2VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU PHI VÀ TRUNG ĐÔNG
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC
ĐỂ MỞ RỘNG QUAN HỆ HỢP TÁC CỦA VIỆT NAM
VỚI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG ĐẾN NĂM 2020
Mã số: ĐTĐL.2010T/37
BÁO CÁO TỔNG HỢP
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đỗ Đức Định
Các thành viên chính tham gia đề tài:
1. PGS.TS. Đỗ Đức Định
2. PGS.TS. Trần Văn Tùng
3. PGS.TS. Nguyễn Thanh Hiền
4. TS. Bùi Nhật Quang
5. TS. Trần Thị Lan Hương
6. ThS. Trần Thùy Phương
7. ThS. Đỗ Đức Hiệp
8. ThS. Kiều Thanh Nga
9. CN. Phạm Thị Kim Huế
1.2. Các tôn giáo lớn tại Trung Đông
37
1.2.1. Hồi giáo
37
1.2.2. Thiên Chúa giáo
41
1.2.3. Do Thái giáo
43
1.3. Những thay đổi về chính sách và thực tiễn diễn ra tại Trung
Đông và thế giới thời kỳ gần đây
45
1.3.1. Những thay đổ
i về chính sách và biến động chính trị - xã hội
diễn ra gần đây tại Trung Đông - Bắc Phi
45
1.3.2. Cuộc khủng hoảng tài chính và sự thay đổi giá dầu thế giới
51
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN TẠI KHU VỰC
TRUNG ĐÔNG
54
2.1. Tình hình chính trị, an ninh và ngoại giao của Trung Đông
54
2.1.1. Thực trạng chính trị, an ninh Trung Đông thời kỳ Chiến tranh
Lạnh
54
2.1.2. Tình hình chính trị, an ninh Trung Đông từ khi kết thúc Chiến
tranh Lạnh
đến nay
57
ủa Trung Đông
97
2.4.3. Nguồn thu từ xuất khẩu dầu lửa của Trung Đông
101
2.4.4. Cách thức sử dụng nguồn thu từ dầu lửa của Trung Đông
103
2.4.5. Vai trò dầu lửa Trung Đông trong ngành dầu lửa thế giới
110
2.4.6. Vai trò của OPEC đối với nguồn dầu lửa Trung Đông
110
2.4.7. Các nước lớn với nguồn dầu lửa Trung Đông
113
2.5. Đầu tư
nước ngoài vào Trung Đông và đầu tư của Trung
Đông ra nước ngoài
115
2.5.1. Đầu tư nước ngoài vào Trung Đông
116
2.5.2. Đầu tư của Trung Đông ra nước ngoài
122
2.5.3. Đầu tư của Saudi Arabia
127
2.5.4. Đầu tư của Các Tiểu Vương quốc Arab Thống nhất
132
2.5.5. Đầu tư của Israel
137
CHƯƠNG III: QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC CỦA
TRUNG ĐÔNG
150
3.2.3.2. Hợp tác trong khuôn khổ Đối tác Châu Âu - Địa Trung Hải
193
3.2.3.3. Hợp tác EU - GCC
197
3.2.3.4. EU với vấn đề an ninh, chính trị Trung Đông
201
3.2.4. Quan hệ Trung Đông - Nhật Bản 203
3.2.4.1. Chính sách Trung Đông của Nhật Bản
203
3.2.4.2. Hợp tác Trung Đông - Nhật Bản trong một số lĩnh vực tiêu
biểu
206
3.2.5. Quan hệ Trung Đông - Trung Quốc 209
3.2.5.1. Chính sách Trung Đông của Trung Quốc
209
3.2.5.2. Quan hệ kinh tế Trung Đông - Trung Quốc
213
3.2.5.3. Quan hệ của một số quốc gia trọng yếu ở Trung Đông với
Trung Quốc
217
3.2.6. Quan hệ hợp tác khu vực giữa Trung Đông và Châu Á 220
6
3.2.6.1. Con đường tơ lụa mới
221
3.2.6.2. Hợp tác GCC - ASEAN
223
3.2.6.3. Đối thoại Trung Đông - Châu Á
225
CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP
rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
275
4.3.1. Những quan đ
iểm chủ đạo 275
4.3.2. Kiến nghị về cơ chế, chính sách và giải pháp đột phá chiến lược
để mở rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
277
KẾT LUẬN
292
TÀI LIỆU THAM KHẢO
294
7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ACWA ACWA Power International Công ty Năng lượng Quốc tế
ACWA của Saudi Arabia
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Tự do Thương mại
ASEAN
AKP Trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là
AK parti hoặc AKP (Adalet ve
Kalkınma Partisi)
Đảng Công lý và Phát triển
AL Arab League Liên đoàn Arab
AMED Asia - Middle East Dialogue Đối thoại Châu Á - Trung
Đông
AMU Alliance of Maghreb Union Liên minh Arab Maghreb
EMP Euro-Mediterranean
Partnership
Đối tác Châu Âu - Địa Trung
Hải
ENP European Neighborhood
Policy
Chính sách Láng giềng Châu
Âu
EU European Union Liên minh Châu Âu
EURO-MED Euro - Mediterranean
Agreement
Hiệp định Châu Âu - Địa
Trung Hải
EUPOL
COPPs
Văn phòng Điều phối Hỗ trợ
Cảnh sát Palestine
Eurostat European Statistics Cơ quan Thống kê Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GAFTA Greater Arab Free Trade Area Khu vực Thương mại Tự do
Arab Mở rộng
GATT General Agreement on Trade
and Tariffs
Hiệp định chung về Thương
mại và Thuế quan
GCAA General Civil Aviation
Authority
Tổng cục Hàng không Dân
dụng của UAE
GCC Gulf Cooperation Council Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh
Viện Tài chính Quốc tế
IKC Idemitsu Kosan Corp Tập đoàn Idemitsu Kosan
ILO International Labour
Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IMO International Maritime
Organization
Tổ chức Hàng hải Quốc tế
IPIC
International Petroleum
Investment Company
Công ty Đầu tư Dầu mỏ Quốc
tế
IRENA International Renewable
Energy Agency
Cơ quan Năng lượng Tái sinh
Quốc tế
KEPCO Korea Electric Power
Corporation
Công ty Năng lượng Quốc
gia của Hàn Quốc
KNPC A Subsidiary of Kuwait
Petroleum Corporation
Công ty Dầu khí Quốc gia
Kuwait
KPC Kuwait Petroleum
Corporation
Tổng Công ty Dầu khí Quốc
Neo -
Ottomanism
Neo - Ottomanism Chủ nghĩa Ottoman mới
NIOC National Iranian Oil Company Công ty Dầu khí Quốc gia
Iran
NOGA National Oil and Gas
Authority
Cơ quan Dầu mỏ và Khí đốt
Quốc gia Bahrain
OECD Organization of Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế
OFID OPEC Fund for International Quỹ Phát triển Quốc tế của
11
Development OPEC
OIC Organization of Islam
Conference
Tổ chức Hội nghị Hồi giáo
OPEC Organization of Petroleum
Export Countries
Tổ chức các nước Xuất khẩu
Dầu mỏ
PAFTA Pan Arab Free Trade Area Khu vực Tự do Thương mại
liên Arab
PE Polythylene Polythylene
PLO Palestine Liberation
Organization
Tổ chức Giải phóng Palestine
Corporation
Tập đoàn Hóa dầu Quốc gia
Trung Quốc
SIPRI Stockholm International Peace
Research Institute
Viện Nghiên cứu Hòa bình
Quốc tế Stockholm
SWFs Sovereign Wealth Fund Quỹ Tài chính nhà nước
TAQΑ
Abu Dhabi National Energy
Company
Công ty Năng lượng Quốc
gia Abu Dhabi
TASWEEQ Qatar International Petroleum
Marketing
Công ty Tiếp thị Dầu khí
Quốc tế Qatar
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TIFA Trade and Investment
Framework Agreement
Hiệp định khung về Thương
mại và Đầu tư
TNCs Transnational corporations Các công ty xuyên quốc gia
TPC Thailand Plastic and Chemical
Company
Công ty TNHH Nhựa và Hóa
chất Thái Lan
UAE United Arab Emirates Các Tiểu Vương quốc Ả Rập
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại Thế
giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
14
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng và tiến trình đổi
mới của Việt Nam ngày càng phát triển, Việt Nam tiếp tục nỗ lực để mở rộng
quan hệ hợp tác về mọi mặt với các bạn bè năm châu, trong đó có các nước
Trung Đông, nơi thu hút sự quan tâm ngày càng cao của cộng đồng qu
ốc tế, đặc
biệt là về các lĩnh vực chiến lược, kinh tế, thương mại, khai thác và buôn bán
dầu khí, nhằm phát triển các mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, tăng cường vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất
nước.
Trung Đông là khu vực có vị trí địa chính trị quan trọng, là vùng đất giao
thoa giữa ba châu lục Á - Âu - Phi, tiếp nối giữ
a hai biển lớn là Địa Trung Hải
và Ấn Độ Dương, là mạch giao thông rất quan trọng của thế giới. Hơn thế,
Trung Đông còn chứa đựng nguồn tài nguyên dầu lửa lớn nhất thế giới, chiếm
68% trữ lượng dầu thô toàn cầu, nguồn năng lượng quý giá và cần thiết cho quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mọi quốc gia. Nhóm các quốc gia thuộc
Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) có tiề
m lực tài chính lớn, có khả năng đầu
tư trên nhiều lĩnh vực. Trung Đông theo nghĩa rộng có dân số khoảng 350 triệu
người với mức thu nhập trung bình cao, là một thị trường lớn về hàng hóa, dịch
năng, thế mạnh của thị trường Trung Đông, phân tích, giới thiệu về văn hóa, tập
tục, tôn giáo, cũng như các đặc đ
iểm về chính trị, luật pháp của các quốc gia
Trung Đông hầu như chưa có hoặc nếu có thì rất sơ sài.
Xuất phát từ thực trạng và nhu cầu thực tiễn hiện nay, chúng ta cần đi sâu
tìm hiểu về Trung Đông nói chung, thị trường Trung Đông nói riêng. Do vậy,
việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan
hệ hợp tác của Việt Nam với khu v
ực Trung Đông đến năm 2020” làm đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước không chỉ cần thiết mà còn cấp bách bởi
hiện nay Chính phủ ta đã thông qua ˝Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ
hợp tác Việt Nam - Trung Đông giai đoạn 2008 - 2015˝.
Phần tổng quan tình hình nghiên cứu về Trung Đông tại Việt Nam cho thấy
chúng ta còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu toàn diện và hệ thống về
Trung Đông. Chính vì vậy, đề tài “
Nghiên cứu các khâu đột phá chiến lược để
mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020”
là một đề tài hoàn toàn mới ở Việt Nam. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp
những thông tin và dữ liệu cần thiết, đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và
16
sẽ giúp có được một cái nhìn tổng thể về khu vực Trung Đông; đưa ra các phân
tích, đánh giá, các luận cứ khoa học và các gợi ý giải pháp cho việc xác định các
khâu đột phá chiến lược ở Trung Đông đối với Việt Nam, phục vụ trực tiếp và
góp phần thực hiện tốt “Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt
Nam - Trung Đông giai đoạn 2008 - 2015” mà Chính phủ đã ban hành. Ngoài
ra, đề tài cũng sẽ
góp phần tuyên truyền và mở rộng nhận thức về Trung Đông,
cung cấp các tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các
trường học, các viện nghiên cứu, các cơ quan có liên quan, và cung cấp các
- Đề xuất hướng đi, giải pháp và chính sách phát triển, mở rộng các quan
hệ hợp tác nhiều mặt với khu vực Trung Đông đến năm 2020 và xa hơn, trong
đó trọng tâm nghiên cứu những chính sách, giải pháp mang tính chiến lược,
thiết thực và có tính khả thi để m
ở rộng quan hệ hợp tác, đối tác với các nước
Trung Đông.
- Cung cấp cho bạn đọc những thông tin, tư liệu và cơ sở lý luận cần thiết
cho các hoạt đông nghiên cứu, giảng dạy, học tập, phát triển kinh doanh, hoạch
định chính sách, nói chung là để nâng cao tầm hiểu biết của đông đảo bạn đọc
về Trung Đông - khu vực có tầm quan trọng chiến lược và lợi ích kinh tế - xã
hội thi
ết yếu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cúu
Nhằm thực hiện mục tiêu nêu trên và phục vụ cho việc xây dựng và thực
thi các chính sách của Chính phủ Việt Nam, nên trong quá trình nghiên cứu tuy
các tác giả có tham khảo một số quan niệm khác nhau được các tổ chức quốc tế
và các nước khác trên thế giới đã nêu ra, nhưng trọng tâm tập trung nghiên cứu
các nước Trung Đông theo quan niệm và khuôn khổ chính sách đã được nêu
trong Đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Đông giai
đoạn 2008-2015 mà
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt. Theo Đề án này, Trung Đông là
khu vực có 16 nước với tổng diện tích khoảng 6 triệu km
2
, dân số trên 260 triệu
người, gồm các nước cụ thể như Saudi Arabia, Bahrain, Qatar, UAE, Kuwait,
Jordan, Iran, Iraq, Israel, Lebanon, Oman, Palestine, Cyprus, Turkey, Syria và
Yemen
1
.
Việt Nam và Trung Đông có nhiều lợi thế so sánh có thể bổ sung cho
cục diện thế giới đến năm 2020, vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Trung
Đông trong cục diện chung của thế giới, sự quan tâm c
ủa thế giới tới Trung
Đông, và khả năng mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với Trung Đông, từ
đó xác định những lĩnh vực, đối tác cần ưu tiên, coi đó là các khâu đột phá để
thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông.
5. Đóng góp của đề tài
Những đóng góp chính của đề tài bao gồm:
- Một công trình nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, cung
cấp các kiến th
ức cơ bản, khái quát, mang tính tổng hợp và hệ thống về khu vực
Trung Đông.
- Đã phân tích làm rõ tầm quan trọng chiến lược của khu vực Trung Đông,
đồng thời làm rõ những lĩnh vực có khả năng bổ sung và mở rộng quan hệ hợp
19
tác của Việt Nam với cả khu vực Trung Đông nói chung, với từng nước trong
khu vực nói riêng, từ đó xác định cụ thể các khâu đột phá chiến lược nhằm mở
rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020 và
xa hơn.
- Đề xuất các kiến nghị thiết thực, có tính khả thi cao phục vụ các cơ
quan hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn có liên quan tham khả
o và
sử dụng.
- Cung cấp các thông tin, tư liệu cần thiết góp phần bổ sung và nâng cao
nhận thức của bạn đọc Việt Nam về khu vực Trung Đông, giúp các cơ sở nghiên
cứu, đào tạo, kinh doanh có thêm thông tin, tư liệu cần thiết để đẩy mạnh các
hoạt động nghiên cứu, đào tạo và kinh doanh tại khu vực Trung Đông.
Cuối cùng, các thành viên tham gia nghiên cứu đề tài tự nhận thấy đã có
nhiều nỗ
tác từ khá lâu, nhất là từ khi nước ta cùng các nước Trung Đông chia sẻ những
kinh nghiệ
m đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Nhưng hầu
hết các quan hệ hợp tác trước đây chủ yếu tập trung trong lĩnh vực chính trị,
ngoại giao, chỉ đến một vài thập kỷ gần đây mới chuyển dần sang các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ mang tính thiết thực hơn. Để hiểu
rõ những cơ hội và thách thức trong tiến trình
đẩy mạnh hơn nữa các quan hệ
hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia Trung Đông từ nay đến năm 2020 và xa
hơn, công trình này sẽ bắt đầu từ việc nghiên cứu những cơ sở lý thuyết, chính
sách và thực tiễn chính trị, kinh tế, xã hội làm nền tảng cho những quan hệ hợp
tác trước mắt cũng như lâu dài giữa hai bên.
1.1. Các lý thuyết và quan điểm chính sách có ảnh hưởng tới quan hệ hợp
tác Việ
t Nam - Trung Đông
Lợi thế quốc gia, năng lực cạnh tranh là một chủ đề được nghiên cứu và
đánh giá trên Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) hàng năm. Phương pháp đánh
giá chủ yếu do các giáo sư Đại học Harvard như Porter, Jeffrey, Andrew và một
số chuyên gia của WEF như Peter, Mache Levinson và Klaus Schwale xây dựng
từ thập niên 1970. Đến cuối thập niên 1980, học giả Mỹ S. Nye lại đưa ra khái
21
niệm về sức mạnh mềm của một quốc gia. Theo ông, nhiều quốc gia hiện nay
không chỉ có sức mạnh cứng (được đánh giá qua năng lực cạnh tranh), mà còn
có lợi thế về sức mạnh mềm như văn hóa, hình thái ý thức, hệ thống giá trị, tư
tưởng về tự do, dân chủ, nhân quyền… Lợi thế của một quốc gia được hiểu ở
những cấp
độ khác nhau, trước hết là lợi thế so sánh, tiếp theo là lợi thế cạnh
tranh, và cao hơn là nâng tầm các lợi thế đó thành sức mạnh quốc gia.
1.1.1. Lý thuyết về lợi thế so sánh
kinh tế. Nên hiểu lợi thế so sánh là các yếu tố cấp thấp do thiên nhiên, vị trí địa
lý tạo ra. Khi quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra thì lợi thế này giảm
dần vai trò. Lợi thế cạnh tranh quốc gia cần phải được tập trung vào các yếu tố
chứa đựng năng lực động. Trong số đó các yếu tố chất lượng nhân lực, năng lực
công nghệ, hạ tầng cơ sở, tinh thần ch
ủ động hội nhập là rất quan trọng.
1.1.2. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia
Sự thịnh vượng của một quốc gia được xác định bởi GDP bình quân đầu
người, đó là thước đo tổng quát về năng lực, lợi thế cạnh tranh quốc gia, nó có
quan hệ dài hạn với mức sống của người dân. GDP bình quân đầu người phụ
thuộc vào vốn đầu tư và trình độ công ngh
ệ. Khái niệm vốn đầu tư ở đây được
hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cơ sở kỹ thuật (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hạ
tầng kỹ thuật), nguồn vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp,
thái độ làm việc, sức khỏe), nguồn lực xã hội và hệ thống thể chế cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Tă
ng trưởng GDP phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm, trình độ
công nghệ hiện đại và tốc độ đổi mới, cải tiến công nghệ. Tuy nhiên, ngày nay
còn có nhiều yếu tố tác động tới tăng trưởng, một yếu tố quan trọng đang được
chú ý là thể chế (bao gồm cả thể chế chính trị và thể chế kinh tế). Thể chế, hệ
thống pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô có vai trò t
ạo ra môi trường chung.
Còn bản thân năng suất phụ thuộc nhiều vào sự cải thiện năng lực ở cấp vi mô,
tức là cấp ngành và doanh nghiệp. Theo WEF, lợi thế cạnh tranh của một quốc
gia được quy định bởi 8 yếu tố cơ bản:
Thứ nhất, mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế. Yếu tố này bao gồm
các chính sách xuất khẩu, nhậ
p khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI),
các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu như tín dụng, bảo hiểm và khả năng chuyển
đổi đồng tiền khi thực hiện các giao dịch vãng lai. Thước đo độ mở của nền
tế. Sai lầm của các nước đ
ang phát triển là vay nợ tràn lan, không tính đến điều
kiện hấp thụ, hấp thụ kém, ít khi tính tới khả năng trả nợ. Hệ thống tài chính
kém hiệu quả đã dẫn đến một số cuộc khủng hoảng tài chính, thí dụ Mỹ Latinh
thập niên 1980, khủng hoảng tài chính Đông Á cuối thập niên 1990 và cuộc
khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ từ năm 2007.
Thứ ba, nhóm yếu tố về khoa h
ọc công nghệ, xét tới trình độ khoa học
công nghệ của quốc gia so với thế giới, thể hiện qua công nghệ đột phá, đầu tư
cho hoạt động R&D, sự phát triển của thị trường công nghệ và quan hệ hợp tác
giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với các ngành công nghiệp. Mỹ là
quốc gia hàng đầu đang độc quyền chi phối các công nghệ cao. Thung lũng
Silicon tại California của Mỹ là một khu công ngh
ệ cao về công nghệ thông tin,
24
y sinh học, công nghệ nano, vật liệu và năng lượng mới. Vai trò của công nghệ
đối với tăng trưởng kinh tế đã được các lý thuyết tăng trưởng nội sinh xét đến từ
nhiều thập niên trước đây. Dựa vào lý thuyết tăng trưởng nội sinh, các nhà khoa
học tiêu biểu như Lucas, Romer đã khẳng định rằng công nghệ và nhân lực có
kỹ năng đã tạo ra lợi tức tăng dần. Mố
i liên hệ giữa công nghệ và năng lực cạnh
tranh quốc gia được thể hiện ở hai khía cạnh. Công nghệ quyết định hiệu quả
sản xuất, tăng năng suất, giảm giá thành, mặt khác công nghệ tạo ra các sản
phẩm mới có giá trị gia tăng cao hơn và được thương mại hóa. Chính vì nhận
thức được vai trò của công nghệ mà nhiều quốc gia đang phát triển như Trung
Quốc, Ấn Độ
, Brazil, Hàn Quốc đang đầu tư ở mức cao cho hoạt động R&D.
Thứ tư, kết cấu hạ tầng và hiệu quả vận hành sử dụng kết cấu hạ tầng. Cụ
thể là dựa vào hệ thống giao thông, cảng biển, hàng không, kho bãi, viễn thông,
như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, hầu hết các công ty lớn đang
nâng cấp hệ thống sản xuất và năng lực quản lý để tham gia vào mạng lưới sản
xuất trong lĩnh vực công nghiệp điện tử và ô tô, hợp tác sản xuất với các chi
nhánh của các công ty xuyên quốc gia của Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu.
Thứ bảy, vai trò của chính phủ thể hiện qua sự can thiệp vào hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp
và ảnh hưởng của các nhóm lợi ích tới các chính sách của chính phủ. Do đó,
tính công khai, minh bạch, mức độ quan liêu, tình trạng tham nhũng là những
chỉ báo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và tính chuyên nghiệp của
chính phủ. Tại các quốc gia có nền kinh t
ế thị trường đầy đủ thì vai trò của
doanh nghiệp nhà nước giảm, chính phủ không tham gia vào các hoạt động sản
xuất kinh doanh. Môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ là điều kiện thôi thúc các
doanh nghiệp nâng cao vị thế của mình.
Thứ tám, các nhóm yếu tố về thể chế nhấn mạnh tới hệ thống luật pháp,
hiệu quả của luật pháp và sự phù hợp của hệ thống đó đố
i với kinh tế thị trường.
Sự khách quan và hiệu lực của pháp luật bảo đảm cho các hợp đồng về thương
mại, đầu tư, vai trò trọng tài được thực hiện nghiêm minh. Thể chế thị trường tự
do sẽ giúp cho các loại chi phí giao dịch giảm. Một lần nữa cần nhắc lại sự đổ
vỡ của các tập đoàn Đông Á là do chủ nghĩa thân hữu (quan chức chính ph
ủ cấu
kết với tư nhân) tạo nên, một trong những yếu tố gây nên khủng hoảng tài chính
1997-1998.
Từ sau thời kỳ chiến tranh lạnh đến nay, cùng với sự tiến bộ của công
nghệ, mức độ phụ thuộc của các quốc gia ngày càng tăng do toàn cầu hóa và hội
nhập. Sự xuất hiện của các chủ thế hành vi là các công ty đa quốc gia, sự thay
26
đổi thể chế chính trị tại một số nước và sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc, tôn
người thợ thủ công, thợ làm bánh mỳ, thợ may đòi hỏi chính phủ phải bảo hộ họ.
Việc ngăn cấm nhập khẩu theo ông ảnh hưởng đến đời sống của các chủ thuê
m
ướn và công nhân, bởi vì hàng hóa rẻ sẽ cải thiện cuộc sống của họ. Bất chấp
sức mạnh trí tuệ và nhiều cách thuyết phục của ông, luật ngô vẫn tồn tại tới năm