nước ngoài từ những năm 1848 – 1849 hay chỉ từ
1859 – 1861.
Đào Duy Anh, một trong những người được tiếp xúc nhiều với các tài
liệu đầu tay về Nguyễn Trường Tộ, quả quyết rằng: “Mặc dầu là người
Công giáo từ lúc sinh ra, tâm hồn tiên sinh đã bị lay động mạnh bởi tiếng
bom nổ ở Đà Nẵng năm 1848 và, từ lúc đó, người thanh niên 20 tuổi ấy
quyết từ bỏ lối học cổ truyền để di theo lối học thực dụng. Tiên sinh đã
được giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài, dạy cho tiếng Pháp, cung cấp
các bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho đi du lịch ở Hồng
Kông và Singgapore”[1;32].
Nói tóm lại, ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm
tiếp xúc với văn hóa phương Tây, trước hết có thể là qua các giáo sĩ thừa sai
người Pháp, chủ yếu là giám mục Gauthier. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có
dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tây Âu thì cũng qua các nước
Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc các sách báo của Tây phương đã
được dịch ra tiếng Trung Quốc.
15
Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu
tại nhà của Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, thì trong tủ sách của
Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân thư.
Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến
thức khá rộng lớn về khoa học, kỹ thuật cũng như khoa học – xã hội Tây
16
Trong bài “Dụ tài tế cấp bẩm từ”(được viết vào giữa năm 1864), sau
khi trình bày về phương pháp làm súng đạn và khai thác mỏ than là những
điều triều đình hỏi, Nguyễn Trường Tộ đề nghị một kế sách rất đơn giản,
không cần nhiều trang thiết bị và không đòi hỏi kỹ thuật cao, điều mà chúng
ta đang làm ngày nay, đó là tổ chức xuất khẩu nông, lâm, hải và khoáng sản.
Và nông, lâm, hải sản là những nguồn hàng dồi dào và dễ khai thác nhất,
nên Nguyễn Trường Tộ đề nghị nhà nước mua và đóng tàu cũng như
khuyến khích nhân dân mua tàu chở các hàng nông, lâm, hải sản đến cảng
các nước bán, rồi lại mua các thứ hàng hóa trong nước cần dùng đem về.
Về tổ chức hàng hải, thì Nguyễn Trường Tộ có hai văn bản (Di thảo
số 6 và số 7, vào cuối năm 1864 - đầu 1865), trong đó ông đề nghị với triều
đình là nên gởi người sang Anh, sang Pháp học về cách điều khiển và sửa
chữa thuyền máy, trước khi mua tàu, bởi vì như thế mình mới chủ động và
đỡ tốn kém hơn là thuê người nước ngoài: nếu có mua thuyền máy thì cũng
chỉ mua một, hai chiếc làm mẫu, rồi mình tự tổ chức đóng lấy.
Trong bài “Khai hoang từ”(Di thảo số 8, tháng 2 – 3 năm 1866),
Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở cửa cho các nước vào thông thương buôn
bán và đầu tư khai thác tiềm năng của đất nước, bởi vì theo ông, người Tây
phương, nhất là người Pháp đã thấy được là Việt Nam có nhiều tiềm năng.
Do đó, Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình nên chủ động các điều
kiện để khi họ xin mở cửa đón họ vào, để mình làm chủ, họ làm khách, chứ
nếu không họ sẽ lập mưu chiếm hết, rồi họ làm chủ, mình là đầy tớ. Hơn
nữa, thuyền bè họ qua lại, mình thu được thuế cho ngân sách và loại trừ
được giặc biển là tai nạn lớn của thuyền bè nước ta. Về khoản khai thác các
tiềm năng của đất nước lại thiếu chuyên viên kỹ thuật, theo ông “Nếu để cho
người nước ngoài vào đầu tư, khai thác thì không những nhà nước thu được
lợi, mà nhân dân có việc làm, lại được học tập, làm quen với khoa học kỹ
thuật Tây phương, dân là dân của ta, đất là đất của ta, họ có đem đi đâu
được mà sợ?” [1;126].
thảo số 53) Nguyễn Trường Tộ có nhiều ý kiến về lợi ích của việc trồng cây
gây rừng và bảo vệ muông thú
Theo ông, vấn đề chủ yếu trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
là phải phổ biến rộng rãi các kiến thức trong nhân dân. Thời Nguyễn
Trường Tộ “Nước ta đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không
giảng dạy. Nay bỗng nhiên muốn thi hành, thì trên quan chẳng biết dạy cái
gì, còn dưới dân thì nghĩ rằng cứ mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác
cày ra cày, đợi gì phải dạy!”[1;78].
2.1.3 Về thương nghiệp
Đối với thương nghiệp, Nguyễn Trường Tộ chủ trương giao lưu hàng
hóa bằng ngoại thương cũng như nội thương.
18
Về ngoại thương, thì Hòa ước ngày 5 - 6 - 1862 ký kết giữa triều đình
vua Tự Đức với Pháp và Tây Ban Nha thì thương lái và thương thuyền của
công dân hai nước này được tự do ra vào buôn bán ở cửa Hàn, cửa Ba Lạt
và cửa Quảng Yên. Tuy nhiên có thể do nhà nước Việt Nam chưa muốn mở
cửa cho người nước ngoài ra vào nhòm ngó nên đã không tổ chức ngoại
thương, vì thế các hãng buôn của Pháp và Tây Ban Nha không thấy có gì để
mua và không biết đem gì đến bán. Nguyễn Trường Tộ, trong nhiều văn bản
gửi lên triều đình Huế, luôn luôn nhấn mạnh đến nhu cầu mở rộng cửa biển
cho tàu bè các nước vào buôn bán. Đó là một xu thế chung, một mình Việt
Nam không thể cưỡng lại được.
Trong một bản văn, có thể là bản văn cuối cùng trước khi từ trần,
Nguyễn Trường Tộ sau khi điểm qua kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật
Bản, Thái Lan đã phải chua chát nhìn nhận rằng: “Chỉ riêng một mình
nước ta thi hành đường lối khác, cho nên thiên hạ cho ta là một nước kỳ dị
đệ nhất. Triều đình ta trong khoảng từ Gia Long, đến thời Minh Mạng hợp
tác với người phương Tây, thường phái thuyền du hành các trở về dần dần
được hưng thịnh. Nếu không có lệnh đóng cửa đuổi khách bạn ra, mà theo
đường lối ấy cho đến ngày nay thì ta cũng có thể sánh vai dong duổi cùng
thông hành, để tránh nạn thuyền buôn, thuyền giặc lẫn lộn.
2.1.4 Về tài chính
Tài chính của Nhà nước phong kiến, thời Nguyễn Trường Tộ, chủ yếu
nhờ vào thuế (thuế đinh và thuế điền).
Đối với Nguyễn Trường Tộ, thuế là nghĩa vụ của nhân dân đối với
công việc chung của đất nước. Nhưng thuế phải công bằng và hợp lý.
Trong “Tế cấp bát điều”(Di thảo số 27, ngày 15-11-1867), ông nói:
“Nước sở dĩ đứng vững được là nhờ binh lương. Binh để giữ nước, lương để
nuôi binh. Thế mà trong dân gian còn quá nhiều người chưa hiểu lý lẽ ấy.
Nếu có của cải mà không có quan binh bảo vệ thì quân giặc, kẻ trộm hoành
hành, thân còn không giữ được, giữ sao được của cải. Dân đã không thể một
mình bảo vệ được thân mạng, nhà cửa, của cải, thì bỏ ra một ít lương thuế
nhờ lực lượng quốc gia bảo vệ sự nghiệp to lớn lâu dài của mình
cho”[1;103].
Vì thế mà Nguyễn Trường Tộ, đề nghị đo đạc ruộng đất, kê khai dân
số hàng năm để tránh thất thu và gian lận. Thất thu và gian lận đây không
phải là do dân chúng mà chính là do lý hào.
Theo Nguyễn Trường Tộ, phải đo đạc điền thổ và kê khai nhân khai
nhân khẩu hàng năm, một phần, là để tránh sự gian lận của bọn lý dịch kê
khai thấp số dân trong xã hội để nộp lên cho Nhà nước ít, nhưng vẫn thu đủ
của dân. Ông nói: “Bọn hương hào lý dịch ác ôn nhờ đó mà ăn cho no béo
nên chúng mới gian dối đủ cách, chịu đánh đòn để mưu lợi riêng tư. Đến khi
có người bất bình phát đơn kiện, bấy giờ quan mới trừng trị”[1;114].
20
Mỗi lần nêu chủ trương sửa sang lại biên cương, nắm rõ dân số,
Nguyễn Trường Tộ đều nói rằng: “mục đích không phải để tăng
thuế”[1;115].
Trong “Tế cấp bát điều”, điều thứ ba, Nguyễn Trường Tộ có đề nghị
tăng thuế và đánh thuế thật nặng trên các sòng bạc, trên rượu, thuốc lá, các
cuộc du hý vô bổ mang tính chất mê tín dị đoan, mục đích là để bài trừ các
đình Huế và chỉ gởi cho những người có chức có quyền trong Triều đình
Huế.
Với một hướng đi như thế, Nguyễn Trường Tộ chủ trương tôn trọng
chế độ vua quan hiện hữu. Đối với các cuộc nổi dậy chống chế độ như vụ
Lê Văn Phụng là một người công giáo, được các thừa sai Pháp và Tây Ban
Nha ủng hộ. Nguyễn Trường Tộ không những không theo mà còn chống
đối, coi đó là phản nghịch, là Thắng Quảng. Nguyễn Trường Tộ đã nói rõ
hơn lập trường của mình trong bài “Vua là quý, quan là quan trọng”[1;53].
Ông đã viện tất cả lý lẽ của Đông, Tây để cổ vũ cho việc duy trì và củng cố
trật tự xã hội hiện hữu.
Có lúc ông có vẻ hơi cường điệu khi nói rằng: “Người xưa có nói dân
là gốc của nước. Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc
của nước. Vì không so vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh nhau
làm trưởng, giành giật lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên
nước dù có vua bạo ngược còn hơn không vua”[1;129].
Tuy nhiên cần đặt văn bản này trong bối cảnh lịch sử của nó. Nguyễn
Trường Tộ là người biết tương đối rõ tình hình bất ổn của triều đình. Trong
bài “Thiên hạ đại thế luận” (Di thảo số 1, tháng 4-1863), ông đã nói: “Hiện
nay tình hình trong nước rối loạn, Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì
hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho
quân binh đã mệt mỏi, trong triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng
vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài,
chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều;
ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng cũng xưng hùng xưng bá, tác phúc
tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước, việc
đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí
vong mạng, phần nhiều ẩn nấp nơi thảo dã, chính là lúc Thắng Quảng thừa
cơ nổi dậy”[1;130]. Vua Tự Đức lại là thứ lập, nên sau những âm mưu lật
đổ của Hồng Bảo (1858) và Hồng Tập (1864), luôn luôn sống trong một tâm
trạng sợ sệt; trong đêm 16 rạng 17 tháng 9-1866, quân nổi dậy của Đoàn
Trong “Tế cấp bát điều”(Di thảo số 27, 15-11-1867), ông có đề nghị
sát nhập một số tỉnh huyện để tinh giản biên chế và tăng lương cho các viên
chức, như chúng ta nói ngày nay. Ông nói: “Hãy xem tỉnh Tứ Xuyên của
Trung Quốc có thể lớn bằng một lần rưỡi nước ta. Hai tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây hợp lại có thể gấp đôi nước ta. Một huyện của Trung Quốc có
thể tương đương một tỉnh của nước ta. Trên thế giới có nhiều nước phân
chia tỉnh huyện còn lớn hơn của Trung Quốc nữa vậy xin gấp rút xét xem
địa thế, hợp hai ba tỉnh làm một tỉnh, hoặc ba bốn huyện làm một huyện, lấy
số lương dư ra cấp thêm cho các quan hiện chức. Họ đã được cấp lương tiền
đầy đủ, để giúp họ giữu được thanh liêm, bấy giờ nếu họ không thanh liêm
mới có thể trách. Tôi tính lương tri huyện mỗi ngày không được quá ba, bốn
thạch (mỗi thạch khoảng 60-70 đồng tiền), như vậy nuôi một người còn
không đủ huống chi nuôi một gia đình nhà quan. Đã biết rõ thiếu hụt mà cứ
23
đem lời suông khuyên người ta thanh liêm, như thế là ngầm để cho người ta
tham nhũng Tôi thấy lương bổng một năm, tính hết tất cả các khoản của
một Lục bộ đại thần nước ta không bằng hai ngày rưỡi lương của một
nguyên soái nước Pháp. Một ngày lương của một Tổng đốc nước Anh tương
đương một năm lương của một quan đại thần nước ta. Vì vậy người phương
Tây có nói: “Các quan lại nước Nam, trừ những người quá tham ô không
nói, còn bao nhiêu những người khác thường thường sau khi xong công việc
họ nhận lãnh của biếu xén, tạ ơn cũng không đáng trách”. “Các nước ngoài
nghe quan lại nước ta lương bổng ít ỏi như vậy họ rất chê cười và tựa hồ họ
không thể hiểu tại sao lại có thể như thế được. Vì vậy tôi xin đề nghị lấy
những của cải phù phiếm xa hoa trong dân gian để thêm lương cho các quan
binh. Đó là lý do hết sức chính đáng (các nước phương Tây cũng tăng thu
bằng cách đó để cấp thêm cho quan binh). Nếu vậy mà họ còn tham ô mới
có thể trách được”[1;72].
Để quản lý quốc gia, Nguyễn Trường Tộ trong “Tế cấp bát điều”,
điều thứ 5 và 7, đề nghị vẽ bản đồ cương giới cũng như điều tra dân số và
thiên nhiên làm đối tượng, chứ không trực tiếp đả phá lối học cũ. Ông nói:
“Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng, học những cái vụn vặt thì chỉ
được cái vụn vặt, trồng đậu, được đậu, đó là lẽ tự nhiên”[1;136].
Do đó trong bản văn này, ông đề nghị chủ yếu là phát động học tập
kinh nghiệm phát huy sáng kiến trong nhân dân. Còn đối với các trường lớp
và khoa cử đang hiện hành, ông chỉ đề nghị đem thêm vào một số môn học
thực dụng.
Trước hết ông nói: “Xin cho các trường Quốc học, tỉnh học, các
trường tư và các bài thi Hương, thi Hội đều chú trọng vào tình hình hiện tại,
như luật lịch, binh quyền, các chính sự về công hình lại lễ, tất cả đều được
nói thẳng, không giấu giếm, có cái gì tệ hại, có cái gì hay ho, cái gì nên để
lại, cái gì cần thay đi, những cái cần thiết trước mắt, những cái có thể phân
tích tỉ mỉ, xác đáng, hợp thời, thì được coi là trúng cách, còn những chuyện
cũ chỉ là thứ yếu”[1;138].
Sau đó ông mới đề nghị đem các đề tài về hải lợi, sơn lợi, địa lợi,
thủy lợi, cách thức sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến dược phẩm, thực
phẩm, cách thức tổ chức xuất nhập khẩu, xây cất nhà ở, xây cất cơ sở xã hội,
tổ chức học ngoại ngữ để cho nhân dân đóng góp kinh nghiệm, sáng
kiến nhằm phổ biến rộng rãi trong nhân dân.
Trong “Tế cấp bát điều”, điều thứ tư nói về sửa đổi học thuật,
Nguyễn Trường Tộ phê phán lối học cũ một cách gay gắt và đề nghị đem
vào chương trình học những khoa học hiện đại. Bởi vì học, theo ông, “là học
những gì chưa biết mà đem ra thực hành. Thực hành những gì? Thực hành ở
đâu? Đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho
đời sau nữa”[1;139].
25