Tình hình nghiên cứu và ứng dụng vắc-xin phòng bệnh vi khuẩn aeromonas hydrophila - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CHUYÊN ĐỀ
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG VẮC-XIN
PHÒNG BỆNH VI KHUẨN AEROMONAS HYDROPHILA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN THỰC HIỆN
TS. TỪ THANH DUNG ThS. NGUYỄN THÀNH TÂM
Cần Thơ, 2013
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ECP: Extracellular products.
ELISA: Enzyme linked immunosorbent assay.
EXO: Exo-enzyme.
GAPDH: Glyxerin-andehyt-3-photphat-dehydrogenaza.
LPS: Lipopolysaccharide.
MAS: Motile aeromonad septicaemia.
OMP: Outer membrane protein.
RPS: Relative Percent Survival.
TBS: Tris buffered saline.
WC: Whole cell.
i
MỤC LỤC
ii
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1Giới thiệu
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản là ngành phát triển nhanh nhất
trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm, đã và đang góp phần quan trọng trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an ninh thực phẩm, nguyên liệu cho chế biến, tạo
công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và góp phần đưa ngành Thủy sản thật sự trở
thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam (Vũ Dũng Tiến và
ctv., 2003).

Giống Aeromonas lần đầu tiên được miêu tả bởi Zimmermann (1890) khi
tác giả sử dụng thạch Gelatin để phân lập vi khuẩn từ nước uống bổ sung
"Chemnitz" ở Đức và tác giả đã đặt tên cho vi khuẩn này là Bacillus punctatus.
Đến năm 1891, Sanarelli đã phân lập được nhóm vi khuẩn tương tự từ mẫu máu và
bạch huyết của Ếch, tác giả đã đặt tên vi khuẩn này là Bacillus hydrophilus fuscus.
Nhưng đến năm 1901, Chester đã đề xuất đổi tên nhóm vi khuẩn này thành
Bacterium hydrophillum (Caselitz, 1966). Trong quyển sách viết tay đầu tiên của
Bergey thì nhóm vi khuẩn này đã được miêu tả như là Proteus hydrophilus. Tuy
nhiên, đến quyển sách tái bản lần thứ sáu thì giống Proteus được tái định danh là
giống Pseudomonas (Speck và Stark, 1942; Rustigan và Stuart, 1943). Giống
Aeromonas đã được xác định lần cuối cùng trong quyển sách lần thứ bảy của
Bergey (Stainer, 1943). Sau đó nhóm vi khuẩn đặc biệt này đã được định danh như
là Aeromonas hydrophila.
Thông qua những nghiên cứu về di truyền học phân tử, Messner và Sleytr
(1992) đã đề xuất giống Aeromonas này nằm trong họ mới tên là
Aeromonadaceae. Dựa trên sự miêu tả về kiểu hình thì trước đó giống Aeromonas
được xếp vào họ Vibrionaceae (Farmer, 1992). Sakazaki và Shimada (1984) đã đề
cấp đến sự biến thể của chủng Aeromonas dựa trên cấu trúc của
Lipopolysaccharide (LPS). Giống Aeromonas đã được chứng minh là có tính
kháng nguyên đa dạng với hơn 90 nhóm huyết thanh (O'Farrell, 1975; Frerichs,
1989).
Nhóm vi khuẩn Aeromonas được chia ra làm 2: Nhóm Psychrophilic và
nhóm Mesophilic. Nhóm Psychrophilic không di động, không phát triển được ở
37
o
C nên nó không quan trọng trong bệnh vi sinh lâm sàng. Nhóm Mesophilic
phát triển ở 37
o
C và di động bằng cực roi và được chia thành 3 loài quan trọng:
Aeromonas hydrophila, Aeromonas caviae và Aeromonas sobria (Korbsrisate et

cho sự phát triển của vi khuẩn ở 20
o
C (Popoff, 1984). Tuy nhiên, Uddin et al.
(1997) đã tìm thấy khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của A. hydrophila
là 34,5 ± 1,0 °C. Sự phát triển của A. hydrophila ở các khoảng nhiệt độ khác nhau:
từ 4 – 42
o
C (Palumbo et al., 1985), từ 5 – 35
o
C (Callister và Agger, 1987).
1.2.2 Đặc điểm sinh hóa
Đặc điểm sinh hóa của A. hydrophila rất phức tạp và điều này đã gây khó
khăn cho nhiều nhà nghiên cứu tiến hành miêu tả những hoạt động và những chức
năng đặc biệt của loài vi khuẩn này. Ví du: những phản ứng sinh hóa của vi khuẩn
A. hydrophila thì không có mối tương quan đến sự sản sinh độc tố và dạng
plasmid của vi khuẩn (Kindschuh et al., 1987; Noterdaeme et al., 1991). Tuy
nhiên, những đặc điểm sinh hóa của các chủng A. hydrophila được phân lập từ
4
nước và trầm tích ở những vị trí và mùa vụ khác nhau trên sông Porma, Tây Ban
Nha có sự tương đồng cao, nhưng các chủng này thể hiện độc lực khác nhau trên
cá (Paniagua et al., 1990). Trước đó, Figueiredo và Plumb (1977) cho rằng độc lực
của A. hydrophila được phân lập từ nước không giống như độc lực của A.
hydrophila được phân lập từ cá, nhưng cả 2 đều có những đặc điểm sinh hóa
tương tự nhau.
Việc sản sinh ra những hệ thống hấp thụ sắt có mối quan hệ cao và tương
quan với độc lực của vi khuẩn, mặc dù những nhân tố này có sự thay đổi khác
nhau trong những lần lây nhiễm khác nhau lên cơ thể cá (Ellis, 1999), Có hai kiểu
hấp thu sắt (aerobactin và enterobactin) ở nhóm Aeromonas mesophilic. Nhưng
kiểu hấp thu aerobactin ở A. hydrophila chiếm ưu thế hơn. Việc sản sinh ra hệ
thống hấp thu sắt giữa các dòng khác nhau có thể là công cụ hữu ích để phân chia

nước ngọt trên những khu vực có khí hậu ấm áp (Torres et al., 1990; Rahman et
al., 2001a; Hu et al., 2005) đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ (Karunasagar et
al., 1989; Chang et al., 1992). Đây cũng là tác nhân gây bệnh quan trọng cho
những người tiêu thụ các sản phẩm cá và giáp xác bị nhiễm A. hydrophila
(Vivekanandhan et al., 2005).
A. hyrophila thuộc nhóm Aeromonas di động và là tác nhân chủ yếu gây
bệnh nhiễm trùng huyết (MAS), cũng là tác nhân cơ hội (thứ cấp) gây bệnh EUS
(Robert, 1993). Bệnh do A. hydrophila gây ra được gọi là bệnh "Đốm đỏ"
(Huizinga et al., 1979). Trong điều kiện bình thường, A. hydrophila không gây
bệnh đối với các sinh vật sống, nhưng khi môi trường ô nhiễm, cá bị stress, thay
đổi sinh lý đột ngột hay bị nhiễm những mầm bệnh khác thì A. hydrophila là tác
nhân gây bệnh tiềm tàng (Plumb et al., 1976; Fang et al., 2000). A. hydrophila trở
thành một tác nhân gây bệnh trầm trọng trong nghề nuôi cá thâm canh do tăng sức
tải môi trường, sinh lý cá nuôi bị rối loạn (Shaw và Squires, 1984). Khi điều kiện
môi trường thuận lợi. A. hydrophila tăng sinh rất nhanh và sản sinh ra độc tố ECP
rất nhiều, đây là nguyên nhân gây bệnh đột ngột cho cá và thậm chí làm cá chết
ngay (Allan và Stevenson,1981; Yadav et al., 1992; Vivas et al., 2004a).
A. hydrophila là nhóm vi khuẩn có khả năng sống sót trong môi trường
lạnh ngoài tự nhiên với nhiều nhân tố gây độc lực. Những chủng phân lập được từ
cá khỏe thì chỉ có một vài chủng có độc lực đủ để gây bệnh trên cá (Cahill, 1990;
Vivekanandhan et al., 2005). Có rất nhiều yếu tố liên quan đến sự lây nhiễm A.
hdrophila lên vật chủ. Ví dụ: khi môi trường quá tải, vật chủ (Chép; Cyprinus
carp) bị tổn thương thì sự lây nhiễm sẽ nhanh (Pai et al., 1995). Tương tự như
vậy, khi nhiệt độ nước ấm áp vào mùa hè thì sự nhạy cảm của cá Vàng, cá Koi bị
nhiễm ký sinh trùng sẽ rất nhạy cảm với A. hydrophila (Dixon và Issvoran, 1993).
Bảng 1. Những loài cá và giáp xác dễ bị nhiễm Aeromonas hydrophila
6
Có một vài nghiên cứu mô tả về khả năng gây bệnh của A. hydrophila ở
những loài cá khác nhau thì khác nhau, điều này chủ yếu là do tính không đồng
7

trắng trong nghiên cứu của Karunasagar et al. (1986 và1989). Khi nghiên cứu gây
cảm nhiễm A. hydrophila trên cá Hồi cho thấy nồng độ glocose huyết thanh và số
lượng bạch cầu ở cá phát triển bình thường cao hơn ở cá vượt đàn (Peters et al.,
1988). Trong những thí nghiệm in vitro cũng được sử dụng như một mô hình để
8
dự đoán những thay đổi về dấu hiệu lâm sàng trên cá nhiễm A. hydrophila. Cá
vàng bị nhiễm A. hydrophila đã được phân tích và cho thấy có sự chết dần của tế
bào bạch huyết (Shao et al., 2004).
2.3 Những sản phẩm ngoại bào
Những sản phẩm ngoại bào của vi khuẩn A. hydrophila đã được quan tâm
như là nhân tố chủ yếu gây độc lực của vi khuẩn (Allan và Stevenson, 1981;
Ruangapan, 1986). Tuy nhiên, vai trò của mỗi nhân tố gây độc lực trong quá trình
lây nhiễm vẫn chưa rõ ràng (Handfield et al., 1996). A. hydrophila là loài vi khuẩn
đã được biết đến như là loài tiết nhiều độc tố như độc tố trong ruột (Ljungh et al.,
1981; Chakraborty et al., 1984), aerolysin (Howard and Buckley, 1985c;
Chakraborty et al., 1986), cytotoxin (Boulanger et al., 1977), haemolysin (Allan
và Stevenson, 1981; Rodriguez et al., 1992), protease (Leung và Stevenson,
1988a; Rodriguez et al., 1992), amylase (Gobius and Pemberton, 1988),
acetylcholine esterase (Nieto et al., 1991), lipase/acyltransferase (Munn et al.,
1982; Buckley, 1982), leucocidins (Caselitz, 1966; Scholz et al., 1974), enolase
(Sha et al., 2003), nucleases (Chang et al., 1992; Favre et al., 1993), chitinases
(Ueda et al., 1994) và các độc tố gây bất ổn định nhiệt chưa được biết (Khalil và
Mansour, 1997).
Dòng A. hydrophila cũng sản xuất ra gelatinase, caseinase, elastase, lipase,
lecithinase và deoxyribonuclease (Favre et al., 1993). Những enzyme này có vai
trò cung cấp dinh dưỡng cho vi khuẩn bằng cách phá vỡ các tế bào vật chủ thành
các phân tử nhỏ và sau đó đi vào quá trình hình thành tế bào vi khuẩn (Cicmanec
và Holder, 1979; Sakai, 1985).
Mặc dù dòng A. hydrophila sản sinh ra nhiều loại độc tố, nhưng chỉ có
enzym protase là nhân tố gây độc lực chính trong ECPs liên quan đến khả năng

tế bào nhân thật, Aerolysin xâm nhập vào những màng lipid rồi hình thành nên
những cái lỗ có đường kính 3 nm (Karunasagar et al., 1986). Điều này sẽ dẫn đến
sự tiêu diệt sự bảo vệ của màng thấm và sau đó làm cho tế bào chêt (Howard và
Buckley, 1985c). Như vậy, Aerolysin hủy diệt tế bào bằng cách hình thành những
rãnh riêng biệt trong màng plasma của những tế bào (Buckley và Howard, 1999).
Theo Sirirat et al. (1999), số lượng Aerolysin trong những dòng có độc lực cao
hơn những dòng không có độc lực.
Sự biểu hiện của các nhân tố độc lực trong ECP phụ thuộc vào môi trường
dinh dưỡng sẵn có (Gonzalez-Serrano et al., 2002). Ví dụ: Theo Esteve và Birbeck
(2004), số lượng của độc tố tiêu máu và phân giải protein của A. hydrophila phụ
10
thuộc vào môi trường nuôi cấy như sự khác biệt về biểu hiện của những hoạt động
này trong môi trường TSY và BHI.
Sự sản sinh ra các thành phần trong các sản phẩm ngoại bào phụ thuộc vào
nhiệt độ môi trường nuôi cấy như Merino et al. (1992) đã tìm thấy khả năng gây
độc cho cá tăng cao khi vi khuẩn được nuôi cấy ở 25
o
C thay vì nuôi ở 37
o
C. Theo
O'Reilly và Day (1983), sự sản sinh protase của các dòng A. hydrophila ở 30
o
C
nhiều hơn so với ở 25
o
C. Tương tự như vậy, sự sản sinh độc tố tiêu huyết tăng khi
nuôi vi khuẩn ở 35
o
C thay vì nuôi ở 25 và 30
o

và Zn
2+
) từ 2 đến 600 lần khi so với
những tế bào sinh vật phù du (Teitzel và Parsek, 2003; Harrison et al., 2005).
Những kim loại nặng mặc dù cần thiết trong một cơ thể sống nhưng với số lượng
quá cao sẽ trở nên nguy hiểm cho hệ thống sống bao gồm cả vi sinh vật. Điều này
là do sự gắn kết với nhũng thành phần khác để tạo ra những hợp chất phức tạp
(Anne Spain và Elizabeth Alm, 2003). Những kim loại này được tìm thấy trong
môi trường sống của vi khuẩn hay trong tự nhiên thông qua các hoạt động của con
11
người (Adarsh et al., 2007). Theo Anne Spain và Elizabeth Alm (2003), sự gia
tăng của các gen kháng kháng sinh cùng với những kim loại năng trong môi
trường đã đe dọa đến sức khỏe của con người.
3. Sự chẩn đoán
Sự chẩn đoán bệnh và sự định danh những tác nhân lây nhiễm là một phần
quan trọng trong việc quản lý bất kỳ một loại bệnh nào. Dựa vào những dấu hiệu
lâm sàng có thể rất khó khăn vì sự phát triển rất nhanh của A. hydrophila trong cơ
thể cá dưới điều kiện thuận lợi (Jeney và Jeney 1995) và các mầm bệnh khác như
A. salmonicida và Vibrio cũng gây ra những dấu hiệu tương tự. Có một số phương
pháp xác định loại bệnh này như phương pháp truyền thống (hình thái và đặc điểm
sinh hóa), miễn dịch học và kỹ thuật sinh học phân tử.
Phương pháp truyền thống dùng để xác định A. hydrophila bào gồm: hình
dạng, màu sắc khuẩn lạc trên môi trường NA, nhuộm gram, hình thái, khả năng di
động của vi khuẩn và một số phân tích chỉ tiêu sinh hóa khác (Altwegg et al.,
1990; Chaudhury et al., 1996; Yambot, 1998). Một phương pháp định danh nhanh
chóng dựa trên phân tích sinh hóa từ băng API có chứa sẵn những hóa chất đã
được pha trộn trước, phương pháp này thường được sử dụng để định danh A.
hydrophila (Dixon et al., 1990; Gatesoupe, 1991; Hettiarachchi và Cheong, 1994;
Noterdaeme et al., 1991). Tuy nhiên, phương pháp truyền thống thì không chính
xác để định danh A. hydrophila đến mức độ loài (De Figueiredo và Plumb, 1977).

(Ansary et al., 1992), oxytetracycline (Tafalla et al., 1999), cephamycins và
moxalactam (Zervosen et al., 2001), ciprofloxacin (Ko et al., 2003), amoxycillin
và enrofloxacin (Ilhan et al., 2006). A. hydrophila cũng nhạy cảm với các amino
acid có nguồn gốc từ hydroximates (Walter et al., 1999) và H
2
O
2
(Landre et al.,
2000). Mặc dù kháng sinh kiểm soát được A. hydrophila nhưng ở mức độ nào đó,
một nghiên cứu cho thấy vi khuẩn đã kháng lại các tác nhân hóa trị liệu khi chúng
được sử dụng trong một khoảng thời gian dài (Mitchell và Plumb, 1980;
Vivekanandhan et al., 2002). Nhiều dòng A. hydrophila được phân lập đã có sự đề
kháng với các loại kháng sinh ampicillin, carbenicillin, erythromycin, gentamicin,
penicillin, tetracycline, nitrofuradantoin, ormetoprim-sulfadimethoxine,
sulfamethoxazole-trimethoprim và triple sulfa (Dixon et al., 1990; Ansary et
al.,1992; Dixon và Issvoran, 1993; Ilhan et al., 2006).
Tỷ lệ kháng lại kháng sinh ngày càng cao đối với nhóm A. hydrophila được
phân lập từ những loài cá nuôi, do áp lực mạnh về việc sử dụng hóa trị liệu trong
nuôi cá công nghiệp. Trong khi đó, những dòng A. hydrophila được phân lập từ cá
tự nhiên thì không có sự kháng lại kháng sinh (Aoki et al., 1971; Radu et al.,
2003). Hơn thế nữa, phần lớn những nhà nghiên cứu đã tìm thấy những plasmid có
13
tính đối kháng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành những dòng
kháng kháng sinh (Chang và Bolton, 1987; Choudhury et al., 1996; Son et al.,
1997). Kích thước phân tử plasmid kháng trong vi khuẩn A. hydrophila từ 3 - 150
Kb Chang và Bolton, 1987; Choudhury et al., 1996; Son et al., 1997). Việc hạn
chế sử dụng thuốc để điều trị vi khuẩn cho cá nuôi để giảm sự phát triển những
plasmid kháng trong vi khuẩn (Son et al., 1997). Tuy nhiên, một số yếu tố khác
đang được nghi ngờ là có khả năng kháng lại kháng sinh kể từ khi Ansary et al.
(1992) đã tìm thấy trong A. hydrophila một thành phần không phải là plasmid

sâu gốc permethrin (Nayak et al., 2004a), chúng rất nhạy cảm khi tiếp xúc với A.
hydrophila. Cá tiếp xúc với đồng ở nồng độ cao cũng làm ảnh hưởng đến khả năng
đáp ứng miễn dịch, khi đó sẽ có một số thay đổi về các thông số miễn dịch đo
được (Ellis, 1981; Shariff et al., 2001).
4.2 Chất kích thích miễn dịch
Những chất kích thích miễn dịch được chiết xuất chủ yếu từ thảo dược như
polysaccharide và vitamin C giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cá để chống
lại A. hydrophila. Ví dụ, sự tăng khả năng miễn dịch của cá Sặc gấm
(Trichogaster trichopterus) bằng cách ngâm cá vào chất chiết xuất từ tảo biển
(aminaran) để chống lại dòng A. hydrophila (có độc lực) (Samuel et al., 1996). Sự
gia tăng đường trong huyết thanh, cholesterol, protein tổng số, số lượng tế bào
máu đỏ, hemoglobin và hematocrit đã được tìm thấy trong A. hydrophila lây
nhiễm trên cá Chép sau khi được xử lý với dịch chiết từ lá cây (Azadirachta
indica) (Harikrishnan et al., 2003). Bột của hạt cây thảo dược (Achyranthes
aspera) đã được bổ sung vào chế độ cho ăn đã làm tăng khả năng miễn dịch bẫm
sinh và sự kháng lại A. hydrophila ở cá Chép Ấn Độ (Vasudeva Rao et al., 2006).
Một số dịch chiết từ những động vật biển có màng áo như Mực biển
(Ecteinascidia turbinate) để làm tăng miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể trên
cá Chình Mỹ (A. rostrata) chống lại A. hydrophila (Davis và Hayasaka, 1984).
Một số báo cáo cho thấy polysaccharide có khả năng tăng đáp ứng miễn dịch của
cá chống lại A. hydrophila như tỷ lệ sống cá Rô Phi và cá Trắm Cỏ khi được tiêm
một số polysaccharide trước khi bị lây nhiễm A. hydrophila (Wang và Wang,
1997). Tương tự như vậy, cá Chép được tiêm polysaccharide đã làm tăng lượng
bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân và khả năng chống lại A. hydrophila khi
thí nghiệm gây cảm nhiễm bệnh cho cá (Selvaraj et al., 2005).
Một tác dụng bổ trợ của polysaccharide được quan sát khi tiêm polysaccharide
vào cá cho thấy kháng thể tăng cao nhất để chống lại chủng vắc-xin A. hydrophila.
Đáp ứng miễn dịch trung gian qua miễn dịch thể và miễn dịch tế bào của cá Chốt
Nghệ (Mystus gulio) tăng lên cao khi tăng lượng Vitamin C bổ sung vào thức ăn
cho cá (Anbarasu và Chandran, 2001). Theo Sobhana et al. (2002), ở cá Trôi có sự

phương pháp ngâm cá trong vắc-xin A. hydrophila bất hoạt (Lamers et al., 1985).
Theo Kusuda et al. (1987), sự gia tăng nồng độ protein huyết thanh tổng khi cá
Chép được tiêm với vắc-xin A. hydrophila (đã bị tiêu diệt bởi formalin). Cá Hồi
Vân được tiêm chủng vắc-xin A. hydrophila (đã chết) đã cho thấy sự gia tăng
16
kháng thể trong huyết thanh, dịch chiết từ mật, da, ruột, chất nhầy và cơ
(Loghothetis và Austin, 1994). Một vắc-xin kết hợp (có chứa WC đã bị giết bởi
nhiệt và ECP bất hoạt bởi formalin) của vi khuẩn A. hydrophila đã được thử
nghiệm trên 2 loài cá Chép Ấn Độ (Rohu và Mrigal), nhưng kết quả cho thấy vắc-
xin này không bảo vệ cá chống lại sự tấn công của mầm bệnh vi khuẩn (Chandran
et al., 2002a). Tuy nhiên, các tác giả đã quan sát thấy sự tăng tương đối cao lượng
kháng thể trong nhóm cá được tiêm vắc-xin, tỷ lệ chết thấp hơn so với cá không
được tiêm vắc-xin do một trong những nguyên nhân có thể là ảnh hưởng của tình
trạng stress của cá trong ao hay các kháng thể được sinh ra không có tính bảo vệ.
Màng sinh học đã được bất hoạt bởi nhiệt để tạo ra vắc-xin màng sinh học
chống lại A. hydrophila bằng cách bổ sung vào thức ăn. Ví dụ như: vi khuẩn được
thu hoạch từ huyền phù lơ lửng (chitin) trong TSB đã được sử dụng để tạo ra một
đáp ứng miễn dịch nhằm bảo vệ cá Chép Ấn Độ và cá Chép Trung Quốc (Azad et
al., 1999). Những vắc-xin màng sinh học đã được tìm thấy có sự tồn tại lâu hơn
những tế bào vắc-xin tự do trong mô, ruột, tỳ tạng, mật của cá Chép Ấn Độ (Azad
et al., 2000a). Cá da trơn được cho ăn với những vắc-xin màng sinh học đã cho
thấy kháng thể tồn tại trong huyết thanh cao đáng kể (Nayak et al. 2004b). Đã có
một sự thay đổi trong biểu hiện tính kháng nguyên của A. hydrophila khi phát triển
trên màng sinh học (Asha et al., 2004). Các tác giả đã tìm thấy protein lớp-S đã bị
mất và LPS của vi khuẩn chứa đựng một dãy tế bào màng sinh học được nuôi có
trọng lượng phân tử cao hơn.
Sự quan tâm đáng kể nhất đã được thể hiện trong một loại vắc-xin OMP của vi
khuẩn, nó chứa đựng một vài kháng nguyên chuyên biệt để gây ra một đáp ứng
miễn dịch cho vật chủ (Aoki và Holland, 1985; Fang et al., 2004). Rahman và
Kawai (2000) đã cho rằng OMPs của A. hydrophila đã gây ra một sự bảo vệ để

90 nhóm huyết thanh đã thu được từ giống Aeromonas, bản chất của A. hydrophila
cả về sinh hóa học và huyết thanh học vần còn là mối quan tâm lớn nhất để điều
chế một loại vắc-xin chống lại A. hydrophila một cách hiệu quả (Sakazaki và
Shimada 1984; Newman, 1993; Stevenson, 2008; Khashe et al., 2010).
Vijayaragavan Thangaviji et al. (2012), sử dụng vắc-xin Aeromonas dạng protein
và vắc-xin kết hợp chất bổ thể để đánh giá sự miễn dịch của cá Vàng (Carassius
auratus) bằng phương pháp tiêm định kỳ 10 ngày/lần/2 μg/g trọng lượng cơ thể
cá. Sau 30 ngày và 60 ngày sử dụng vắc-xin cá được gây cảm nhiễm bằng phương
pháp tiêm Aeromonas hydrophila (10
7
cfu/ml) trong 5 ngày và mẫu máu được thu
để xác định một số chỉ tiêu huyết học. Kết quả cho thấy nghiệm thức đối chứng cá
chết 100%, nghiệm thức vắc-xin cá chết 46% (sau 30 ngày sử dụng vắc-xin),
nghiệm thức vắc-xin kết hợp bổ thể cá chết 30% (sau 30 ngày sử dụng vắc-xin).
Việc sử dụng vắc-xin sau 60 ngày cũng tương tự như vậy và khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001) so với nghiệm thức đối chứng. Các chỉ tiêu: sự thực bào, tỷ
lệ Albumin:Globulin, hoạt động kháng khuẩn của huyết thanh của nghiệm thức
vắc-xin và nghiệm thức vắc-xin + chất bổ thể đều cao và khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001) so với nghiệm thức đối chứng.
18
Kamelia et al. (2009) nghiên cứu so sánh 2 hỗn hợp vắc-xin (hỗn hợp 1: A.
hydrophila + P. fluorescens. Hỗn hợp 2: A. hydrophila + A. sobria + A. caviae +
P. fluorescens) khi ngâm cá Rô Phi giống (5-10g) trong dung dịch vắc-xin 30 phút
và cho cá ăn vắc-xin trong 7 ngày rồi sau đó ương cá trong 4 tuần để đánh giá chất
lượng vắc-xin, kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá ở hỗn hợp 1 là 80% và hỗn hợp 2
là 82% (phương pháp ngâm) và hỗn hợp 1 là 88% và 74% ở hỗn hợp 2 (phương
pháp cho ăn).
Tại Việt Nam những năm gần đây vắc-xin trên cá cũng được sử dụng nhiều như
vắc-xin chống lại vi khuẩn Edwardsiella ictaluri (ALPHA JECT ® Panga 1). Cao
Thành Trung và Chih Chu Chen (2012) sử dụng Glyxerin-andehyt-3-photphat-

của tác nhân gây bệnh. Ví dụ: ECP của A. hydrophila có chứa một kháng nguyên
cần thiết cho việc tạo ra một loại vắc-xin thành công chống lại MAS (Allan và
Stevenson, 1981). Loghothetis và Austin (1996b) đã đề nghị rằng LPS như là vắc-
xin có tiềm năng khi họ tìm thấy sự gia tăng kháng thể chống lại những thành phần
này ở cá Hồi Vân nhiễm A. hydrophila. Tương tự như vậy, các thành phần trên bề
mặt của vi khuẩn gây bệnh này, như OMPs được đề nghị rỗng rãi như là một mục
tiêu hấp dẫn cho vắc-xin (do sự tham gia của chúng trong quá trình lây nhiễm
bệnh) (Esteve et al., 1994; Zhang et al., 2000). Gần đây, Maji et al. (2006) đã đề
xuất sử dụng protein 23 và 57 kDa được tìm thấy trong thành phần OMP của A.
hydrophila.
Nghiên cứu về protein: kết hợp phương pháp Western blot với kỹ thuật đo khối
quang phổ đã được công nhận là công cụ hữu ích cho việc định đanh protein và rất
cần thiết cho sự phát triển của vắc-xin (Chen et al., 2004).
Công nghệ tái tổ hợp AND cho phép sản xuất nhanh chóng số lượng lớn các
protein so với phương pháp truyền thống (Munn, 1994; Chakravarti et al. 2000;
Potter và Babiuk, 2001; Van den Bergh và Arckens, 2005). Vắc-xin protein tái tổ
hợp đã cho thấy có sự chống lại hàng loạt các tác nhân gây bệnh trên người và
động vật (bao gồm cả cá) như Yersinia pestis (Williamson et al., 1995),
Ichthyophthirius multifiliis (He et al., 1997), Rabies virus (Rupprecht et al., 2005),
Plasmodium falciparum (Saul et al., 2005) và Piscirickettsia salmonis (Wilhelm
et al., 2006).
PHẦN 3
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
20
3.1 Kết luận
 Nhóm Aeromonas được chia làm 2 nhóm: nhóm di động và nhóm không di động.
Nhóm di động nhờ có 2 roi và gây bệnh chủ yếu trên cá như: A. hydrophila, A.
caviae, A. sobria.
 Aeromonas di động có khả năng thích nghi ở khoảng nhiệt độ rộng: 4 – 42
o

Bacteriology 44, 687-701. Rustigan R. and Stuart C.A. (1943) Taxonomic relationships in
the genus Proteus. Proceedings of the Society for Experimental Biology and Medicine 53,
241-243.
Caselitz F.H. (1966) Pseudomonas-Aeromonas und ihre humanme-diznische bedeutung,
VEG Verlag Gustav Fischer. Jena.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status