“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
PHẦN I.
I. Lí do chọn đề tài.
- Môn ngữ văn cũng như những bộ môn khoa học khác nó có vai
trò rất quan trọng trong đời sống và phát triển tư duy của con người .
Môn ngữ văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm,tư
tưởng ,tình cảm cho học sinh, nó còn thể hiện rõ mối quan hệ với các
môn học. Học tốt môn Ngữ văn sẽ giúp các em học tốt hơn các bộ môn
khác.
Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS nói chung, phần Tiếng
Việt nói riêng đã mang lại cho con người hiểu được giá trị đặc sắc của
nghệ thuật, biết thưởng thức những cái hay, cái đẹp ý nghĩa cuộc đời qua
những áng thơ văn .
- Trong quá trình dạy học phân môn Tiếng việt, tôi nhận thấy học
sinh, đặc biệt là học sinh khối 6 chưa có vốn từ phong phú, hiểu từ, ngữ,
nghĩa còn mơ hồ dẫn đến tình trạng các em còn viết sai chính tả, sai ngữ
nghĩa và ít có học sinh dùng từ, đặt câu cho hay.
- Khi dạy các phép tu từ: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ tôi thấy học sinh
hiểu khái niệm còn chung chung chưa đi sâu tìm hiểu giá trị biểu đạt và
vận dụng chưa linh hoạt các phép tu từ này vào Tìm hiểu và tạo lập văn
bản, trong giao tiếp… Một số học sinh còn lẫn lộn giữa các phép tu từ
với nhau dẫn đến hiểu sai, vận dụng sai.
- Để học sinh nhận biết, tìm hiểu đúng giá trị nghệ thuật và vận
dụng có hiệu quả các phép tu từ này đòi hỏi người giáo viện phải hướng
học sinh một cách cụ thể , tỉ mĩ gần gũi với tư duỵ, nhận thức của các em
về cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật cách vận dụng các
phép tu từ vào nói, viết. Nghĩa là gắn với những hiểu biết từ thực tế cuộc
sống và những hiểu biết cơ bản mà các em đã phân tích tìm hiểu ở phần
văn bản. Như vậy quá trình dạy học phân môn tiếng việt sẽ thu hút được
viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện được : Cách nhận biết, cách tìm
hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép tu từ trong khi nói và
viết…các tín hiệu nghệ thuật của mỗi biện pháp tu từ từ đó giúp các em
cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của tiếng việt.
2
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
- Quá trình dạy học phân môn Tiếng Việt chúng tôi còn gặp nhiều
khó khăn:
* Đối với học sinh:
- Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa
cao, cùng với ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu
suy nghĩ động não…Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được
hiệu quả cao.
- Học các phép tu từ: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ , các em chưa xác
định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ,
chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ đó,
nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng
như nội dung của mỗi phép tu từ.
- Trong mỗi bài kiểm tra tiếng việt các em còn rất lúng túng khi
xác định các phép tu từ và phân tích ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn
văn.
* Đối với giáo viên:
- Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn,
nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn
học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu
giá trị nghệ thuật, cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng
trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng đoạn văn mẫu để các em học
tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh .
Sau khi tìm hiểu giáo viên cho học sinh rút ra mô hình của phép so
sánh rất đa dạng để học sinh, đặc biệt là học sinh yêú, trung bình để nhận
biết. Mỗi dạng giáo viên lấy nhanh hoặc cho học sinh lấy nhanh một ví
dụ để minh họa.
- Dạng đầy đủ:
Vế A +PDSS(Phương diện so sánh)+ TNSS(Từ ngữ so sánh)+ Vế B
Ví dụ : Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường
VA PDSS TNSS VB
thành vô tận
4
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
- Dạng biến đổi ít nhiều.
- Vế A + TSS + Vế B
Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành
VA TSS VB
-Vế A + Vế B
Ví dụ: Tấc đất tấc vàng
VA VB
- TNSS + Vế B + Vế A
Ví dụ: Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất phục
TSS VB VB
- Vế B + Vế A
Ví dụ: Trường Sơn: Chí lớn công cha
VB VA
b. Cách tìm giá trị nghệ thuật.
- Trong phép so sánh, để làm rõ A ( Sự vật được so sánh) Thường
người ta lấy B ( Sự vật dùng để so sánh) Bao giờ cũng cụ thể, quen thuộc
với nhiều người và giàu hình ảnh.
VB
H: Em hiểu “ Gã nghiện thuốc phiện” Là người như thế nào?
-> Dáng người gầy gò, ốm yếu , da vàng tái, đi liêu xiêu…
H: Thông qua hình ảnh dùng để so sánh, tác giả muốn khẳng định
điều gì về anh chàng Dế Choắt?
-> Cách so sánh này làm rõ hơn cái ốm yếu , quoặt quẹo, yểu tướng
của anh chàng Dế Choắt.
c. Lời bình phép tu từ so sánh
- Hạn chế đối với học sinh: Phần lớn việc cảm nhận giá trị biện
pháp tu từ so sánh của học sinh trong một bài viết cụ thể, các em chỉ nêu
được phép tu từ và nêu tác dụng của vế A và vế B mà thôi, các em chưa
biết dùng lời bình để làm rõ ý nghĩa của biện pháp tu từ đó trong một
đoạn thơ, đoạn văn . Từ đó các em chưa cảm nhận được nghệ thuật đặc
6
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
sắc cũng như ý đồ của tác giả. Để giúp các em có kĩ năng dùng lời bình
trong phép tu từ so sánh tôi có thể đưa ra ví dụ như sau?
Ví dụ:
“ Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt
cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa
nghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng
vĩ”
H: Thông qua hình ảnh dũng sĩ để so sánh em thấy dượng Hương
Thư hiện lên như thế nào?
Bình: Hình ảnh dùng để so sánh này gợi cho người đọc liên tưởng
đến vẻ đẹp thể chất và sự dũng mãnh của dượng Hương Thư như một
người anh hùng khi vượt thác, và thông qua hình ảnh dùng để so sánh
này ta cũng thấy được dụng ý của nhà văn: Ở ngoài đời dượng Hương
A) , phương diện so sánh, từ so sánh chỉ còn sự vật, sự việc được dùng
so sánh ( Vế B) Vậy muốn tìm được phép ẩn dụ và hiểu được cái hay,
hàm súc của ẩn dụ thì phải xuất phát từ từ ngữ ẩn dụ ( Vế B) để tìm đến
vế A ( Sự vật, sự việc được so sánh) . Thông thường học sinh chỉ tìm
được phép ẩn dụ mà ít tìm được giá trị nghệ thuật của nó, nếu tìm được
củng chỉ sơ sài, chung chung, nhiều khi còn sai lệch về nội dung.
Để khắc phục được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu
được các phép ẩn dụ.
* Ẩn dụ cách thức.
- Loại ẩn dụ này được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về cách
thức hành động giữa các đối tượng. ẩn dụ cách thức đã đem lại cho
người đọc bao cảm xúc sâu xa.
Dòng Hương giang thơ mộng và trữ tình hiện lên trong đoạn thơ
đầy nhức nhối trong khi viết về cuộc đời tủi nhục thê thảm của người
con gái giang hồ
trong chế độ cũ:
Đời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng’
(Tiếng hát sông Hương)
8
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
Và:
Em đi với chiếc thuyền không
Khi mô vô bến rời dòng dâm ô
(Tiếng hát sông Hương)
Hình ảnh ẩn dụ bến - dòng dâm ô cùng với chiếc thuyền nan, chiếc
thuyền không chỉ phương tiện được gắn kết liền mạch với các từ chỉ
cách thức hành động như đi - vô - rời của chủ thể trữ tình tạo nên những
ẩn dụ cách thức quen thuộc. Cách nói quen thuộc mà không nhàm chán
Sóng xanh biển cả, cây xanh núi ngàn
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Tác giả đã dùng tên riêng của đồng chí Trần Phú để chỉ những liệt
sĩ cách mạng đã hi sinh như đồng chí Trần Phú. Hiệu quả của tu từ trở
nên rõ nét nhờ sự xuất hiện của từ vô danh bên cạnh tên riêng Trần Phú.
Các anh hùng liệt sĩ vô danh đã hóa thân cho dáng hình xứ sở "Làm nên
đất nước muôn đời"
(Nguyễn Khoa Điềm).
* Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
- Là sự kết hợp của hai hay nhiều từ chỉ những cảm giác sinh ra từ
trung khu cảm giác khác nhau làm cho cảm giác phong phú, đa chiều, đa
vị, đa nghĩa. Ẩn dụ cảm giác được chia ra một số loại như sau:
+ Thị giác + nhiệt: Cái màu xanh này mát quá
+ Thính giác + vị giác: Câu chuyện nhạt phèo
+ Thị giác + khứu giác: Thấy thơm rồi đó
+ Khứu giác + vị giác: Một mùi đăng đắng
+ Thính giác + xúc giác: Một tiếng sắc nhọn
Ví dụ:
Đoạnvăn
“…Chao ôi, trông con sông, vui sướng thấy nắng giòn tan. Sau kì
mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quảng…”
10
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
H: Trong cuộc sống, từ “Giòn tan”Thường dùng chỉ đặc điểm cụ
thể của những vật nào?
- Dùng chỉ đặc điểm của những vật cứng cụ thể khi bị gãy, vỡ như
bánh, gỗ, kính… Chứ không dùng để chỉ hiện tượng tự nhiên như
“Nắng”
“ Viếng lăng Bác” – Viễn Phương
Đặt trong khung cảnh bài thơ, câu thơ ta thấy:
- Mặt trời (1): Là hình ảnh có thật trong tự nhiên, soi sáng, sưởi ấm
cho vạn vật.
- Mặt trời (2: Là hình ảnh ẩn dụ.
H: Tác giả dùng để chỉ ai?
-> Tác giả dùng mặt trời để chỉ Bác Hồ, vị lãnh tụ của dân tộc:
Người soi sáng, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc ta thoát khỏi cuộc sống nô
lệ tối tăm để đi tới tương lai độc lập,Tự do.
Từ hai ví dụ trên ta thấy, cũng nói đến Bác Hồ nhưng ở phương
diện khác nhau nên mỗi tác giả đã sử dụng một hình ảnh ẩn dụ khác
nhau để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình, Từ đó các em thấy được
khi tìm hiểu các văn bản nghệ thuật cần chú ý phân tích các hình ảnh ẩn
dụ (Nếu có) để hiểu sâu hơn ý nghĩa của văn bản.
* Khi dạy phép ẩn dụ, giáo viên cũng nhấn mạnh thêm:
- Ẩn dụ được dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày làm cho
lời nói hội thoại mang đậm đà màu sắc biểu cảm, cảm xúc.
Ví dụ: Khi mẹ nựng con thường hay nói : cún con, cục vàng…Hoặc
sử dụng nhiều ẩn dụ chuyển đổi cảm giác như:
Ví dụ: Giọng chua, nói đau, màu nóng…
Cho học sinh tìm thành ngữ ẩn dụ để khi cần các em biết vận dụng
vào trong giao tiếp hàng ngày, trong lập văn bản để tăng thêm giá trị
hàm súc cho lời nói.
Ví dụ: Nuôi ong tay áo, gậy ông đập lưng ông, chuột sa chỉnh gạo,
con nhà lính tính nhà quan…
b. Phân biệt ẩn dụ tu từ với ẩn dụ từ vựng
12
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
dụng rất khô cứng chỉ mang tính chất giải nghĩa mà thôi. Các em chưa
làm nổi bật được giá trị của vế A, vế ẩn đi sự vật, sự việc được so sánh.
Ví dụ:
“con cò chết rũ trên cây
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà Cuống uống rượu la đà
Chim ri ríu rít bò ra lấy phần
Chào mào thì đánh trống quân
Chim chích cởi trần vác mỏ đi rao”
Bình: Bài ca dao sử dụng biện pháp ẩn dụ, tác giả đã mượn hình
ảnh con cò để nói về những thân phận thấp hèn của người dân lao động,
tầng lớp thấp cổ bé họng nhất trong xã hội ngày xưa. Mượn cái chết của
con cò để phê phán , mỉa mai tầng lớp thống trị cao hơn người dân lao
động đồng thời phê phán hủ tục ma chay cũ.
d. Phân biệt tu từ ẩn dụ với tu từ so sánh.
- So sánh tu từ là cách đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế
khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có cùng một nét
giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới về
đối tượng về bản chất, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống
nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau. Tuy nhiên
cần phân biệt ẩn dụ tu từ với so sánh tu từ.
- Sự giống nhau giữa ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ chính là cách liên
tưởng để rút ra được nét tương đồng giữa hai đối tượng khác loại. Nét
tương đồng này là cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu từ cũng như so sánh
tu từ.
Ví dụ:
Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi
áo nâu, của người công nhân là áo xanh.
H : Các từ in đậm trong câu thơ chỉ ai ?
15
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
->Dùng áo nâu để chỉ người nông dân, áo xanh chỉ người công
nhân, nông thôn chỉ những người sống ở nông thôn , thị thành chỉ những
người sống ở thành t hị.
H : Giữa áo nâu, áo xanh, nông thôn, thị thành với sự vật được chỉ
có mối quan hệ như thề nào ?
-> Dùng dấu hiệu, vật chứa đựng của sự vật để gọi sự vật. Cách
diễn đạt này gọi là hoán dụ.
Sau khi học sinh đã hiểu được đặc điểm của phép hoán dụ giáo viên
tiếp tục hướng dẫn học sinh cách tìm tác dụng của hoán dụ trong các ví
dụ.
H : Nêu nhận xét về hai cách diễn đạt ?
Ví dụ 1 :
Cách 1 : Áo nâu liền với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên
Cách 2 : Những người nông dân ở nông thôn và những ngừơi công
nhân ở thành thị cùng đứng lên.
-> Cách 1 : Sử dụng hoán dụ có gí trị biểu cảm, gợi hình ảnh, nêu
bật được đặc điểm của những người được nói đến .
-> Cách 2 : Mang tính chất thông báo sự kiện, không có giá trị biểu
cảm.
Ví dụ 2 :
Cách 1 : Họ là hai chục người chèo thuyền, làm ruộng cũng giỏi mà
làm thuyền cũng giỏi.
Cách 2 : Họ là hai chục tay sào, tay chèo, làm ruộng cũng giỏi mà
li giữa người ở lại và người ra đi. Chỉ với hai dòng thơ mà Tố Hữu diễn
tả được trạng thái của tâm hồn con người cụ thể sâu sắc. Hình ảnh “áo
chàm” một hình ảnh để lại ấn tượng về sự độc đáo, đó là hình ảnh tả
thực vừa là hình ảnh hoán dụ, tượng trưng. Đồng bào các dân tộc Việt
Bắc thường mặc áo nâu chàm, một thứ màu sắc giản dị của con người
vốn hiền lành, chất phác nhưng son sắc thủy chung gắn bó với con người
nơi đây. Màu chàm rất bền, ít phai do đó Tố Hữu đã mượn ý nghĩa của
17
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
màu chàm bền chặt để chỉ tình cảm của con người cũng bền chặt để chỉ
tình cảm của con người cũng bền chặt thủy chung. Cảm xúc như vỡ òa
cùng những giọt nước mắt nghẹn ngào. Cuộc chia tay giữa người ra đi và
người ở lại trong câu thơ của Tố Hữu cho ta hình dung một tình cảm
lặng lẽ nhưng bình dị và thiết tha.
4 : Phân biệt tu từ ẩn dụ và tu từ hoán dụ
* Giống : Cùng là biện pháp chuyển đổi tên gọi và về chức năng.
- Lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này (A) để gọi sự vật hiện
tượng khác ở(B) dùng A để gọi B.
- Dựa trên sự so sánh hai sự vật có nét chung ( So sánh ngầm) chỉ
có một vế ( vế biểu hiện), còn vế kia ( vế được biểu hiện) bị che lấp đi
- Có tác dụng gợi hình, gợi cảm.
* Khác :
- Ấn dụ :
+ Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương đồng, tức giống
nhau về phương diện nào đó ( Hình thức, cách thức thực hiện, phẩm
chất, cảm giác)
Ẩn dụ lâm thời biểu hiện mối quan hệ giống nhau giữa hai sự vật .
+ Cơ sở của ẩn dụ dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đối
thôn Đông ( ẩn)
Ẩn dụ : Cau, trầu – Chỉ người đang yêu, đang nhớ nhau , cách nói
lấp lửng bóng gió trong tình yêu đôi lứa (ẩn)
- Qua các ví dụ đã phân tích về 3 phép tu từ : So sánh, ẩn dụ, hoán
dụ chúng ta có thể khẳng định : Khi dạy các phép tu từ giáo viên
cần hướng dẫn tỉ mĩ, cụ thể học sinh cách nhận biết, cách tìm giá trị
nghệ thuật đích thực của mỗi phép tu từ để các em có thể hiểu sâu
những kiến thức về văn học, về thực tế cuộc sống, có như vậy giờ
dạy tiến cũng như giờ dạy văn bản sẽ đạt được hiệu quả. Mặt khác
trong thực tế các em không còn né tránh sử dụng các phép tu từ mà
chủ động, tích cực sử dụng phép tu từ này một cách chuẩn xác trong
những bài văn miêu tả và trong giao tiếp hàng ngày.
19
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
III : Kết quả đạt được :
Trong những năm đầu mới tiếp cận với chương trình lớp 6. Bước
đầu tôi chưa có kinh nghiệm hướng dẫn nên số học sinh đạt kết quả như
mong muốn còn thấp. Song quá trình nghiên cứu phương pháp dạy học
tích hợp, tích cực tôi đã áp dụng những phương pháp này vào nhiều năm
liền ở lớp 6. Tôi thấy học sinh tiếp thu bài nhanh hơn năm trước, theo
khảo sát khoảng .
*Khi chưa áp dụng đề tài : Năm học 2010 - 2011
Kĩ năng nhận biết
các phép tu từ. 6 A
Đạt yêu cầu.
75 %
Không đạt yêu cầu
25 %
“ Một số phương pháp khi dạy các phép tu từ: so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ” Trong phân môn Tiếng Việt.
………………………………………………… ………
- Từ những hiểu biết về cách nhận biết, cách tìm giá trị nghệ thuật
của các phép tu từ, giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng vào việc tạo
lập văn bản và trong giao tiếp hàng ngày để lời văn, lời nói giàu hình
ảnh, tính biểu cảm cao.
V: Kết luận chung :
- Trên đây là một số kinh nghiệm « Một số phương pháp khi dạy
các phép tu từ : So sánh, ẩn dụ, hoán dụ » Trong phân môn Tiếng Việt.
Mặc dầu đề tài chỉ mang tính tìm tòi sáng tạo ở một mức độ nhất định
song cũng có phần đạt hiểu quả tiến bộ rõ nét , tạo được hứng thú học và
cảm nhận của học sinh, giúp các em có kĩ năng hiểu nghệ thuật tu từ ,
điều đó được thể hiện qua sự tiến bộ từng bài viết cụ thể của học sinh.
Tuy nhiên đề tài còn có nhiều thiếu sót cần bổ cứu. Bản thân tôi
mong muốn được sự góp ý chân thành của hội đồng khoa học để đề tài
được thực thi hơn.
Tôi chân thành cảm ơn.
21