Nghiên cứu đánh giá thực trạng trong hệ thống pháp luật về quyền phân phối trong bối cảnh mở cửa thị trường và đưa ra giải pháp hoàn thiện chính sách phù hợp với các cam kết - Pdf 25


BỘ CÔNG THƯƠNG

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN PHÂN PHỐI TRONG BỐI CẢNH
MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG VÀ ĐƯA
RA GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÙ HỢP
VỚI CÁC CAM KẾT

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PHẠM ĐÌNH THƯỞNG
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ DỊCH VỤ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM 36
2.1. Thực trạng dịch vụ phân phối ở Việt Nam 36
2.1.1 Quá trình phát triển dịch vụ phân phối ở Vi
ệt Nam 36
2.1.2 Các loại hình phân phối ở Việt Nam 42
2.1.3. Những đặc điểm của các loại hình phân phối ở Việt Nam 48
2.2 Hệ thống pháp luật Việt Nam về phân phối 49
2.2.1 Khái quát hệ thống pháp luật về phân phối 49
2.2.2 Các quy định pháp luật quản lý dịch vụ phân phối 54
2.3 Nội dung các cam kết quốc tế về quyền phân phối 64
2.3.1 Cam kết trong WTO 64
2.3.2 Cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do khu vực 69
2.3.3 Cam kết song phương 71
2.3.4 Đánh giá và kiến nghị 73
2.4 Những hạn chế của pháp luật hiện hành và vướng mắc trong hoạt động
quản lý nhà nước về phân phối 75
2.4.1 Hạn chế của pháp luật hiện hành 75
2.4.2 Vướng mắc trong hoạt động quản lý nhà nước về phân ph
ối 85
Chương 3 89
KINH NGHIỆM XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÂN PHỐI CỦA MỘT SỐ NƯỚC 89
3.1 Kinh nghiệm xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về phân phối của Mỹ
89
3.1.1 Hệ thống pháp luật về phân phối của Mỹ 89
3.1.2 Quy định pháp luật về phân phối của Mỹ 89

4.2.2 Quy định có hệ thống về
các phương thức tổ chức bán lẻ 115
4.2.3 Bổ sung quy định về việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong
doanh nghiệp phân phối 115
4.2.4 Sửa đổi một số quy định liên quan đến quản lý nhà nước về dịch vụ phân
phối 116
KẾT LUẬN 117 DANH SÁCH VIẾT TẮT BTA
BILATERAL TRADE
AGREEMENT
Hiệp định thương mại Việt Nam
– Hoa Kỳ
WTO
WORLD TRADE
ORGANIZATION
Tổ chức Thương mại Thế giới
ENT
ECONOMIC NEEDS TEST Kiểm tra nhu cầu kinh tế
CPC
CENTRAL PRODUCT
CLASSIFICATION
Phân loại danh mục sản phẩm

Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ
OECD
ORGANIZATION FOR
ECONOMIC CO-OPERATION
AND DEVELOPMENT
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế
WFC
WORLD FRANCHISE COUNCIL Hội đồng nhượng quyền quốc tế
LPG
LIQUEFIED PETROLEUM GAS Khí dầu mỏ hóa lỏng
ASEAN
ASSOCIATION OF SOUTHEAST
ASIA NATIONS
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
AFTA
ASEAN FREE TRADE
AGREEMENT
Hiệp định thương mại tự do
Asean
FTA
FREE TRADE AGREEMENT Hiệp định thương mại tự do
AFAS
ASEAN FRAMEWORK
AGREEMENT ON SERVICES
Hiệp định khung ASEAN về
dịch vụ
VJEPA

PEOPLE’S REPUBLIC OF
CHINA
Bộ Thương mại Trung Quốc DANH SÁCH BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1 Các loại quy định chính đối với hệ thống phân phối……………………32
Bảng 2.1 Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ phân theo ngành kinh tế của Việt
Nam giai đoạn 2000-2008 …………………………………………………………41
Biểu đồ 2.1 Sự phát triển của hệ thống bán lẻ, số cửa hàng bán lẻ Việt Nam 451 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Trong các cam kết quốc tế của Việt Nam, quyền phân phối là khái niệm lần
đầu tiên được đề cập trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và
sau này là trong cam kết WTO và một số Hiệp định FTA. Tuy nhiên, chỉ khi thực
thi các cam kết WTO thì khái niệm quyền phân phối mới được đề cập trong hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật củ
a Việt Nam. Nghị định 23/2007/NĐ-CP Quy
định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động
liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam định nghĩa: Quyền phân phối là quyền thực hiện trực tiếp các
hoạt động phân phối. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
cũng không có quy định nào định ngh
ĩa thế nào là “phân phối” cũng như “các hoạt

phối và đề xuất ra các giải pháp trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế là rất c
ần
thiết.
2. Tình hình nghiên cứu
a) Nghiên cứu ở nước ngoài
Một số nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan. Tuy nhiên không có đề tài nào
giải quyết mục tiêu mà nghiên cứu này đặt ra. Một số đề tài cụ thể, bao gồm :
- Razeen Sally (1999), “Developing country trade policy reform and the
WTO”, London School of Economic and Political Science.
Nghiên cứu này đề cập đến tiến trình cải cách các chính sách thương mại tại
các nước đang phát triển, từ khi các nước còn trong tiến trình cải cách trong nước,
đề ra các chính sách thương mại và ti
ến tới đồng bộ hóa với các quy định của WTO.
- Peter Drysdale and Christopher Findlay (2006), “United States and EU
trade policies and East Asia”, Australian and Japan Research Center. Pacific
Economic Papers 2006.
Nghiên cứu này đề cập đến sự thiếu ăn khớp giữa các chính sách thương mại
của Hoa Kỳ và Liên Minh Châu âu ảnh hưởng rất lớn đến các động lực của các
nước đang phát triển hoàn thành các nghĩa vụ của WTO.
- Francisco Rodriguez và Dani Rodrik (2000), “Trade policies and
Economic Growth”, Havard University.
Nghiên cứu sử dụng các thước đo, tính toán kinh tế để đo đạc
ảnh hưởng của
các chính sách thương mại lên tăng trưởng kinh tế. Cơ sở dữ liệu được tập hợp dựa
trên số liệu của hầu hết các quốc gia đã tham gia WTO và một số không tham gia
WTO, được chia thành các khu vực kinh tế tại cả 5 châu lục.
b) Nghiên cứu ở trong nước 3

Mục tiêu của Đề tài là đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện toàn diện hệ
thống pháp luật về phân phối của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của Đề tài là:
- Hệ thống hóa lại hệ thống pháp luật trong nước về quyền phân phối và chỉ

ra những nội dung bất cập đối với cam kết cần phải được chỉnh sửa phù hợp 4 - Nghiên cứu và chỉ ra những bất cập trong công tác thực thi và quản lý việc
thực hiện quyền phân phối, trên cơ sở phân tích những bất cập này sẽ đưa ra các yêu
cầu đối với về hệ thống pháp luật;
- Khảo sát kinh nghiệm một số nước về việc pháp điển hóa quyền phân phối,
phân tích và chỉ ra những nội dung phù hợp với thực tế Việt Nam, làm cơ sở xác
định nh
ững giải pháp vừa hạn chế được khả năng kiểm soát thị trường của doanh
nghiệp nước ngoài, vừa hỗ trợ hợp pháp
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là lý luận và thực tiễn xây dựng và thực thi
quy định của pháp luật về phân phối, kinh nghiệm quốc tế trong quản lý nhà nước
đối với dịch vụ phân phối.
Phạ
m vi nghiên cứu của Đề tài:
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng
và thực thi quản lý nhà nước về phân phối để rút ra bài học, giải pháp có thể vận
dụng cho Việt Nam.
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số
nước thành viên WTO phát triển trước hoặc có điều kiện tương đồng với Việt Nam,

phân phối và xu hướng phát triển dịch vụ phân phối nhằm đề xuất ra định hướng
giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển m
ới của dịch vụ phân phối;
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của Đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm các nước, Đề tài chỉ ra những bài học và
một số giải pháp đối với xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về dịch vụ phân
phối, bao gồm:
- Cần chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ trong hoạt động trong lĩnh vực
phân phối: Chính phủ cần có một chương trình chính sách hỗ trợ để giúp hộ kinh
doanh, doanh nghiệp nhỏ chuyển đổi sang bán lẻ hiện đại.
- Thiết lập chính sách mới về quản lý ngành bán lẻ địa phương và quốc gia
phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, bảo vệ người tiêu dùng và
nhu cầu toàn xã hội: Bộ Công Thương cần phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Phát
triể
n nông thôn để làm việc với chính quyền địa phương nhằm thiết lập ở mỗi vùng
một uỷ ban làm việc với các công ty siêu thị để phát triển ngành phân phối và bán lẻ
theo vùng và địa phương. Mục đích chính là thúc đẩy liên kết giữa các nhà bán lẻ
lớn và chuỗi cung ứng cung cấp cho các nhà bán lẻ.
- Xây dựng cụ thể hơn các tiêu chí quy hoạch và kiểm tra nhu cầu kinh tế phù
hợp: Đề tài chỉ ra trong việc thực hiện quy hoạ
ch cần phải có cơ chế thực hiện và
quy định bắt buộc trước khi hình thành một cơ sở phân phối. Bên cạnh đó, Đề tài
phân tích và lượng hóa các tiêu chí xác định ENT để cấp phép cơ sở bán lẻ cho nhà
đầu tư nước ngoài. 6 - Xây dựng quy định về các loại hình phân phối mới phát triển: Hiện nay Việt

Dịch vụ phân phối là một trong những thành tố quan trọng nhất của chiến
lược tiếp cận thị trường tổng thể (marketing mix hay marketing 4Ps) của doanh
nghiệp
1
. Từ điển bách khoa toàn thư Brittanica
2
định nghĩa phân phối như sau:
“Phân phối sản phẩm (place) có nghĩa là việc đưa sản phẩm đến nơi tiêu thụ, là
thành tố thứ ba của chiến lược tiếp cận thị trường tổng thể và thường được gọi là
dịch vụ phân phối. Con đường mà thông qua nó hàng hóa, dịch vụ được lưu thông
từ nhà sản xuất, cung ứng đến người tiêu dùng được gọi là các kênh phân phối.”
N
ếu như trước đây, các nhà sản xuất thường phải tự thực hiện công việc phân
phối sản phẩm của mình thì ngày nay, sự phát triển kinh tế thị trường đã chuyên
môn hóa các công đoạn và công việc phân phối trở thành một hoạt động chuyên
biệt. Hoạt động này thường do các thương nhân phân phối thực hiện cho các nhà
sản xuất thay vì nhà sản xuất tự thực hiện. Chính vì vậy đã ra đời dị
ch vụ phân phối.
Theo từ điển kinh doanh (business dictionary)
3
, dịch vụ phân phối là “hoạt
động luân chuyển hàng hóa, dịch vụ từ nguồn – nhà sản xuất, cung ứng thông qua
các kênh phân phối, đến người tiêu dùng hoặc người sử dụng cuối cùng, đồng thời
với các khoản thanh toán đi theo hướng ngược lại đến nhà sản xuất, cung ứng dịch
vụ.”
Như vậy, cần phân biệt khái niệm phân phối và dịch vụ phân phối trong kinh
tế. Sự tách biệ
t này liên quan chặt chẽ đến việc hoạch định chính sách và ban hành
các quy định quản lý nhà nước. Nếu như mọi nhà sản xuất đều có quyền thực hiện


thương nhân trung gian trong việc đưa hàng hóa, dịch vụ giữa nhà sản xuất, cung
ứng dịch vụ đến khách hàng cuối cùng (người tiêu dùng hoặc người sử dụng cuối)”.
Theo từ điển thuật ngữ về kinh doanh, kênh phân phối là “con đường mà
hàng hóa, dịch vụ lưu thông từ nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ đến khách hàng cuối
cùng đồng thời với các khoản thanh toán đi theo hướ
ng ngược lại đến nhà sản xuất,
cung ứng dịch vụ. Kênh phân phối có thể là trực tiếp (người bán đến người mua
cuối) hoặc gián tiếp (thông qua các khâu trung gian có mối quan hệ khăng khít với
nhau) như các nhà bán buôn, bán lẻ, đại lý.
Như vậy, kênh phân phối chỉ ra con đường mà hàng hóa sẽ đi từ nhà sản xuất
đến người tiêu dùng. Một doanh nghiệp sản xuất có thể sử dụng nhiều kênh phân
phối khác nhau, thậm chí củ
a nhiều nhà phân phối khác nhau. Tập hợp các kênh
phân phối mà một nhà sản xuất sử dụng để đưa sản phẩm của mình ra thị trường
thường được gọi là mạng lưới phân phối của nhà sản xuất hay của một loại sản
phẩm.
Như vậy, kênh phân phối là khái niệm được mô tả theo chiều dọc, còn hệ
thống phân phối được mô tả theo chiều ngang. Nếu như kênh phân phố
i có nhiều
cấp độ, từ bán buôn đến bản lẻ, từ tổng đại lý đến đại lý, từ nhà nhượng quyền đến

4
www.britannica.com/ 9 nhà nhận quyền thì hệ thống phân phối cũng có thể được phân loại gồm mạng lưới
bán buôn, mạng lưới bán lẻ, mạng lưới cửa hàng, v.v.

phát gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chính tr
ị, kinh tế, xã hội.
Thứ hai, trên phương diện các doanh nghiệp, việc tự triển khai một hệ
thống như vậy là một gánh nặng tài chính, nhân lực, vật lực và quản lý đối với bất
cứ doanh nghiệp nào, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ - đơn vị hoạt
động kinh tế đông đảo nhất trong bất cứ nền kinh tế nào. Bên cạnh đó, chi phí cơ 10 hội của việc làm tất cả các khâu từ sản xuất – phân phối có thể triệt tiêu lĩnh vực
mũi nhọn của các doanh nghiệp là sản xuất, nghiên cứu chế tạo các sản phẩm mới
qua đó làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc mỗi doanh nghiệp
tự tiến hành hoạt động phân phối làm chậm quá trình chuyên môn hóa
(specialization) của cả nền kinh tế, giảm sức cạnh tranh quốc t
ế đối với chính các
doanh nghiệp đó.
Thứ ba, trên phương diện người tiêu dùng, hàng hóa, dịch vụ được lưu
thông thông qua hệ thống riêng rẽ của mỗi doanh nghiệp là một cản trở vô cùng lớn
cho người tiêu dùng trong việc tiếp cận các hàng hóa, dịch vụ đó. Cụ thể, các cản
trở này thể hiện ở các khía cạnh sau:
(i) Cản trở về mặt không gian: Không một doanh nghiệp sản xuất, cung
ứng
hàng hóa dịch vụ nào có thể tổ chức một hệ thống phân phối hàng hóa đến tất cả các
khu vực địa lý, địa bàn mà những người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ tiềm năng có
mặt do chi phí về thiết lập, duy trì, quản lý cả hệ thống là quá lớn và không khả thi
về mặt kinh tế. Trên thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể thiết lập hệ thống phân phối
trực thuộc mình tại các
địa bàn thành thị, đông dân cư, những nơi có lợi nhất cho

như giá cả, chất lượng hàng hóa, mẫu mã, tính năng. Một khi hàng hóa, dịch vụ
được doanh nghiệp tự phân phối thì khả năng tự do lựa chọn của người tiêu dùng
cũng không còn do người tiêu dùng chỉ có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ do doanh
nghiệp đó cung cấp.
Tất cả các yếu tố cản trở đó trên thực tế đã làm giảm phúc lợi tổng thể của
người tiêu dùng.
1.1.2.2 Cơ sở kinh tế hình thành dịch vụ phân phối
Trong nghiên cứu khoa học về vấn đề này, những nhận định tổng quan trên
có thể tìm được câu trả lời trong nhiều môn khoa học khác nhau nhưng theo nhóm
tác giả, câu trả lời thiết thực nhất, sát nhất với thực tiễn được tìm thấy tại các nghiên
cứu cơ bản của khoa học kinh tế mà cụ thể là liên quan đến lý thuyết về doanh
nghi
ệp
5
và khái niệm “chi phí giao dịch”
6
.
“Chi phí giao dịch” là khái niệm được nhà khoa học kinh tế - được giải
Nobel về kinh tế học năm 1991, Ronald Coase đề cập trong bài báo khoa học “Bản
chất của doanh nghiệp” (1937 – Economica)
7
. Trong đó, Ronald Coase đã chứng
minh rằng: “Có vô số các chi phí giao dịch khi tham gia thị trường. Các chi phí để
có được hàng hóa và dịch vụ thông qua thị trường thường cao hơn chính chi phí để
sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ đó – giá gốc của hàng hóa, dịch vụ. Các chi phí khác
mà doanh nghiệp phải tính đến là chi phí thông tin, chi phí thương thảo việc thương
mại, chi phí cho các bí mật kinh doanh, chi phí cung ứng, phải được tính đầy đủ
trong giá thành khi cung cấp cho người tiêu dùng. Do vậy, doanh nghiệp cần tính
toán là t
ự mình chấp nhận chi trả các chi phí này hoặc tránh các chi phí đó thông

(i) Doanh nghiệp không tự mình đảm nhiệm các công đoạn sản xuất hàng
hóa, cung ứng dịch vụ mà lự
a chọn các doanh nghiệp khác (tức là sử dụng cơ chế
thị trường) làm thay mình. Đây là một trong những phát hiện quan trọng dẫn đến
tiền đề của quá trình chuyển sản xuất từ nơi có chi phí cao sang nơi có chi phí thấp
8

của các doanh nghiệp lớn, đa quốc gia – tiền đề của toàn cầu hóa.
(ii) Và doanh nghiệp không tự kinh doanh (thương mại hóa) hàng hóa, dịch
vụ của mình mà thông qua các dịch vụ có sẵn – tức là tiền đề của dịch vụ phân phối.
Những quan điểm khác
Mặc dù khái niệm “chi phí giao dịch” được Coase khởi xướng và bảo vệ đã
nhận được sự công nhận và phát triển thêm của phần lớn các nhà kinh t
ế học
(trường phái kinh tế học hành vi hay khái niệm sản xuất theo nhóm)
9
, một số các
nhà kinh tế học khác cũng đưa ra một số quan điểm chưa thống nhất.

8
Khái niệm phổ biến là “delocalization”.
9
Kinh tế học hành vi: Behavioural economics. Xem Cyert, Richard; March,
James (1963). Behavioral Theory of the Firm. Oxford: Blackwell. ISBN 9780631174516.
Sản xuất theo nhóm: Team production. Xem Alchian, Armen A.; Demsetz,
Harold (1972). "Production, Information Costs, and Economic Organization". The American
Economic Review(American Economic Association) 62 (5): 777–795. 13

xuất, kinh doanh dù cho đó là chi phí giao dịch hay chi phí hành chính của các
doanh nghiệp. Qua đó, khi dịch vụ phân phối được sử dụng và được sử dụng một
cách có lợi nhất, phúc lợi và sự hiệu quả tổng thể của người tiêu dùng, củ
a nền kinh
tế được đảm bảo một cách tối đa.
1.1.3 Vai trò của dịch vụ phân phối
1.1.3.1 Chức năng lưu thông hàng hóa, dịch vụ
Trên thực tế, dịch vụ phân phối cung cấp một trong những giá trị gia tăng lớn
cho các nhà sản xuất, cung ứng trong việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ với số lượng

10
Williamson, Oliver E. (1975). Markets and Hierarchies: Analysis and Antitrust Implications.
New York: The Free Press.
11
Tiếng Anh là cost of delegation. 14 lớn nhưng lại có thể bán cho người tiêu dùng với số lượng nhỏ: Các nhà cung cấp
dịch vụ phân phối có nhiệm vụ thu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp với số lượng
lớn rồi tuyển chọn, chia nhỏ thành từng lô khác nhau phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng cuối cùng.
Để có thể thực hiện tốt công tác “mua sỉ - bán lẻ”, các nhà cung cấp dịch vụ
phân phối còn thực hiện chứ
c năng kho bãi, bảo quản sản phẩm: Các nhà phân phối
là trạm trung chuyển giữa nhà sản xuất, cung ứng và người tiêu dùng theo đó đảm
bảo việc sản phẩm khi được bán đến tay người tiêu dùng có chất lượng, số lượng
không đổi cho dù có sự chênh lệnh về thời gian giữa hai công đoạn mua và bán sản

Về phía người tiêu dùng, thay vì phải đến từng doanh nghiệp sản xuất để
mua các mặt hàng tương tự nhau thì với các địa điểm phân phối sản phẩm, họ có thể
lựa chọn, so sánh, tiếp cận được với các thông tin tin cậy về hàng hóa, dịch vụ để
đưa ra các quyết định mua hàng.
1.1.4 Các loại hình dịch vụ phân phối
Theo hệ thống phân loại sản phẩm của Liên hợp quốc CPC, ngành phân ph
ối
bao gồm bốn loại hình dịch vụ chính: (1) dịch vụ đại lý hoa hồng, (2) dịch vụ bán
buôn, (3) dịch vụ bán lẻ và (4) dịch vụ nhượng quyền.
Tuy nhiên, mỗi loại hình dịch vụ theo hệ thống phân loại sản phẩm trên lại
có thể được chia nhỏ theo từng kênh (phương thức) khá đa dạng. Trong khuôn khổ
phần nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ giới thiệu tổng quan (có thể không bao trùm
hết) các phân loạ
i nhỏ hơn của từng loại dịch vụ nêu trên (nếu có).
a. Dịch vụ bán buôn (wholesale)
Theo định nghĩa của Vụ Thống kê Liên Hiệp Quốc, dịch vụ bán buôn là bán
lại hàng hóa, dịch vụ (chỉ bán mà thay đổi cơ bản hàng hóa, dịch vụ) cũ hoặc mới
cho các nhà bán lẻ, nhà sản xuất công nghiệp, thương mại, các nhà chuyên doanh, tổ
chức khác, hoặc cho các nhà bán buôn khác nhưng không phải là người tiêu dùng
thông thường.
12

Các nhà bán buôn thường hoạt động như những nhà trung gian, môi giới
trong việc mua, bán hàng hóa. Họ thường tập trung, phân loại, đánh giá chất lượng,
phẩm cấp của hàng hóa theo khối lượng lớn (lô lớn) sau đó đóng gói, phân phối lại
cho các nhà bán lẻ với số lượng nhỏ hơn (lô nhỏ).
Theo truyền thống, các nhà bán buôn thường ở vị trí gần với kênh phân phối
của hàng hóa mà họ cung cấp ra thị trường hơn là gần ngu
ồn cung cấp hàng hóa.
Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp nào cũng bao gồm cả hai hình thức này hoặc

bao gồm những người bán hàng tại nhà; những người đến tận các hộ gia đình để
giới thiệu và bán hàng; những người bán hàng ở các chợ cuối tuần, chợ tết; bán
hàng ở đường phố và các xe bán hàng chủ yếu là hàng th
ực phẩm và các hàng tươi
sống, cũng có thể các xe bán nhiều mặt hàng ở những nơi mà mạng lưới bán lẻ thưa
thớt (gọi là cửa hàng lưu động).
Ngoài thương mại bán rong, dịch vụ bán lẻ được chia theo một số kênh chủ
yếu sau:
(i) Siêu thị (supermarket) là một đơn vị bán lẻ, có diện tích bán hàng từ 400
m
2
(diện tích quy ước có thể thay đổi theo từng quốc gia) trở lên, bán các loại
lương thực, thực phẩm, kể cả hàng tươi sống (hoa quả, rau, thịt, ) cũng như các
hàng hóa khác phục vụ nhu cầu hàng ngày và tiêu dùng ngắn ngày của khách hàng
ở các khu dân cư; hàng hóa được trưng bày trên giá, bán hàng theo phương thức tự
phục vụ hoặc tự phục vụ là chủ yếu, tách biệt cửa ra và cửa vào, thực hiện thanh
toán tập trung. Căn cứ vào c
ơ cấu chủng loại hàng hóa kinh doanh, có các siêu thị
tổng hợp và siêu thị thực phẩm.
(ii) Đại siêu thị (hypermarket): Là loại hình bán lẻ thỏa mãn mọi nhu cầu
mua sắm một lần của khách hàng, bao gồm các siêu thị và những cửa hàng tổng hợp
và chuyên doanh, có kho hàng, bãi đỗ xe lớn; việc vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa
được tối ưu hóa. Đây là loại hình bán lẻ có sức cạnh tranh mạnh về giá cả dựa vào 17 tính kinh tế nhờ quy mô và hiện đại hóa. Địa điểm kinh doanh thường ở khu vực
ngoại vi hoặc ở các khu trung tâm thương mại của thành phố.

chúng còn cung ứng các dịch vụ như nhà hàng, môi giới du lịch, dịch vụ tài chính,
Phương pháp bán hàng bao gồm từ hình thức phục vụ (như
trong nhóm hàng truyền
hình và truyền thanh), chọn trước (như trong nhóm hàng quần áo) cho đến hình thức
tự phục vụ (như trong nhóm hàng thực phẩm).
Một dạng khác của cửa hàng bách hóa là một liên hiệp các cửa hàng chuyên
doanh và chuyên ngành thuộc các ngành hàng khác nhau và các doanh nghiệp cung 18 ứng dịch vụ bổ sung (nhà hàng, giặt là ) đặt cùng nơi trong tòa nhà chung cư nhiều
tầng. Trang thiết bị và trưng bày hàng hóa của các cửa hàng phải đảm bảo hài hòa.
Một dạng khác nữa của cửa hàng bách hóa là một doanh nghiệp bán lẻ lớn
bán hàng chủ yếu dưới hình thức phục vụ và hàng hóa chủ yếu thuộc từ hai ngành
hàng trở lên, trong đó một ngành hàng có chiều sâu. Hình thức phổ biến nhất là cửa
hàng bách hóa bán đồ dệ
t, quần áo và các nhu cầu có liên quan.
(vi) Cửa hàng bán giá rẻ (discount store) bán lẻ các loại hàng hóa tiêu dùng
(kể cả hàng có nhãn hiệu nổi tiếng) với giá rẻ. Nhờ thực hiện chiến lược bán hàng
với giá thấp một cách triệt để nên luôn thu hút được đông đảo các đối tượng khách
hàng. Có 2 loại hình cửa hàng bán giá rẻ:
+ Cửa hàng dạng nhà kho (warehouse store) là loại hình cửa hàng bán giá rẻ
có kiến trúc xây dựng theo kiểu kho hàng và áp dụng chức năng của nhà kho vào
bán lẻ (d
ự trữ và bán hàng ở cùng một nơi) cho phép lợi dụng được tính kinh tế, tính
hiệu suất của nhà kho.
+ Cửa hàng hội viên dạng nhà kho “warehouse club”, là loại hình bán hàng
theo chế độ hội viên, bán lô lớn và chỉ bán hàng cho khách hàng có thẻ hội viên, kết

trung do chủ đầu tư xây dựng theo quy hoạch, trong
đó có bố trí nhiều loại hình bán
lẻ hàng hóa, dịch vụ ăn uống, giải trí, làm đẹp, ngân hàng, du lịch , có siêu thị
hoặc cửa hàng bách hóa, chợ chuyên doanh, làm hạt nhân, đáp ứng nhu cầu mua
sắm, vui chơi, giải trí, thể thao, của khách hàng.
Trung tâm bán hàng của nhà sản xuất (factory outlet mall/centre): là nơi tiêu
thụ hàng hóa tập trung của các nhà sản xuất theo hình thức bán lẻ theo giá bán buôn,
thường có diện tích rộng lớn, nằm cách xa trung tâm thành phố; các nhà sản xuất
bán trực tiếp s
ản phẩm cho khách hàng với giá rẻ hơn; là địa điểm kết hợp du lịch
và mua sắm cho khách hàng nội thành và khách du lịch.
c. Đại lý
14

Theo Luật Thương mại, đại lý là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại
lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá
cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để
hưởng thù lao.
Trong đó, bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc
giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ
cho đại lý cung ứng dịch vụ và bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá
để làm đại
lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng
dịch vụ.
Dịch vụ đại lý bao gồm các hình thức sau:
(i) Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán
trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao
đại lý.
(ii) Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhấ
t định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status