(ký tên) (ký tên và đóng dấu)
PGS.TS Vũ Văn Khiêm
Bộ Khoa học và Công nghệ
(ký tên và đóng dấu khi gửi lưu trữ)
9681
Hà Nội – 2012 1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
1
Danh sách những từ viết tắt
57
3.2. Đánh giá kết quả tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng
lực quản lý KH&CN cho cán bộ của Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào
59
Kết luậ
n và kiến nghị
62
1. Kết luận
62
2. Kiến nghị
65
Tài liệu tham khảo
66
2
DANH SÁCH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
KH&CN Khoa học và Công nghệ
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
UBND Ủy ban nhân dân
TC-ĐL-CL Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
3
MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế tri thức đã và đang khẳng định sự
phát triển về chất của nguồn lực con người, trong đó biểu hiện phát triển cao
nhất và tập trung nhất là năng lực của người cán bộ quản lý. Để có thể thực
hiện thành công các nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN trong bối cảnh
hội nhập quố
c tế hiện nay, người cán bộ quản lý KH&CN ngày nay cần phải
được cập nhật các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên để đáp ứng
những tiêu chuẩn nghề nghiệp do xã hội đặt ra cũng như những yêu cầu đổi
mới tự thân của hoạt động quản lý KH&CN. Do vậy, người cán bộ quản lý
KH&CN ngày nay cần được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ
để nâng
cao năng lực chuyên môn, trình độ lý luận và năng lực quản lý đổi mới sáng
tạo trong lĩnh vực KH&CN, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn. Đó là yêu cầu
tất yếu đối với mọi quốc gia trên thế giới trong thời đại hiện nay.
Trong suốt chặng đường phát triển của mình, Đảng, Nhà nước và nhân
dân Việt Nam luôn luôn coi trọng và không ngừng củng cố, phát triển tình
đoàn kết, hữ
u nghị đặc biệt Việt-Lào. Đặc biệt, trong Tuyên bố chung nhân
chuyến thăm hữu nghị chính thức nước CHDCND Lào của đồng chí Nguyễn
Phú Trọng, Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
từ ngày 20-22/6/2011 vừa qua đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng, ý
nghĩa chiến lược và quyết tâm mãi mãi giữ gìn, phát huy mối quan hệ hữu
nghị truyền thống, tình đoàn kế
t đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào
trong thời kỳ mới, coi đây là quy luật phát triển, là nhân tố quan trọng đảm
vụ chuyên môn và kỹ năng quản lý KH&CN nhằm nâng cao năng lực quản lý
KH&CN của các cán bộ quản lý KH&CN nước CHDCND Lào.
Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, các nội dung chủ yếu của nhiệm vụ hợp
tác theo Nghị định thư về đào tạo nâng cao năng lực quản lý KH&CN cho các
cán bộ nước CHDCND Lào đã được xác định như sau:
1. Đ
ánh giá, phân tích hiện trạng, đặc điểm hoạt động KH&CN và công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý KH&CN của CHDCND Lào.
Trong nội dung này sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
- Nghiên cứu, đánh giá về tổ chức, cơ chế, nguồn nhân lực và hoạt động
KH&CN hiện tại của Lào.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý KH&CN của Lào.
5
2. Nghiên cứu đề xuất khung chương trình và các nội dung tài liệu bồi
dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng quản lý KH&CN nhằm
nâng cao năng lực quản lý KH&CN cho cán bộ quản lý KH&CN của Lào.
Trong nội dung này sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
- Đề xuất khung chương trình bồi dưỡng, tập huấn kiến thức và kỹ năng
quản lý KH&CN cho cán bộ quản lý KH&CN của Lào.
- Xây dựng các nội dung tài liệu bồi d
ưỡng kiến thức chuyên môn
nghiệp vụ và kỹ năng quản lý KH&CN cho cán bộ quản lý KH&CN của Lào.
3. Triển khai công tác tổ chức các khóa đào tạo cán bộ quản lý KH&CN
của Lào.
Trong nội dung này sẽ tập trung vào việc tổ chức các lớp bồi dưỡng
kiến thức cho cán bộ quản lý KH&CN của CHDCND Lào: mỗi năm 01 lớp ở
Việt Nam (20 học viên) và 01 lớp ở Lào (30 học viên). Khi kết thúc mỗi khóa
học, học viên sẽ
được cấp chứng khi hoàn thành đầy đủ các yêu cầu của lớp
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KH&CN VÀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
QUẢN LÝ KH&CN CỦA NƯỚC CHDCND LÀO
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế -xã hội
của nước CHDCND Lào
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
CHDCND Lào là một nước nằm trên bán đảo Đông Dương. Đất nước
Lào không rộng, tổng diện tích là 236.800 km
2
được vận dụng vào các quan hệ thương mại với các quốc gia, trước hết và đặc
biệt với các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Sau khi giành được độc lập và thành lập nước CHDCND Lào vào năm
1975, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã lãnh đạo toàn dân tộc phát triển theo
con đường xã hội chủ nghĩa. Trước thời kỳ đổ
i mới, nền kinh tế còn chịu ảnh
hưởng của nhiều năm chiến tranh, lại trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nên
phát triển chậm và không ổn định. Giai đoạn 1981 - 1985, tốc độ tăng GDP
chỉ đạt bình quân 5,5%/năm. Quan hệ kinh tế - thương mại với các nước còn
rất hạn chế. Nền kinh tế còn nhiều yếu kém, đời sống nhân dân khó khăn.
Từ Đại hội toàn quố
c lần thứ IV của Đảng Nhân dân cách mạng Lào
(tháng 11/1986) đến nay, đất nước Lào đã chuyển từ nền sản xuất kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân
làm hết sức mình để củng cố, vun đắp và phát triển tình đoàn kết, hữu nghị
đặc biệt giữa hai nước Việt-Lào.
1.2. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý KH&CN của CHDCND Lào
1.2.1. Nguyên tắc tổ chức hoạt động của NAST
Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào, gọi tắt là “NAST” (có tên tiếng Pháp là
Autorite Nationale Pour les Sciences et la Technologie) là cơ quan chính phủ
trực thuộc trung ương, theo cơ cấu của Văn phòng Thủ t
ướng, có chức năng
10
giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về KH&CN trong phạm vi cả
nước. Hoạt động của NAST được quy định tại Nghị định số 444/PM ngày
25/12/2007 của Chính phủ về việc thành lập và tổ chức hoạt động của Ủy ban
KH&CN Quốc gia Lào.
Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào thực hiện các hoạt động quản lý theo
các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ, thỏa thuận theo nhóm trong việc tổ
chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về KH&CN và nguyên tắc cân bằng
lợi ích trong phối hợp, hợp tác với các tổ chức nước ngoài và quốc tế trong
lĩnh vực KH&CN; thực hiện từng công việc theo sự phân chia rõ ràng trách
nhiệm đối với từng cán bộ công chức, viên chức theo nguyên tắc tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách.
- Các hoạt động của Ủy ban KH&CN Quốc gia phải tuân theo quy định
hiện hành của Pháp luật và các quy
định khác của chính phủ, đảm bảo thực
hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách Đảng và Chính phủ.
- Phối hợp và hợp tác với các cơ quan của chính phủ ở trung ương và
các tỉnh, thành phố trong hoạt động quản lý KH&CN theo nguyên tắc phân
công, phân cấp cụ thể. Tập thể ban lãnh đạo sẽ quyết định thông qua việc
quy định và đăng kí quyền sở hữu trí tuệ; để thanh tra, kiểm soát và đánh giá
việc thi hành các biện pháp nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ nhà nước,
các khu vực tư
nhân và cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Nghiên cứu sáng tạo và quản lý công bằng giữa nhà nước và xã hội
thông qua hệ thống tiêu chuẩn của Lào, đưa ra khuyến nghị về phương pháp
sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong phạm vi quốc gia Lào;
- Thực hiện kiểm soát nhà nước về hệ thống đơn vị đo lường, xác định
dạng thức đo và thông qua kiểu dáng của thiết bị đo lường, cân bằ
ng khâu
quản lý nhà nước và xã hội về chất lượng sản phẩm, quy định các nguyên tắc
và điều kiện của các cơ quan có thẩm quyền chứng thực, phê duyệt chất lượng
sản phẩm, tổ chức, kiểm tra và thông qua chất lượng sản phẩm;
- Kiểm soát và sử dụng định kì tên miền (.la) theo chỉ định của Thủ
tướng chính phủ trong từng nhiệm kì;
12
- Nghiên cứu, sáng tạo, kiểm soát và sử dụng thông tin (công nghệ
thông tin) để mở rộng phát triển các lĩnh vực khác liên quan đến quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Đặt trước, kiểm soát và sử dụng vị trí quỹ đạo vệ tinh trên mặt đất, vệ
tinh của Lào thông qua việc hợp tác với các bên liên quan trong nước, các
nước khác và các tổ chức Quốc tế;
- Phối hợp với các bên, khu vực và cơ quan địa ph
ương triển khai các
dự án về chính phủ điện tử (e-government);
- Tổ chức quảng cáo, xuất bản và xây dựng các mạng lưới dịch vụ về
triển khai các kết quả nghiên cứu KH&CN thành công;
- Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thi hành pháp luật, các quy định,
đề án, dự án, ngân sách nhà nước và nhiều công tác khác liên quan đến lĩnh
tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính và trao đổi KH&CN dựa theo trên nguyên tắc
mà chính phủ đưa ra hoặc chính phủ giao cho để phục vụ sự nghiệp phát triển
KH&CN của đất nước.
Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào có các quyền hạn sau:
- Đưa ra các chỉ thị và thông báo để quản lý cấp vĩ mô, ban hành các
quy định, điều khoản, khuyến nghị và các hội thả
o về KH&CN, SHTT, TC-
ĐL-CL phù hợp với yêu cầu đề ra.
- Chứng nhận, đăng kí quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất
lượng cho các doanh nghiệp khác nhau;
- Chứng nhận và trao thưởng cho cá nhân có sáng kiến, nhà khoa học,
nghiên cứu viên xuất sắc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ thông qua
chứng thực của Hội đồng Quốc gia về KH&CN, giải thưởng trao cho các tổ
chức có cống hiến to lớn và các bên liên quan khác để gây quỹ th
ưởng cho các
hoạt động về KH&CN nhằm khuyến khích nghiên cứu viên xuất sắc tiếp tục
phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội đất nước theo các nguyên tắc, quy
định và chính sách của chính phủ;
- Kiểm tra, đánh giá, cảnh cáo, ngăn chặn và tạm thời đình chỉ các hoạt
động kinh doanh có tác động tiêu cực đến hoạt động KH&CN;
- Tham gia và đóng góp ý kiến tại các phiên họp Chính phủ và các
phiên họp cấp ngành khác về các v
ấn đề liên quan đến KH&CN, sở hữu trí
tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng;
- Quản lý và sử dụng ngân sách và các khoản thu kỹ thuật do chính phủ
phân bổ theo nguyên tắc, quy định và chính sách của Chính phủ;
14
- Thành lập, giải tán, nâng cấp và cải tổ cơ cấu tổ chức; bổ nhiệm, miễn
nhiệm, xóa bỏ nhiệm vụ, xúc tiến, tuyển dụng chuyên gia hay nhân viên tạm Hình 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của NAST Lào
15
a) Tại cơ quan trung ương
- Văn phòng chính phủ;
- Hội đồng KH&CN;
- Ủy ban KH&CN Quốc gia.
Trong Ủy ban KH&CN Quốc gia có:
Lãnh đạo Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào gồm: một Chủ tịch do Thủ
tướng bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm. Chủ tịch Ủy ban KH&CN Quốc gia chịu
trách nhiệm trước Chính phủ về toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và những
thành tựu đạt được hay những yếu kém khi th
ực hiện đường lối chỉ đạo, chính
sách cũng như chức năng và nhiệm vụ của Ủy ban KH&CN Quốc gia theo
các quy định hiện hành. Các Phó Chủ tịch Ủy ban KH&CN Quốc gia do Thủ
tướng Chính phủ bổ miện, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch, có
nhiệm vụ giúp Chủ tịch trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động quản lý được
phân công và
ủy quyền chung của Ủy ban KH&CN Quốc gia; trong trường
hợp Chủ tịch vắng mặt, một Phó Chủ tịch được ủy quyền thay mặt Chủ tịch
quản lý, điều hành hoạt động của Ủy ban KH&CN Quốc gia theo qui định của
pháp luật.
Tư vấn, giúp việc cho lãnh đạo Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào có các
đơn vị sau:
+ Vụ KH&CN;
+ Vụ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường;
b) Tại các địa phương
Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các Sở KH&CN ở cấp
tỉnh phù hợp với điều kiện của từng tỉnh, thành và Phòng KH&CN ở cấ
p quận,
huyện trực thuộc ủy ban nhân dân và dưới sự chỉ đạo về chuyên môn của Ủy
ban KH&CN Quốc gia.
Tại địa phương (cấp tỉnh), nước CHDCND Lào có 17 tỉnh thì có 12 tỉnh
đã thàng lập Sở KH&CN, còn 05 tỉnh chỉ lả Văn phòng hoạt động KH&CN
17
trực thuộc UBND tỉnh, trong tương lai sẽ nâng cấp thành Sở KH&CN. Biên
chế mỗi Sở KH&CN có từ 15 đến 30 người tùy theo từng tỉnh.
Về mặt hành chính các Sở KH&CN hoặc Văn phòng hoạt động
KH&CN của các địa phương sẽ trực thuộc bộ máy tổ chức của UBND tỉnh
nhưng chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào.
Các Phòng KH&CN của các quận, huyện sẽ trự
c thuộc bộ máy tổ chức của
UBND quận huyện nhưng chịu sự về chuyên môn của Sở KH&CN hoặc Văn
phòng hoạt động KH&CN cấp tỉnh.
Về các tổ chức KH&CN, quá trình hình thành và phát triển của các tổ
chức KH&CN Lào được khái quát như sau:
- Năm 1967 thành lập Cục Địa chất và Khoáng sản (Bộ Năng lượng và
Khai khoáng).
- Năm 1982 thành lập Ủy ban Nhà nước về KH&CN (Hiện nay là Ủy
ban KH&CN Quốc gia Lào - NAST).
- Nă
m 1985 thành lập 3 cơ sở nghiên cứu: (1) Trạm NAPHOK nghiên
cứu giống lúa; (2) Trạm SALAKHAM nghiên cứu bệnh cây trồng và nghiên
cứu côn trùng; (3) Trạm NONG TENG nghiên cứu các loài cá.
- Năm 1983 thành lập Viện Nghiên cứu Nghệ thuật và Văn học Quốc
KH&CN từ tháng 7/2011. Đây chính là thể hiện sự quan tâm của Đảng Nhân
dân cách mạng Lào và Chính phủ nước CHDCND Lào đối với sự nghiệp
KH&CN của đất nước. Song song với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý nhà nướ
c về KH&CN từ trung ương đến địa phương, Bộ KH&CN Lào
đang xúc tiến việc xây dựng và trình ban hành các bộ luật, các văn bản quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực KH&CN để tạo lập một hành lang pháp lý
thông thoáng nhằm thúc đẩy KH&CN phát triển cũng như đưa các tiến bộ
KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Như vậy, về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý KH&CN và ph
ương thức
thực hiện quản lý các hoạt động KH&CN của CHDCND Lào cũng gần tương
tự như hệ thống tổ chức bộ máy và phương thức quản lý KH&CN của Việt
Nam. Do vậy, các chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các
cán bộ quản lý KH&CN đã xây dựng của Trường Quản lý KH&CN có thể vận
19
dụng và nghiên cứu biên tập lại cho phù hợp với điều kiện cụ thể của
CHDCND Lào để phục vụ cho nhiệm vụ hợp tác theo Nghị định thư này.
1.3. Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
quản lý KH&CN của Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào
Theo kết quả khảo sát, phỏng vấn trực tiếp của Đoàn cán bộ Trường
Quản lý KH&CN tạ
i Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào về thực trạng hoạt động
đào tạo bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ quản lý KH&CN của Ủy ban KH&CN
Quốc gia Lào đã cho thấy là từ khi thành lập cho đến nay, Ủy ban KH&CN
Quốc gia Lào chưa có hoạt động đào tạo bồi dưỡng về quản lý KH&CN cho
cán bộ trong của hệ thống tổ chức bộ máy quản lý KH&CN Lào. Các cán bộ
quản lý KH&CN của CHDCND Lào hiện nay đều được l
ựa chọn, bổ nhiệm
các tiến bộ KH&CN trong sản xuất, kinh doanh.
Do vậy, căn cứ thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và định
hướng phát triển công tác quản lý KH&CN của CHDCND Lào, Trường Quản
lý KH&CN đã thống nhất với Văn phòng Ủy ban KH&CN Quốc gia Lào (đơn
vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ hợp tác theo Nghị định thư của phía Lào) một
khung chương trình đào tạo về quản lý KH&CN cho các lớp tập huấn nâng
cao năng lực quản lý cho cán bộ của CHDCND Lào, dự kiến bao gồm các
chuyên đề như sau:
1) Đại cương về quản lý KH&CN
2) Chiến lược và chính sách KH&CN
3) Pháp luật KH&CN
4) Tiềm lực KH&CN
5) Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
6) Phương pháp luậ
n kế hoạch hoá KH&CN
7) Đại cương về hoạt động sở hữu trí tuệ
8) Xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ
9) Thanh tra KH&CN
10) Quản lý nhà nước về Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
11) Quản lý nhà nước về công nghệ
12) Các hoạt động chuyển giao công nghệ
13) Quản lý KH&CN ở địa phương
21
14) Thông tin KH&CN
Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu cụ thể khi triển khai thực hiện, tên các
chuyên đề có thể thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế. Một số vấn đề có
thể gộp lại thành một chuyên đề chung để vừa đảm bảo thời lượng của các
khóa đào tạo vừa tạo điều kiện cho giảng viên trình bày cũng như học viên
tiếp thu bài giảng. Trong nội dung bài giảng chuyên đề cần trình bày các khái
14 36 9 15
6
Đại cương về hoạt động sở hữu trí
tuệ
10 17 10 17
7 Thanh tra KH&CN 3 16 3 8
8
Quản lý nhà nước về Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng
16 21 16 11
22
9 Quản lý nhà nước về công nghệ 18 27 13 16
10 Quản lý KH&CN ở địa phương 8 25 8 17
11
Phương pháp luận kế hoạch hóa
KH&CN
8 25 8 17
12 Xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ 7 16 9 8
13 Thông tin KH&CN 26 39 19 23
14
Các hoạt động chuyển giao công
nghệ
7 16 9 8
TỔNG CỘNG 186 141 144 195
Bảng 1.1: Tổng hợp nhu cầu số lượng cán bộ quản lý KH&CN của CHDCND Lào
cần được đào tạo
Mặt khác, thực tiễn đã khẳng định, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức về quản lý KH&CN là một bộ phận không tách rời của
được đào tạo theo các chuyên ngành sâu nhưng l
ại chưa được trang bị những
kỹ năng, kiến thức cơ bản về hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách,
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và quản lý nhà nước về KH&CN.
Vì vậy, số cán bộ quản lý KH&CN này đang cần được đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý KH&CN để có thể thực hiện tốt những nhiệm vụ
được giao.
Mặt khác, quản lý KH&CN là loại hoạt động quản lý có tính linh hoạt rất lớn,
đầy khó khăn và phức tạp. Trình độ quản lý KH&CN cao thấp sẽ trực tiếp
quyết định không những đến phương hướng, trình độ phát triển KH&CN, mà
còn quyết định đến cả sự thất bại, được mất của hoạt động nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ cụ thể của từng qu
ốc gia. Cho nên, tăng cường
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý KH&CN để có thể tăng cường
hiệu quả điều tiết, điều hành trong quản lý, để quản lý đi dần tới hoàn thiện
hoá là việc làm vô cùng quan trọng trong thời đại ngày nay. Nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN là điều kiện tiên quyết để nâng cao
năng lực KH&CN quốc gia, thúc đẩy phát tri
ển kinh tế - xã hội, từng bước tiến
tới nền kinh tế tri thức và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của CHDCND
Lào trong giai đoạn hiện nay.
24
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH KHUNG CỦA CÁC LỚP ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ KH&CN CHO CÁC
CÁN BỘ CỦA ỦY BAN KH&CN QUỐC GIA LÀO