BỘ MÔN: CÔNG NGHỆ BAO BÌ VÀ ĐÓNG GÓI THỰC PHẨM
Đề tài:
!"#
$%
Giảng viên hướng dẫn: ĐỖ VĨNH LONG
Nhóm 6:
Tăng Xuân Thành Toại 2005100415
Ngô Thị Huyền Trang 2005100155
Phan Thùy Dương 2005100123
Nguyễn Thị Thủy Tiên 2005100204
Trần Trọng Tường 2005100309
Trần Thị Toàn 2005100294
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013
MỤC LỤC
2
&'(
Từ xưa đến nay, thực phẩm luôn được xem là nhu cầu quan trọng và thiết
yếu nhất đối với con người. Trước đây, nếu thực phẩm chỉ được lựa chọn dựa
trên tính chất “ngon” thì đến ngày nay, người tiêu dùng hiện đại nhắm đến
những loại sản phẩm thực phẩm không chỉ đáp ứng đầy đủ về mặt dinh dưỡng
mà còn cả về mặt hình thức. Chính vì thế, các nhà doanh nghiệp trong lĩnh vực
sản xuất thực phẩm không ngừng nghiên cứu và đổi mới sản phẩm cũng như
khẳng định thương hiệu của mình thông qua nhãn hàng hóa. Cùng sự phát triển
của công nghệ khoa học kỹ thuật, nhãn hàng hóa đã dần được cải tiến và hoàn
thiện với nhiệm vụ quảng bá, thu hút người tiêu dùng. Đồng thời qua nhãn,
người tiêu dùng có thể nắm bắt được thông tin một cách cụ thể và rõ ràng về sản
phẩm thực phẩm mình định mua.
Nhãn được coi là cầu nối giữa sản phẩm và người tiêu dùng, hay nói cách
trường.
Nhãn của bao bì thực phẩm là nơi trình bày các thông tin chi tiết về sản phẩm
chứa đựng bên trong cùng với sự trình bày thương hiệu nhà sản xuất, hình ảnh
và màu sắc minh họa. Tất cả các thông tin đó đều phải được trình bày đúng theo
qui cách.
Ngoài nhãn chính, một số sản phẩm còn có thêm nhãn phụ. Nhãn phụ của bao
bì thực phẩm là nơi ghi các thông tin chính theo qui định một cách ngắn gọn,
thường không ghi thương hiệu, không có hình ảnh là phần phụ trợ giải thích
cho nhãn hàng hóa của bao bì sản phẩm. Nhãn phụ thường được ghi tiếng Việt
4
Nam để giải thích cho các sản phẩm ngoại nhập. Nhãn phụ có thể được gắn trên
bao bì thực phẩm với kích thước nhỏ hoặc được để rời với sản phẩm.
1.3. E9/=FG?A90-50-607-89
1.3.1.
- Đáp ứng quy định bắt buộc đối với nhà sản xuất.
- Thể hiện sự cam kết chịu trách nhiệm trước khách hàng.
- Là một hình thức quảng cáo tiếp thị thu hút khách hàng, nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng hóa.
- Kí hiệu, hình ảnh, màu sắc đẹp mắt, sinh động. Từ đó giúp thu hút khách
hàng, khuyến khích sự tái tạo sản xuất và thu lợi nhuận cao.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp thông qua thương hiệu
độc quyền.
- Tạo niềm tin cho khách hàng.
1.3.2.
- Trong quá trình phân phối hàng hóa đến nơi tiêu thụ 1 số kí hiệu đặc biệt
được ghi trên bao bì sẽ cho ta biết cách vận chuyển và bảo quản phù hợp.
- Giúp các cơ quan chức năng thực hiện tốt việc kiểm tra và kiểm soát hàng
hóa.
1.3.3.
- Là cầu nối giữa sản phẩm với người tiêu dùng.
ghi tên chủng loại các hàng hóa kèm theo tên hiệu của nhà sản xuất (ví dụ: Kẹo các
7
loại NESTLE, Bánh các loại LUBICO…) hoặc kèm theo tên thương mại của hàng hóa
( Ví dụ: Bánh mứt kẹo Đà Nẵng…).
Trường hợp nhãn hiệu hàng hóa đã được nhà nước bảo hộ hoặc có giấy phép
chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hàng hóa, tên hàng hóa không phải ghi bằng tiếng
Việt trên phần chính của nhãn.
Ví dụ: Mì gói của Hàn quốc
Chữ viết tên hàng hóa phải được ghi trên mặt chính (PDP) của nhãn và có chiều
cao không nhỏ hơn một nửa (1/2) chữ cao nhất có mặt trên nhãn hàng hóa hoặc không
nhỏ hơn 2mm ở ngay phía trên, phía dưới bên cạnh tên thương mại hay tên hiệu của cơ
sở sản xuất.
8
Đồi với sản phẩm là một phụ gia thực phẩm thì cần thiết
ghi tên nhóm, tên gọi và hệ thống mã số quốc tế
(International Numbering System – INS) của các chất phụ gia.
!"#$%&
- Phải liệt kê các thành phần của thực phẩm trên nhãn khi
thực phẩm được cấu tạo từ hai thành phần trở lên. Không ghi khi thực phẩm chỉ
có một thành phần
Ví dụ: trường hợp chất gia vị thực phẩm là đường, muối, bột ngọt thì trên bao bì
không có mục thành phần.
Thuật ngữ “thành phần” có thể ghi là thành phần hay thành phần cấu tạo, phải
được ghi rõ với cỡ chữ lớn hơn và nét chữ đậm hơn phần liệt kê các thành phần có
trong thực phẩm.
9
Tất cả các thành phần phải được liệt kê theo thứ tự giảm dần tính theo tˆ lệ khối
lượng của từng thành phần cấu tạo nên thực phẩm so với tổng khối lượng thực phẩm
“động vật”
(vegetable fat, animal fat)
Mỡ tinh luyện trừ mỡ lợn, mỡ bò
“Tinh bột”
(Starch)
Các loại tinh bột trừ tinh bột biến tính hoặc
bằng phương pháp hóa học
“Cá”
(Fish)
Các loại cá khi chúng la một thành phần
của thực phẩm khác và việc ghi nhãn không
áp chỉ một loại cá cụ thể nào
“Thịt gia cầm”
(Poultry meat)
Các loại thịt gia cầm khi chúng là một
thành phần của thực phẩm khác mà việc ghi
nhãn không chỉ một loại thịt gia cầm cụ thể
nào
“Pho mai”
(Cheese)
Các loại pho mai hoặc hŠn hợp pho mai là
thành phần của thực phẩm khác và việc ghi
nhãn không ám chỉ một lại pho mai đơn
chất hay hŠn hợp cụ thể nào
“Gia vị” hoặc “hŠn hợp gia vị”
(Spice, Spices or mixed spices)
Các gia vị hoặc chất tiết ra từ gia vị, được
dùng riêng hoặc kết hợp không vượt quá
2% của khối lượng thực phẩm
“Gia vị thảo mộc” hoặc “hŠn hợp gia vị
• Tên nhóm và mã số quốc tế của các chất phụ gia, mã số được đặt trong ngoặc
đơn.
Ví dụ: Trong chế biến pho mát, khi dùng các chất tạo nhũ natri poly photphat và
dikali diphotphat, có thể ghi nhãn các chất đó trong bảng thành phần của pho mát theo
hai cách như sau:
• Chất tạo nhũ: natri poly photphat và dikali diphotphat hoặc
• Chất tạo nhũ (452i) và (450iv)
Để ghi nhãn được ngắn gọn, ưu tiên sử dụng cách ghi thứ hai (sử dụng mã số
quốc tế của các chất phụ.
Có thể ghi chung là “Hương liệu”, “Chất tạo màu”, “Chất tạo ngọt” đối với
những chất phụ gia tạo hương, tạo màu, tạo ngọt tương ứng. Đối với các chất phụ gia
trong nhóm “Tinh bột biến tính” có thể ghi tên nhóm “Tinh bột biến tính” thay cho tên
cụ thể của các chất phụ gia nằm trong nhóm này.
Sau các từ “Hương liệu” hoặc “Chất tạo màu” cần ghi thêm: “tự nhiên” hay
“nhân tạo”.
Trường hợp một chất phụ gia được đưa vào thực phẩm thông qua một thành phần
nguyên liệu: thành phần mang chất phụ gia được dùng ở một lừu lượng khống chế
hoặc một lượng đủ để thực hiện một chức năng công nghệ thì phải ghi vào bảng liệt kê
thành phần.
12
Nếu liều lượng chất phụ gia này được đưa vào với liều lượng lơn gần bằng hoặc
vừa đúng so với lượng max quy định bởi tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thì phải ghi vào
nhãn.
Nếu lượng phụ gia đưa vào ở mức rất thấp so với quy định ML thì không cần ghi
vào bảng thành phần.
- Ghi nhãn định lượng các thành phần.
Nếu việc ghi nhãn thực phẩm nhằm nhấn mạnh vào sự hiện diện của một hay
nhiều thành phần đặc trưng có giá trị thì phải ghi tˆ lệ % thành phần đó theo khối
lượng tổng tại thời điểm sản xuất.
Nếu việc ghi nhãn thực phẩm nhẳm nhấn mạnh đặc biệt hàm lượng thấp của một
Nếu dùng hệ đơn vị đo lượng khác thì phải ghi cả số đổi sang hệ đơn vị đo
lường SI. Kích thước và chữ số ghi định lượng trên nhãn hàng hóa được thiết kế
theo diện tích phần chính của nhãn (PDP).
Vị trí định lượng sản phẩm phải đặt ở phần chính của nhãn. Chứ số ghi định
lượng theo dòng song song với đáy bao bì.
• Đối với thực phẩm sản xuất trong nước nhằm để xuất khẩu thì được ghi đơn vị
đo lường quốc tế hoặc đơn vị đo lường Anh, Mỹ.
- Hàm lượng tịnh phải được ghi như sau:
• Theo đơn vị thể tích đối với thực phẩm dạng lỏng.
• Theo đơn vị khối lượng đối với thực phẩm dạng rắn.
• Theo đơn vị khối lượng hoặc thể tích đối với thực phẩm dạng sệt.
• Trường hợp thực phẩm trong một bao bì có nhiều đơn vị cùng chủng loại, thì số
định lượng được ghi rõ: tích của số đơn vị và số khối lượng một đơn vị. Ví dụ:
20 cái x 10g/cái hoặc ghi bằng số đơn vị có trong bao bì và tổng khối lượng
hàng có trong bao: 20 cái – 200g.
14
- Đối với thực phẩm được bao gói ở dạng một môi trường chất lỏng chứa các phần
rắn phải ghi khối lượng tịnh và khối lượng ráo nước. Môi trường chất lỏng có thể
là nước, dung dịch đường hoặc muối, dấm hoặc nước ép rau, quả. Các chất trên có
thể được dùng riêng hoặc kết hợp.
01,2$
Phải ghi cả tên, địa chỉ và số điện thoại của cơ sở sản
xuất và cơ sở đóng gói nếu hai cơ sở đó khác nhau. Địa chỉ
gồm: số nhà, đường phố, phường (xã), quận (huyện), thị xã,
thành phố (tỉnh)
34/5
- Nước xuất xứ của thực phẩm phải được ghi trên nhãn theo qui định sau:
a) Thực phẩm sản xuất trong nước phải ghi rõ “Sản xuất tại Việt Nam”
b) Thực phẩm nhập khẩu phải ghi rõ tên nước sản xuất, tên và địa chỉ công ty
Ví dụ:
• Với thực phẩm có thời hạn sử dụng dưới 3 tháng, ghi như sau:
“Sử dụng tốt nhất trước 30.09.14”
• Với thực phẩm có thời hạn sử dụng trên 3 tháng, ghi như sau:
“ Sử dụng tốt nhất trước 09.14”
Đối với sản phẩm nhập khẩu ghi nhãn bằng tiếng Anh thường ghi tháng bằng
chữ, ví dụ: Apr 06.
Phải ghi thời hạn ở nơi dễ thấy hoặc chỉ rõ nơi ghi thời hạn trên bao bì.
- Danh mục thực phẩm bao gói sẵn phải ghi thời hạn sử dụng qui định. Danh
mục này được thay đổi theo yêu cầu quản lý chất lượng thực phẩm do Tổng
cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng công bố.
- Phải ghi nhãn các điều kiện bảo quản đặc biệt để duy trì chất lượng thực phẩm
nếu hiệu lực về thời gian sử dụng phụ thuộc vào việc bảo quản.
G*/BDABC
Phải ghi hướng dẫn sử dụng đối với các sản phẩm cần hướng dẫn khi sử dụng kể
cả cách “tái tạo” sản phẩm khi dùng, để bảo đảm không gây sai sót trong sử dụng.
Trường hợp nhãn hàng hóa không đủ diện tích để ghi các hướng dẫn thì phải ghi các
nội dung đó vào một tài liệu kèm theo hàng hóa để cung cấp thông tin cho người tiêu
dùng.
17
*:%&'()*+), /-0
H I&
- Thực phẩm đã được xử lý bằng các bức xạ ion phải ghi rõ ràng bằng cụm từ “Thực
phẩm qua chiếu xạ” ngay cạnh tên của thực phẩm. Khuyến khích việc sử dụng
biểu tượng quốc tế về chiếu xạ thực phẩm và được đặt ngay cạnh tên thực nhỏ hơn
chiều cao cỡ chữ tên sản phẩm.
- Một sản phẩm chiếu xạ được sử dụng như một thành phần của thực phẩm khác thì
phải được ghi rõ trong bảng liệt kê các thành phần.
- Nếu sản phẩm chỉ có một thành phần và được chế biến từ một nguyên liệu chiếu
xạ, nhãn của sản phẩm đó phải ghi rõ việc xử lý này.
số hàng hóa:
- Hệ thống UPC (Universal Product Code) là hệ thống thuộc quyền quản lý của
Hội đồng mã số thống nhất Mỹ UUC (Uniform Code Council, Inc), được sử
dụng từ năm 1970 & hiện vẫn đang sử dụng ở Mỹ & Canada.
- Hệ thống EAN (European Article Number) được thiết lập bởi các sáng lập viên
từ 12 nước Châu Âu với tên gọi ban đầu là European Article Numbering
Association, được sử dụng từ 1974 ở Châu Âu & nhanh chóng phát triển ở hầu
hết các nước trên thế giới. Năm 1977, EAN trở thành một tổ chức quốc tế với
tên gọi EAN (EAN International).
A9/4B69=GH@IJ6$GH@IKC
Trong hệ thống mã số EAN cho sản phẩm bán lẻ có 2 loại:
• Loại sử dụng 13 con số (EAN-13)
EAN-13 hay EAN.UCC-13 hoặc DUN-13 là một loại mã vạch trước đây thuộc
quyền quản lý của Hệ thống đánh số sản phẩm châu Âu (tiếng Anh: The European
Article Numbering system, viết tắt: EAN), ngày nay thuộc quyền quản lý của EAN-
UCC sử dụng 13 chữ số.
Trước đây ở Mỹ người ta sử dụng một hệ thống đánh số sản phẩm cùng nguyên lý
như EAN nhưng chỉ có 12 hoặc 8 số, gọi là Mã sản phẩm chung (tiếng Anh: Universal
Product Code, viết tắt: UPC). Nhưng kể từ tháng 1 năm 2005, người Mỹ đã chuyển
sang sử dụng EAN.
Hệ thống đánh số sản phẩm Nhật Bản (The Japanese Article Numbering) (viết tắt:
JAN) là một phiên bản của EAN-13, điểm khác duy nhất là nó bắt đầu với cụm số 49.
Gọi là EAN-13 vì trong chuŠi mã hóa của nó có đúng 13 số, trong đó số cuối cùng
là số kiểm tra. Cũng giống như UPC (EAN.UCC-8 hay EAN.UCC-12), nó là loại mã
vạch liên tục sử dụng 4 loại kích thước các vạch.
20
Hình minh họa của EAN-13
AL69%
Quy ước: Các bit có giá trị 1 được in bằng mực đen thành một đường thẳng đứng, các
bit có giá trị 0 không được in (hoặc được in bằng mực trắng) thành một đường thẳng
0
000110
1
0100111
1
001100
1
0110011
2
001001
1
0011011
3
011110
1
0100001
4
010001
1
0011101
5
011000
1
0111001
6 010111 0000101
22
1
7
011101
1
• Ba số cuối và số kiểm tra được mã hóa như là chuŠi ngược trong mã hóa chẵn
của EAN-13.
• Các vạch bảo vệ phải, có giá trị nhị phân 101.
Các vạch bảo vệ và số được in tương tự như EAN-13 (không có số nào ở ngoài phần
có vạch).
2NL
Để đảm bảo tính thống nhất & tính đơn nhất của mã số, mã quốc gia phải do tổ
chức mã số vật phẩm quốc tế cấp cho các quốc gia thành viên của tổ chức này. Mã số
quốc gia của Việt Nam là 893.
Mã doanh nghiệp do tổ chức mã số vật phẩm quốc gia cấp cho các nhà sản xuất là
thành viên của họ. Ở Việt Nam, mã doanh nghiệp do EAN-VN cấp cho các doanh
nghiệp thành viên của mình.
Mã mặt hàng do nhà sản xuất quy định cho hàng hoá của mình. Nhà sản xuất phải
đảm bảo mŠi mặt hàng chỉ có một mã số, không được có bất kỳ sự nhầm lẫn nào.
Số kiểm tra C là một con số được tính dựa vào 12 con số trước đó, dùng để kiểm tra
việc ghi đúng những con số nói trên.
Từ năm 1995 đến tháng 3/1998, EAN-VN cấp mã M gồm bốn con số và từ tháng
3/1998, theo yêu cầu của EAN quốc tế, EAN-VN bắt đầu cấp mã M gồm 5 con số.
JaFb0-N6Z0L/M<077-/0-50
JON
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 06 năm 2005;
24
Căn cứ Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27 tháng 04 năm 1999;
Căn cứ Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá ngày 24 tháng 12 năm 1999;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
1J4KBELEKM"9$.
1. Nhãn hàng hoá bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau:
a) Tên hàng hoá;
b) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu