ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC - Pdf 25

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN
MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Nguyễn Thành Kiên Lớp H304
NỘI DUNG
Câu 5: phân tích quan điểm của lênin:"dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ tư sản nào tiến bộ nhất
cũng dân chủ gấp triệu lần hơn". Liên hệ nền dân chủ nước ta hiện nay.
Khái lược lịch sử của vấn đề dân chủ
- Trong công xã thị tộc (thời nguyên thuỷ), thủ lĩnh đứng đầu bộ tộc được người dân của bộ tộc bầu ra hoặc
phế bỏ. Điều này cho thấy quyền dân chủ ra đời từ rất sớm.
- Khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp chủ nô lập ra nhà nước và lấy tên là Nhà nước dân chủ chủ nô, chỉ đến
giai đoạn này thì danh từ dân chủ mới chính thức được sử dụng.
- Dân chủ theo nguyên nghĩa Latinh
Dân chủ theo tiếng Hy Lạp cổ là từ ghép của hai chữ: Demos (nhân dân, quần chúng) + Kratos (sức
mạnh, quyền lực) = quyền lực, sức mạnh thuộc về nhân dân.
Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ
Trong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại, đã tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về dân chủ, và có
những quan niệm cho rẳng dân chủ là phi giai cấp, dân chủ là phi lịch sử. Đối ngược lại với những quan niệm đó,
chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra những luận giải mang tính khoa học về dân chủ như sau:
- Thứ nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin kế thừa những nhân tố hợp lý những hoạt động thực tiễn và nhận thức của
nhân loại về dân chủ, đặc biệt là việc chủ nghĩa Mác-Lênin đã tán thành quan điểm cho rằng: dân chủ là một nhu
cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực của nhân dân.
- Thứ hai, khi xã hội có giai cấp và nhà nước thì khi đó sẽ không có “dân chủ chung chung, phi giai cấp, siêu
giai cấp”, “dân chủ thuần tuý”. Trái lại mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mạng bản chất giai cấp
thống trị. Do đó, từ khi có chế độ dân chủ thì dân chủ luôn luôn với tư cách là một phạm trù lịch sử, phạm trù
chính trị.
- Thứ ba, từ khi có nhà nước dân chủ thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức nhà nước, trong đó chính
quyền về mặt pháp lý thuộc về nhân dân, mọi công dân đề bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia công việc
nhà nước, được sử dụng các quyền chính trị và các quyền tự do dân chủ, thiểu số phục tùng đa số.
- Thứ tư, với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng, đều do một giai cấp thống trị cầm quyền chi phối
mọi lĩnh vực của toàn xã hội. Do vây, tính giai cấp thống trị cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chất của chế
độ chính trị, kinh tế, xã hội, … ở mỗi quốc gia dân tộc cụ thể.

các dân tộc, các tôn giáo…vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Nhà nước ta được tổ chức và quản lý bằng pháp luật. Mọi hoạt động của nhà nước phải tuân thủ theo pháp
2
luật như Bác Hồ từng chỉ rõ “trăm điều phải lấy thần linh pháp quyền”. Nhà nước ta không phải chỉ gắn với
nhân dân mà mọi chính sách do nhà nước đề ra đều phục vụ lợi ích của nhân dân, thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
Nhà nước có cơ chế, chính sách phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động nhân dân kiểm tra, giám sát
các hoạt động có thể nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, lộng quyền của các
tổ chức, bộ máy, công chức nhà nước. Bảo đảm nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tập trung, dân chủ; bảo
đảm quyền lực là thống nhất, có sự phân công hoạt động các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ
quan tư pháp.
Nhận thức rõ bản chất của dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Bác Hồ và Đảng ta luôn xác định dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân; nhân dân là chủ và nhân dân làm
chủ đất nước.
Vì thế thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách
mạng.
Bác Hồ xác định dân là gốc; trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, nước ta là nước dân chủ, địa vị
cao nhất là dân, vì dân là chủ hoặc chế độ nước ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ. Bác xác
định, Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định thực hiện dân chủ là mục tiêu và động lực của cách
mạng. Chỉ có thực hiện dân chủ thực sự mới bình đẳng, mới đoàn kết, mới phát huy sức mạnh của mọi tấng
lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước bền vững.
Xây dựng đổi mới quan hệ giữa Nhà nước và thực hành dân chủ
Theo đó, mọi tổ chức, hoạt động của Nhà nước luôn bảo đảm quyền làm chủ trực tiếp và gián tiếp của nhân
dân. Nhà nước có cơ chế, chính sách khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân.
Cán bộ, công chức nhà nước thật sự gương mẫu, tận tụy phục vụ nhân dân, thật sự trong sạch về đạo đức, lối
sống, không sách nhiễu dân, không cửa quyền với nhân dân để nhân dân thật sự tin tưởng yên tâm trao gửi
quyền lực của mình.
Nhà nước thực sự công khai minh bạch về những chủ trương, chính sách, cơ chế, thiết chế, các nguyên tắc lề
lối, phương thức hoạt động; về chức năng, nhiệm vụ các tổ chức, cá nhân công chức các cấp để nhân dân

nhằm lật đổ CNTB, xây dựng thành công CNXH, CNCS với tích chất gây go, quyết liệt, lâu dài gian khổ. Để
thực hiện được nội dung, mục đích của cuộc cách mạng XHCN,
phải có một lực lượng đông đảo dưới sự lãnh đạo của GCCN nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện
thắng lợi cuộc cách mạng XHCN. Do đó, cần phải liên minh 3 lực lượng đông đảo trong xã hội, đó là liên
minh giữa GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Hai là, là từ vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng
XHCN.
4
Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng XHCN, với SMLS thủ tiêu CNTB, xây dựng thành
công XHCN, XHCS trong phạm vi mỗi nước, mỗi dân tộc và trên toàn thế giới. Trong cuộc đấu tranh đó
GCCN phải có lực lượng, phải thực hiện liên minh giai cấp để tạo thành sức mạnh to lớn nhằm xóa bỏ
CNTB, xây dựng thành công CNXH. Muốn thực hiện thắng lợi SMLS của mình GCCN phải tiến hành liên
minh chặt chẻ với nông dân và trí thức.
Giai cấp nông dân Theo quan điểm cơ bản của CN Mác-Lênin là lực lượng xã hội đông đảo, có vai trò
quan trọng trong sản xuất và xây dựng chính quyền. Trong xã hội cũ nông dân bị bóc lột nặng nề, có nguyện
vọng được giải phóng. Song, do địa vị kinh tế-xã hội của mình không cho phép nông dân có khả năng tự giải
phóng mình và giải phóng xã hội. Chỉ có thể thoát khỏi áp bức bóc lột và phát huy vai trò khi giai cấp nông
dân liên minh chặt chẻ với GCCN và chịu sự lãnh đạo của GCCN.
Trí thức là tầng lớp xã hội có vai trò quan trọng ngày càng tăng trong cách mạng XHCN. Trí thức tham
gia tích cực vào quá trình xây dựng CNXH, đổi mới đất nước, đi đầu trong lĩnh vực phát triển khoa học,
công nghệ và văn hóa tinh thần. Song, trong xã hội cũ, trí thức cũng bị bóc lột và không có khả năng tự giải
phóng mình, muốn thoát khỏi áp bức bóc lột và phát huy cao nhất vai trò của mình, trí thức phải liên minh
với GCCN và chịu sự lãnh đạo của GCCN. Ngược lại, công-nông không được nâng cao kiến thức, không dần
được trí thức hóa, thì không thể xây dựng CNXH được.
Ba là, từ yêu cầu, đặc điểm kinh tế, chính trị-xã hội của TKQD và của CNXH. Trong TKQĐ vẫn còn tồn
tại giai cấp và đấu tranh giai cấp, các giai cấp có lợi ích căn bản thống nhất, song cũng còn những lợi ích
riêng của mỗi giai tầng. Muốn giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa các lợi ích bảo đảm sự cân bằng và thống nhất về lợi ích kinh tế-chính trị-xã hội của mỗi
giai tầng trong xã hội, thì phải thực hiện liên minh giữa GCCN, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Mặt
khác, do yêu cầu xây dựng những cơ sở vật chất của CNXH, đòi hỏi phải xây dựng và củng cố phát triển

Văn kiện Đại hội ĐCS VN lần thứ VII đã khẳng định: “Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức
của mình và nếu bản thân công-nông không được nâng cao kiến thức thì không thể xây dựng được CNXH”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐCS VN (năm 2001) chẳng những tiếp tục khẳng định tính tất yếu
và vai trò của liên minh công-nông- trí thức trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc VN XHCN mà còn
đặc biệt coi trọng vấn đề này khi đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Đại hội chỉ rõ: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa
công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo.
Tính tất yếu của liên minh công-nông-trí thức ở VN trong thời kỳ quá độ lên CNXH vẫn là sự vận dụng
đúng đắn, sáng tạo những luận điểm cơ bản của CN Mác-Lênin về liên minh công-nông và các tầng lớp lao
động khác và hoàn cảnh cụ thể của VN.
Và quan điểm, đường lối và chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ĐCS VN về liên minh công-nông-
trí thức là nhất quán từ khi Đảng ta mới thành lập, lãnh đạo cách mạng VN đến nay và luôn luôn được thực
hiện, kiểm nghiệm qua thực tiễn và phát triển phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước và của
thời đại.
Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức chẳng những là yêu cầu khách
quan về chính trị, làm nền tảng vững chắc cho nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng CNXH, mà còn
là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Liên minh thể hiện tính
quy luật chung của cách mạng XHCN ở những nước có nông dân chiếm đại bộ phận dân cư và thường có
nền kinh tế chậm phát triển.
6
Đại hội VII của Đảng ta cũng khẳng định: “CNH đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một
nền nông nghiệp toàn diện … nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật của CNXH, không ngừng
nâng cao năng suất lao động XH và cải thiện đời sống nhân dân”.
Cách mạng không thể phát triển vững chắc và ngày càng hiện đại. Không thể tiến hành CNH đất nước,
nếu không có nền nông nghiệp phát triển toàn diện, có sản lượng hàng hóa cao…
Như vậy, liên minh công-nông-trí thức là tất yếu khách quan, là quy luật của quá trình cách mạng XHCN.
Liên minh công-nông-trí thức là cơ sở của toàn xã hội, làm cơ sở chính trị-xã hội vững chắc cho chế độ
mới. Bởi vì, đó những lực lượng lao động sản xuất, là những lực lượng chính trị cơ bản và đông đảo nhất để
xây dựng và bảo vệ CNXH. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như cách mạng XHCN không thể
thành công ở những nước nông nghiệp nếu ba lực lượng đó tách rời nhau, không được tổ chức lại, dưới sự

Đối với GCCN, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị,
trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Giải quyết việc làm, giảm tối đa số công nhân thiếu việc làm và thất nghiệp. Thực hiện tốt
chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ
lao động, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ đối với công nhân; chính sách ưu đãi nhà ở đối với công nhân bậc
cao. Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế. Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền lợi
chính đáng, hợp pháp của công nhân và những người lao động, chú trọng công nhân làm việc ở các khu công
nghiệp và đô thị lớn. Chăm lo đào tạo cán bộ và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú.
Đối với giai cấp nông dân, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa công nghệ tiên tiến vào
nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện tốt chính sách về ruộng đất. Tạo điều kiện thuận lợi để giúp nông dân
chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Khuyến khích nông dân hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã,
chủ trang trại để phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống. Tăng hiệu quả sử dụng đất, tiêu thụ nông
sản hàng hoá. Hỗ trợ và khuyến khích nông dân học nghề, tiếp nhận và áp dụng thành tựu khoa học, công
nghệ.
Đối với trí thức, phát huy trí tuệ và năng lực, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài.
Khuyến khích các trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng
đáng những cống hiến của trí thức cho công cuộc phát triển đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của
các hội khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và văn học, nghệ thuật đối với các dự án phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội.
* CNXH khoa học là sự phản ánh bằng lý luận phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và
phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Việc đề ra chiến lược, sách
lược cách mạng; việc thiết lập, phát huy vai trò hiệu lực Nhà nước; việc xây dựng, củng cố khối liên
8
minh công nhân, nông dân và trí thức; việc xây dựng và phát huy mối quan hệ các dân tộc trên phạm
vi quốc gia và quốc
Đối với một Nhà nước XHCN, một nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực của Nhà nước
đều thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong là Đảng Cộng sản, đại diện cho quyền lợi của
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Nó có vai trò, vị trí quan trọng đối với khối liên

động, chất lượng SX, tốc độ tăng trưởng và phát triển của XH trên cả đời sống vật chất lẫn tinh thần. Nhưng
do phương thức lao động đặc thù của trí thức là lao động trí tuệ cá nhân, cho nên trí thức không thể đại biểu
cho một PTSX tiên tiến mà trong đó LLSX mang tính XH hóa cao, mặc dù ngày nay khoa học và công nghệ
ngày càng trở thành LLSX trực tiếp của XH và vai trò của trí thức ngày càng quan trọng.
Trí thức xuất thân trong tất cả các giai tầng trong XH. Họ hoạt động trong tất cả các ngành SX, các lĩnh
vực đời sống XH. Lợi ích của trí thức gắn bó với những cơ sở, những giai cấp mà họ phục vụ. Họ không có
hệ tư tưởng độc lập, chủ yếu vì không có PTSX riêng và địa vị KT-XH độc lập, từ thời chiếm hữu nô lệ cho
đến nay vai trò và tư tưởng của họ đều phụ thuộc vào giai cấp thống trị XH.
Trong các chế độ tư hữu, đại đa số trí thức là những người lao động bị áp bức, bóc lột (tuy hình thức và
mức độ bị bóc lột không hà khắc và nặng nề như đối với giai cấp nông dân và công nhân bị áp bức bóc lột).
Vì vậy, trí thức gắn bó với nhân dân, với dân tộc, luôn đấu tranh cho một XH hòa bình, dân chủ, bình đẳng
và tiến bộ. Khi được sự lãnh đạo của gccn, trí thức có điều kiện thể hiện là một lực lượng cách mạng quan
trọng, với nhiều đóng góp to lớn. nhưng trí thức không thể tự giải phóng mình khỏi chế độ tư hữu, áp bức,
bóc lột; càng không thể trở thành lực lượng độc lập để lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và
cách mạng XHCN.
Riêng đối với giai cấp công nhân, xét về nguồn gốc ra đời, là con đẻ của nền đại công nghiệp sinh ra và
phát triển theo đà phát triển của kỹ thuật và công nghệ và chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi SX đại CN
đã thay thế về cơ bản nền SX thủ công.
Dưới chế độ TBCN, giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động làm thuê cho nhà tư bản, là
giai cấp hoàn toàn không có TLSX, phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống. Vì vậy, trong SX họ
là giai cấp bị phụ thuộc và trong phân phối là giai cấp bị bóc lột giá trị thặng dư, do đó giai cấp công nhân
đối lập trực tiếp về lợi ích với gc tư sản.
Chủ nghĩa Mác-Lênin xác định giai cấp công nhân chính là giai cấp có sứ mệnh lịch sử hết sức quan
trọng là xóa bỏ chế độ bóc lột TBCN, thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ XH TBCN lên XH XHCN và
CSCN.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã luận chứng một cách khoa học sâu sắc và đầy thuyết phục: Địa vị
kinh tế và xã hội của giai cấp công nhân đã quy định vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp, đó là người làm
cuộc cách mạng XH đánh đổ CNTB, xóa bỏ hình thái XH dựa trên nền tảng chế độ tư hữu và xây dựng XH
mới lấy chế độ công hữu về TLSX làm nền tảng, không có người bóc lột người.
10

Do vậy, họ có mục tiêu đấu tranh chung là xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của CNTB, xây dựng chế độ mới
XHCN, XH không còn tình trạng áp bức, bóc lột. Tuy nhiên, gc tư sản để duy trì sự thống trị của mình đã có
11
sự liên minh trên phạm vi quốc tế, hình thành nên CNĐQ, để chống lại cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân và các dân tộc bị áp bức. Vì thế, muốn hoàn thành sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân các nước trên
toàn thế giới phải cùng đoàn kết lại, cùng phối hợp đấu tranh trên phạm vi toàn cầu, chính vì vậy giai cấp
công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế nhất.
Lý luận CN Mác-Lênin đã khẳng định: giai cấp công nhân muốn tiến hành đấu tranh cách mạng một
cách đơn độc chống gc tư bản thì sẽ thất bại; nhưng nếu giai cấp công nhân lôi kéo, liên minh được với đại
đa số quần chúng lao động, chủ yếu là giai cấp nông dân và giữ vững được vai trò lãnh đạo cách mạng thì
cách mạng sẽ hoàn toàn thắng lợi.
CN Mác-Lênin bàn về tính tất yếu của liên minh công – nông và các tầng lớp lao động khác, chẳng
những chỉ trong giai đoạn cách mạng giành chính quyền mà còn đặc biệt lưu ý trong giai đoạn xây dựng
CNXH – “trong thời đại chuyên chính vô sản”. Xét về nguyên tắc tập hợp lực lượng cách mạng của chuyên
chính vô sản thì liên minh này đã tập hợp được LLSX và lực lượng cách mạng đông đảo nhất, trong đó gccn
là giai cấp tiên phong lãnh đạo thông qua chính đảng của mình là ĐCS. Xét về lợi ích cơ bản thì CM XHCN
vì lợi ích của toàn thể nhân dân lao động. Đó là tính tất yếu của liên minh về mặt chính trị - XH.
Trong quá trình xây dựng CNXH, tức là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, thì cùng với tính tất
yếu CT-XH, tính tất yếu của liên minh về mặt KT lại nổi lên với tư cách là nhân tố quyết định nhất cho sự
thắng lợi của CNXH. Đối với liên minh công – nông – trí ở một nước nông nghiệp đi lên CNXH, tính tất
yếu KT nổi lên mấy điểm cơ bản sau:
+ Tất yếu phải gắn chặt nông nghiệp với công nghiệp, với dịch vụ, khoa học và công nghệ trong một cơ
cấu KT quốc dân thống nhất.
+ Từ một nước nông nghiệp đi lên, thì tất yếu trước tiên phải đặc biệt chú trọng nông nghiệp, để cho
nông nghiệp thực sự trở thành cơ sở để tiến hành CNH, HĐH đất nước; từng bước hình thành nền CN hiện
đại có khả năng cải tạo toàn bộ nền KT quốc dân.
+ Nông nghiệp, CN và nhiều lĩnh vực KT đời sống, phải gắn liền với sự phát triển và ứng dụng khoa học
công nghệ ngày càng hiện đại thì mới có thể xây dựng thành công CNXH, CNCS. Lênin cũng đã rất coi
trọng vai trò tất yếu của khoa học công nghệ khi
bước vào xây dựng CNXH, Người cho rằng: Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô

công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo.
Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức chẳng những là yêu cầu khách
quan về chính trị, làm nền tảng vững chắc cho nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng CNXH, mà còn
là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển KT, VH, XH của đất nước. Liên minh thể hiện tính quy luật
chung của cách mạng XHCN ở những nước có nông dân chiếm đại bộ phận dân cư và thường có nền KT
13
chậm phát triển.
Cốt lõi của liên minh về KT là mối quan hệ chặt chẽ giữa CN và nông nghiệp. Từ lâu, Chủ tịch HCM đã
khẳng định: “CN và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi
đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích”.
Đại hội VII của Đảng ta cũng khẳng định: “CNH đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển
một nền nông nghiệp toàn diện … nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật của CNXH, không
ngừng nâng cao năng suất lao động XH và cải thiện đời sống nhân dân”.
Nông nghiệp không thể có năng suất cao, hàng hóa nông sản nhiều và chất lượng tốt nếu không có sự tác
động trực tiếp của CN.
Cách mạng không thể phát triển vững chắc và ngày càng hiện đại. Không thể tiến hành CNH đất nước,
nếu không có nền nông nghiệp phát triển toàn diện, có sản lượng hàng hóa cao…
Đặc biệt trong nội dung kinh tế của liên minh công – nông, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà
nước và nông dân. Trong quan hệ đó, Nhà nước vừa là một chủ thể lợi ích đại diện XH, có quan hệ dân chủ,
bình đẳng cùng có lợi với nông dân, vừa là người có vai trò trách nhiệm và khả năng giúp đỡ, định hướng và
điều tiết hợp lý các quan hệ lợi ích, các hoạt động, thông qua luật pháp, chính sách và những cơ sở kinh tế
quốc doanh.
Phát huy vai trò của khối liên minh công – nông – trí ở nước ta hiện nay, đó là giải quyết tốt những
vấn đề XH:
thứ nhất, nước ta vừa trải qua chiến tranh lâu dài và ác liệt, trong đó nông dân, nông thôn
có đóng góp trực tiếp lớn về người và của cho đất nước, cũng như làm nhiệm vụ quốc tế. Vì
vậy Đảng và Nhà nước phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, đặc biệt là
các gia đình thuộc diện chính sách.
Thứ hai, phải giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn nhất là thanh niên học
sinh, bộ đội hoàn thành nghĩa vụ …

TB và xây dựng thành công xã hội mới, XH XHCN, tiến lên CNCS thì giai cấp công nhân phải coi việc xây
15
dựng liên minh công – nông - trí thức là vấn đề có tính chiến lược; nhất là trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH
và đặc biệt hơn đối với các nước tiền tư bản, bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH.
Qua phân tích cơ cấu xã hội TBCN và kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân, từ những
tổn thất, thất bại trong cuộc đấu tranh đó, các nhà kinh điển đã chỉ ra rằng, vì đã không tổ chức liên minh với
“người bạn tự nhiên” của mình đó là nông dân Lê - nin đã vận dụng và phát triển lý luận về liên minh công
nông và các tằng lớp lao động khác của Mác trong giai đoạn CNTB phát triển cao - giai đoạn ĐQCN, đã tổ
chức liên minh và nhờ đó giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Mười vĩ đại.
Trong hoàn cảnh lịch sử mới, giai cấp công nhân đã xoá bỏ được chế độ xã hội cũ, bước đầu xây dựng xã hội
mới, Lê nin lãnh đạo Đảng cộng sản tiếp tục mở rộng liên minh, không chỉ chủ yếu công - nông trước đây
mà các tầng lớp lao động, đặc biệt nhấn mạnh hơn vai trò của tầng lớp trí thức.
Trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập
và lãnh đạo, đã vận dụng một cách sáng tạo nguyên lý đó, từng bước xây dựng được khối liên minh công -
nông - trí thức ngày càng vững chắc và góp phần to lớn vào thắng lợi trong trong suốt quá trình cách mạng
Việt Nam từ khi có Đảng. Từ Đại hội lần thứ II năm 1951,
Đảng ta đã xác định rõ vị trí, vai trò của “liên minh công nhân với nông dân và lao động trí thức”.
Tính tất yếu khách quan về sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH, không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của các nhà kinh điển hay của
các ĐCS mà nó đặt trên cơ sở chín muồi của những yếu tố, điều kiện khách quan.
Khi phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp trong CNTB, C.Mác chỉ ra, ngoài giai cấp công nhân là giai cấp đang
phát triển mạnh mẽ cùng với nền công nghiệp hiện đại thì còn các giai cấp và tầng lớp lao động xã hội khác
thống nhất với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và cùng đối lập với lợi ích cơ bản với giai cấp tư sản.
Từ những cuộc đấu tranh mang tính đối đầu đầu tiên của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản bị thất bại,
theo Mác là do công nhân chiến đấu đơn độc, chưa liên hệ được với nông dân nên trở thành “bài ca ai điếu”.
Trong Cách mạng tháng Mười và sau khi giai cấp công nhân đập tan chính quyền của giai cấp thống trị bóc
lột, Lênin khẳng định “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô
sản, đội tiền phong của những người lao động với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu
tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức)”
Công cuộc xây dựng xã hội mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH là công việc hoàn toàn mới, đầy khó

độ. Giai cấp nông dân đã được giai cấp công nhân giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, nhu cầu tìm đến
với giai cấp công nhân cũng là nhu cầu tự thân của họ, nên là người bạn tự nhiên, gần gũi nhất của giai cấp
công nhân. Đây chính là mối quan hệ đồng hành, gắn bó khách quan tạo ra sự cố kết chặt chẽ công – nông.
Tầng lớp trí thức, ta thường gọi là đội ngũ trí thức, là một tập đoàn những người lao động xã hội đặc biệt
bằng trí óc, phương thức lao động chủ yếu là lao động trí tuệ cá nhân, tạo ra những sản phẩm khoa học, trí
tuệ, tinh thần. Nói chung họ là những người có
trình độ học vấn và chuyên môn cao, am hiểu sâu rộng lĩnh vực chuyên môn của mình. Họ không phải là giai
cấp mặc dù số lượng ngày càng đông, mà chỉ là một tầng lớp vì họ không trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất, họ
17
chỉ sở hữu trí tuệ, lại xuất thân từ nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội, không có hệ tư tưởng độc lập. Dưới
các chế độ thống trị trước đây, trí thức bao giờ cũng bị các giai cấp thống trị nắm lấy, làm công cụ trong tay
mình. Họ cũng là người bị bóc lột về cơ bản, và cũng luôn có nguyện vọng được giải phóng. Cũng như giai
cấp nông dân, họ chưa bao giờ tự làm nổi cuộc cách mạng giải phóng mình thành công. Trong thời kỳ quá độ
lên CNXH, trí thức cũng đã được giải phống, càng có điều kiện để phát huy vai trò của mình. Ở mọi quốc
gia, trí thức là bộ phận tiêu biểu cho trí tuệ, văn hoá của đất nước. Họ có vai trò nghiên cứu khoa học, phát
minh sang chế, vận dụng, ứng dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến phù hợp để
xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Họ có nhiều ý kiến đóng góp vào việc hoạch định đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước
để phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước. Trí thức nói chung rất nhạy cảm về mặt chính trị xã hội, nên khi đã thấy được vị trí vai
trò tiên phong, lãnh đạo của giai cấp công nhân thì họ sẵn sàng tự giác đứng về phía công nhân và dân tộc để
thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội chung, trong đó có bản thân mình.
Như vậy, cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đều là những lực lượng lao động
sản xuất, lực lượng chính trị - xã hội với những đặc điểm, vai trò xác định. Họ là những giai cấp, tầng lớp
đông đảo nhât trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đặc biệt đối với các nước tiền tư bản, nông nghiệp lạc hậu
quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH đây là lực lượng cách mạng chủ yếu. Với tư cách là giai cấp lãnh
đạo, giai cấp công nhân mà đứng đầu là Đảng cộng sản phải nắm bắt được những yếu tố khách quan từ các
giai cấp tầng lớp, để tổ chức thành liên minh vững chắc, khi đó không chỉ giành được sự thắng lợi mà cũng
“không có thế lực nào phá vỡ nổi”
Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức, không chi trong giai đoạn

bảy( Khóa IX), trung ương bảy (Khóa X).
Câu 8: hãy nêu cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách dân tộc của đảng ta và làm rõ nội dung chính
sách dân tộc của Đảng ta hiện nay
1. Nội dung Cương lĩnh dân tộc của Lênin
Trước tiên, dân tộc là một cộng đồng người ổn định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, sống
trên cùng một lãnh thổ nhất định, có chung một mối quan hệ về kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý. Đặc
trưng chung cơ bản và quan trọng nhất của một dân tộc là có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế - đây
là cơ sở nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc.
Trên thế giới, sự hình thành của các cộng đồng dân tộc diễn ra không đồng đều. Ở Châu Âu, dân tộc ra
đời gắn liền với sự ra đời và phát triển của CNTB; còn ở châu Á, trước khi CNTB thâm nhập, do trong quá
trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm và thiên nhiên để sinh tồn, các cộng đồng người kết hợp lại với nhau
hình thành một quốc gia độc lập, vì thế dân tộc được ra đời sớm hơn khi CNTB hình thành.
Từ khi dân tộc ra đời, vấn đề dân tộc luôn luôn được đặt ra và thu hút sự chú ý của mọi giai cấp và tầng
lớp xã hội quan tâm. Nội dung của vấn đề dân tộc, trước tiên là quan hệ giữa các tộc người trong một xã hội
nằm trong khuôn khổ một quốc gia dân tộc về các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ… và những
vấn đề này thường kết hợp với những lợi ích giai cấp, nên các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu
sắc. Ngày nay, tình hình dân tộc trên thế giới diễn biến rất phức tạp, đa dạng và gay gắt, giảii quyết vấn đề
19
này ở từng lúc, từng nơi có khi phải bằng vũ trang quân sự. Giải quyết vấn đề dân tộc là một trong những vấn
đề quyết định đến sự ổn định, phát triển hay khủng hoảng, tan rã của một quốc gia dân tộc, như ở Tiệp Khắc
cũ, Liên Xô cũ, Nam Tư cũ, Inđônêsia hay vấn đề ở Đông Timor Vấn đề dân tộc còn đề cập đến quan hệ
giữa các quốc gia dân tộc và sự phát triển của thế giới nói chung với tư cách là công đồng quốc tế của các
dân tộc.
Vấn đề dân tộc luôn gắn với tính giai cấp và mỗi giai cấp đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp mình
trong quan niệm và tham gia phong trào dân tộc. Đối với các nước XHCN thì bao giờ quan hệ dân tộc và
quan hệ giai cấp cũng gắn bó với nhau, giải quyết vấn đề dân tộc chính là giải quyết vấn đề giai cấp và ngược
lại. Còn đối với các nước TBCN thì giai cấp thống trị luôn lợi dụng vấn đề dân tộc để phục vụ cho lợi ích của
giai cấp thống trị, vì thế quan hệ dân tộc và quan hệ giai cấp tách rời nhau, lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp
tách rời nhau.
Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc trong điều kiện của CNTB, Lênin đã phát hiện ra hai

trị, quyền thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc chứ không phải xuất phát từ mưu
đồ lợi ích của một nhóm người nào đó. Và quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình
đẳng cùng có lợi để có đủ sức mạnh chống nguy cơ
xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc. Khi xem xét quyền tự quyết của dân
tộc cần phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn, lợi dụng
chiêu bài dân tộc tự quyết để can thiệp vũ trang và áp bức các dân tộc khác.

- Ba là liên hiệp công nhân giữa các dân tộc: đó là sự đoàn kết của giai cấp công nhân các dân tộc trên
toàn thế giới để đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân. Đó là tư tưởng cơ bản trong Cương lĩnh, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong
trào công nhân. Điều đó xuất phát từ bản chất quốc tế, tinh thần quốc tế vô sản của giai cấp công nhân giải
phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc khác cùng cảnh ngộ; do chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản
trong các nước tư bản cấu kết nhau, bắt tay nhau chống lại phong trào công nhân, phong trào cách mạng. Vì
vậy, giai cấp công nhân phải đoàn kết liên hiệp lại với nhau để đấu tranh chống lại chúng. Vì vậy đoàn kết
giai cấp công nhân giữa các quốc gia dân tộc là nhân tố quan trọng để giải quyết các vấn đề dân tộc .
Cả ba nội dung trên đều quan trọng, khi vận dụng cần sáng tạo không được xem nhẹ vấn đề nào. Thực
tiễn cách mạng trên thế giới trong thời gian qua đã chứng minh được tính đúng đắn, khoa học, cách mạng
của Cương lĩnh. Những nơi nào, thời điểm nào quốc gia nào vận dụng đúng đem lại thành quả hết sức to lớn,
ngược lại khi vận dụng sai hoặc bóp méo lý luận dẫn đến thất bại, trì trệ thậm chí bị tan rã, sụp đổ ….
Nhìn chung, Cương lĩnh dân tộc của Lênin đã có những tác dụng tích cực cho các nước
trong tiến trình cách mạng XHCN. Đó là cơ sở cho đoàn kết công nhân quốc tế và phong trào
giải phóng dân tộc; đoàn kết giai cấp công nhân gắn với phong trào giải phóng dân tộc giúp
cho các nước bị thực dân, đế quốc xâm lược có lối thoát trên cơ sở đó tạo điều kiện cho cách
21
mạng vô sản ở các nước sớm nổ ra. Đồng thời, cương lĩnh còn giúp cho các nước khi giai cấp
công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới thực hiện chính sách dân tộc phù hợp với cương lĩnh mà Lênin đã nêu ra.

Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay.
Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là vận dụng Cương lĩnh dân tộc của Lênin và tư

lưu hàng hoá, ổn định và từng bước cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc ít người. Cụ thể là các chương
trình 135, chương trình Xóa đói giảm nghèo; các chương trình điện, đường, trường, trạm để phát triển giao
thông giữa các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa thuận lợi hơn, đưa điện lưới quốc gia về tận các vùng đặc
biệt khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho con em và đồng bào dân tộc được khám chữa bệnh và đến
trường… Chính phủ đặt sự phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số trong quan hệ hữu cơ với các vùng trong
cả nước và trong quan hệ phân công lao động quốc tế là nhu cầu đòi hỏi khách quan.

Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN phù hợp với điều kiện, trình độ sản xuất
nhằm khai thác tiểm năng thế mạnh của từng vùng dân tộc, đặc biệt các vùng dân tộc ít người. Đổi mới chính
sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở, phát triển và xây dựng nông thôn mới; thực hiện vững chắc công
tác định canh, định cư đối với đồng bào dân tộc miền núi; sắp xếp bố trí lao động dân cư trên quy mô cả
nước.
Chú trọng nâng cao trình độ dân trí, phát triển văn hóa, tư tưởng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân
tộc. Tôn trọng phong tục, tập quán, tín ngưỡng, truyền thống và bản sắc văn hóa các dân tộc.
Thực hiện chính sách đại đòan kết dân tộc, xây dựng cơ cấu xã hội giai cấp mới, cùng với quá trình phát
triển KT-XH miền núi, làm tăng thên chất lượng mới trong quan hệ giữa các dân tộc. Thực hiện dân chủ hoá
xã hội giữa các vùng dân tộc. Tránh mọi biểu hiện chủ quan duy ý chí, áp đặt một cách quan liêu mệnh lệnh
làm mất khả năng sáng tạo của quần chúng các dân tộc.
Bên cạnh, Đảng và Nhà nước còn có chính sách đối ngoại về vấn đề dân tộc. Với nội dung tư tưởng là:
Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên nhiều mặt,
nhiều lĩnh vực, cả song phương, đa phương, trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ
quyền và cùng có lợi.
Trong Văn kiện Đại hội IV của Đảng có nêu: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn
có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình
23
đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, phát
triển SX hàng hóa. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang
dân trí, giữ gìn làm giàu và phát huy bản sắc văn hóavà thống nhất tốt đẹp của các dân tộc,
thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status