Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
MỤC LỤC
Mục lục Trang 1
A. Mở đầu
I/ Lí do chọn đề tài. Trang 2
II/ Đối tượng nghiên cứu Trang 2
III/ Phạm vi nghiên cứu Trang 2
IV/ Phương pháp nghiên cứu Trang 3
B. Nội dung Trang 4
I/ Cơ sở lý luận Trang 4
II/ Cơ sở thực tiễn Trang 4
1. Thực trạng đối với nghiên cứu khoa học Trang 5
III/ Nội dung cấn đề Trang 6
1. Vấn đề đặt ra Trang 6
2. Giải pháp Trang 7
C. Kết luận Trang 18
1. Bài học kinh nghiệm Trang 18
2.Hướng phổ biến áp dụng Trang 18
Tài liệu tham khảo Trang 19
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 1
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài :
Mục đích giáo dục của nhà nước ta là đào tạo thế hệ trẻ có những phẩm chất và năng
lực, để trở thành những con người phát triển toàn diện. Quá trình giáo dục giữ vai trò
quyết định : Truyền thụ cho học sinh những kiến thức vững chắc có khả năng vận
dụng vào cuộc sống tạo niềm tin, tính cách, thói quen, hứng thú, tình cảm…của học
sinh giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách.
trường THCS Thị trấn Tân Châu.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp đọc, nghiên cứu tài tài liệu: Đọc các tài liệu tham khảo để thu thập
các thông tin liên quan đến phương pháp giải toán trong bộ môn Hóa học và cụ thể
là phương pháp rèn kĩ năng giải bài toán tính theo phương trình hóa học.
- Phương pháp đọc tài liệu:
+ Sách giáo khoa hóa học lớp 8 của Lê Xuân Trọng xuất bản 2005
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 2
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
+ Sách bài tập hóa học lớp 8 của Lê Xuân Trọng xuất bản 2005
+ Sách giáo viên hóa học lớp 8 của Lê Xuân Trọng xuất bản 2005
+ Sách tham khảo:
* Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Hóa học năm
2004 nhà xuất bản giáo dục .
* Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường THCS năm
2008 nhà xuất bản giáo dục.
* Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng
* Phân loại và phương pháp giải các chuyên đề hóa học 8 – Đỗ Xuân Hưng.
2. Phương pháp điều tra :
2.1 Phương pháp dự giờ: Dự giờ học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với đồng
nghiệp ( dự giờ 1 tiết / tháng đúng chuyên môn, ngoài ra còn dự giờ một số giáo viên
dạy bộ môn khác trong tổ) tìm ra nhiều giải pháp rèn kĩ năng giải toán tính theo
phương trình hóa học.
2.2 Phương pháp đàm thoại:
- Thường xuyên trò chuyện với học sinh: Đặt câu hỏi có liên quan đến đề tài: các em
có thích làm bài toán tính theo phương trình hóa học không? hoặc khi giải bài toán
tính theo phương trình hóa học thì chất lượng tiếp thu cách giải như thế nào, công
thức tính có dễ thuộc không.
” cho học sinh là vấn đề cần quan tâm để phát huy tính tích cực của học
sinh.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Thực trạng đối với nghiên cứu sư phạm.
Đầu năm tôi được phân công giảng dạy môn hóa học lớp 8A
1
, kết quả khảo sát chất
lượng đầu năm như sau:
Lớp 8A
1
Giỏi Khá Trung bình Yếu
TSHS: 43 7/43- 16,3% 10/43- 23,3% 11/43- 25,5% 15/43- 34,9%
Sở dĩ có kết quả như trên là do những nguyên nhân sau:
1. Tình hình học sinh:
* Lớp có 43 học sinh trong đó:
- Có 07 học sinh nắm vững kiến thức, vận dụng kiến thức vào giải bài toán khá tốt do:
+ Tích cực ôn lại kiến thức.
+ Ý thức học tập cao, luôn chú ý nghe giảng.
+ Thường xuyên luyện tập, thành thạo các bước giải bài tập hóa học.
+ Viết đúng phương trình hóa học.
- Có 10 học sinh nắm vững kiến thức, chưa vận dụng kiến thức vào giải bài toán tốt
do:
+ Chưa tích cực ôn lại kiến thức.
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 4
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
+ Ý thức học tập chưa cao, chưa chú ý nghe giảng.
+ Thường xuyên chưa luyện tập, thành thạo các bước giải bài toán hóa học
+ Viết phương trình hóa học chưa thành thạo
khi kết quả cuối cùng sai với đáp án.
2. Tình hình giáo viên:
Do thời lượng tiết dạy bài tập có giới hạn nên không có nhiều thời gian để HS khá
giỏi phát huy khả năng sáng tạo bằng cách tìm ra nhiều phương pháp giải khác cho
bài toán; giáo viên không thể bao quát hết các học sinh yếu.
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 5
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
Dự giờ đồng nghiệp để tìm ra nhiều phương pháp giảng dạy mới nhưng còn nhiều hạn
chế do giáo viên cùng môn ít.
3. Nhận thức học tập của học sinh:
- Học sinh khá, giỏi: Luôn thắc mắc và đưa ra nhiều phương án để giải quyết bài tập,
trong quá trình giải bài các em luôn tích cực tìm ra cách giải mới.
- Học sinh trung bình: Một số em chú ý nghe giáo viên hướng dẫn các bước giải, tuy
nhiên các em chưa vận dụng được linh hoạt còn rập khuôn theo mẫu.
- Học sinh yếu, kém: Ý thức học tập chưa cao, thường xuyên không học bài, không
làm bài, không vận dụng được kiến thức đã học vào bài toán. Một số học sinh mê
chơi
cụ thể: Một số em học sinh khá bị xuống trung bình, học sinh trung bình xuống yếu,
học sinh yếu kém ngày càng học yếu hơn.
4. Sự quan tâm của phụ huynh học sinh:
- Đa số phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc học tập của con em, thường
xuyên trao đổi với giáo viên bộ môn để tìm biện pháp giúp việc học tập của con em
mình tốt hơn.
- Tuy nhiên môn hóa học là bộ môn học mới làm quen ở lớp 8,9 các dạng bài tập đa
dạng phụ huynh chưa nắm được chương trình của bộ môn khó khăn trong việc hướng
dẫn con em mình học tập.
III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ:
1. Vấn đề đặt ra:
m= n . M Trong đó n số mol của chất .
m khối lượng của chất .
M khối lượng mol của chất
Tương tự dựa vào công thức trên ta có thể tìm khối lượng mol( M) của chất như
thế nào?
Học sinh dựa vào công thức nếu biết lượng chất ( n) và khối lượng(m)
Học sinh sẽ rút ra công thức tính M theo m và n
M =
m
n
(g)
VD: Tính khối lượng mol của hợp chất A, biết rằng 0,125 mol chất này có khối
lượng là 12,25
Khối lượng mol của hợp chất A là:
M =
m
n
=
12,25
0,125
= 98 (g)
Lưu ý: Giáo viên cần lưu ý cách tính khối lượng mol cho học sinh từ công thức
ngoài ra tính được khối lượng mol ta dựa vào nguyên tử hay phân tử khối của chất
đó.
VD: Khối lượng mol của phân tử oxi -> M
2
O
= 32( g)
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 7
2
học sinh phải vận dụng công thức tính khối
lương.
Khối lương CO
2
là:
m = n. M = 0,25 . 44= 11( g)
Ví dụ 2: .0,5 mol khí O
2
ở đktc có thể tích là bao nhiêu?
Vậy để tính được thể tích khí oxi ở đktc học sinh viết được công thức
V= n.22,4
Thể tích khí oxi ở đktc là:
V = 0,5 . 22,4= 11,2 ( lit)
Ví dụ 3: Tính khối lượng của 4,48 lít SO
2
( đktc)
Để giải bài tập này học sinh không những học thuộc 2 công thức cơ bản trên
mà đòi hỏi học sinh phải vận chuyển đổi công thức sao cho phù hợp với yêu cầu
của đề bài .
Muốn tính khối lượng của 4,48 lít SO
2
( đktc) ta áp dụng các công thức nào?
Từ nhiều câu trả lời của học sinh giáo viên hướng dẫn học sinh đối với bài tập
trên ta nên tính số mol theo đktc, khi có số mol ta dựa vào chuyển đổi công thức tìm
khối lượng(m)
Số mol 4,48 lít SO
2
( đktc) là:
n=
Giáo viên hướng dẫn học sinh lập công thức một cách dễ nhớ đối học sinh yếu
I II
NaO
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 9
m
n=
M
V
n=
22,4
V
n=
24
m
M=
n
V = n. 22,4
V = n. 24
m=n. M
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
Ta dùng qui tắc chéo hóa trị, chỉ số của Natri là hóa trị của oxi là 2 và chỉ số
của oxi là hóa trị Natri là 1 mà 1 trong hóa học không ghi.
Ta viết được công thức đúng Na
2
O
Đối với nhóm nguyên tử : OH, SO
4
(SO
4
)
3
-Lập phương trình hóa học : chọn hệ số sao cho số nguyên tử của mỗi
nguyên tố ở chất tham gia và tạo thành bằng nhau.
Phương pháp cân bằng chẵn lẻ: Xét các chất trước và sau phản ứng nếu số
nguyên tử của cùng một nguyên tố trong một số công thức hóa học là số chẵn
còn ở công thức khác là số lẻ thì đặt hệ số 2 trước công thức có số nguyên tử
là lẻ, sau đó tìm hệ số còn lại.
VD : Cân bằng phương trình hóa học sau:
FeS
2
+ O
2
0t
→
Fe
2
O
3
+ SO
2
Ta thấy số nguyên tử oxi trong O
2
và SO
2
là chẵn còn trong Fe
2
2
O
3
+ SO
2
4FeS
2
+ O
2
0t
→
2Fe
2
O
3
+ 8 SO
2
Cuối cùng ta cân bằng oxi ta thấy ở vế phải có tổng cộng 22 oxi và vế trái
phải thêm hệ số 11 vào trước O
2
ta được phương trình hóa học.
4FeS
2
+ 11 O
2
0t
→
2Fe
+ NaOH
Trong công thức hóa học trên nhóm nguyên tử: ( OH) và số nguyên tử Na ở
bên trái đều là 2 và ở bên phải đều bằng 1. Còn số nguyên tử Ca và nhóm
(CO
3
) ở hai bên đều đã bằng nhau. Ta chỉ cần đặt hệ số 2 trước NaOH
Ca(OH)
2
+ Na
2
CO
3
-> CaCO
3
+ 2 NaOH
3.Nhận dạng được các loại bài tập:
Để học sinh nhận dạng được đúng loại bài toán bắt buộc học sinh phải tìm hiểu
đề thật kĩ, đề bài cho dữ kiện gì từ đó học sinh mới vận dụng được. Để giúp học
sinh dễ nhớ, dễ nhận dạng tôi chia làm bài toán tính theo phương trình hóa học
được chia làm 2 dạng chính.
Dạng 1: Bài toán chỉ cho 1 dữ kiện ( chất tham gia hoặc sản phẩm)=> Tìm số
mol của các chất theo yêu cầu của đề bài theo dữ kiện đã cho.
Dạng 2: Bài toán cho 2 dữ kiện là chất tham gia => Thì lập tỉ lệ giữa số mol và
hệ số phản ứng của chất đó tìm số mol của các chất theo chiều mũi tên.
4. Nắm được các phương pháp của bước giải.
Từ những dạng chính học sinh phải nắm được từng phương pháp của các dạng
bài tập.
Dạng 1: Bài toán chỉ cho 1 dữ kiện => Tìm số mol của các chất theo yêu cầu
của đề bài theo dữ kiện đã cho.
Phương pháp giải:
thu được sau khi kết thúc phản ứng biết thể tích chất
khí đo đktc.
* Xác định hướng giải:
Bước1: Để tìm số mol của nhôm học sinh vận dụng công thức nào.
Công thức tìm số mol theo khối lượng n=
m
M
Số mol của Al là:
n
Al
=
Al
Al
m 5,4
M 27
=
= 0,2 (mol)
Bước 2: Viết đúng phương trình phản ứng.
PTPƯ: 2Al + 6HCl → 2AlCl
3
+ 3H
2
Bước 3: Dựa vào phương trình phản ứng từ số mol của nhôm ( chất tham
gia) tìm số mol chất sản phẩm là số mol của H
2
, số mol của AlCl
3
sinh ra
PTPƯ: 2Al + 6HCl → 2AlCl
2
sinh ra ở đktc là:
VH
2
= n H
2
. 22,4 = 0,3 .22,4 = 6,72 (l)
Dạng bài toán cho một khối lượng ( hoặc thể tích chất khí) của chất sản phẩm
tìm khối lượng hoặc thể tích của chất tham gia phản ứng.
cho số mol của 1 chất sản phẩm
Bài 1: Cho Fe tác dụng với H
2
SO
4
sau phản ứng thu được muối và thấy thoát
ra 4,48 (l) khí H
2
:
a/ Viết phương trình phản ứng
b/ Tính khối lượng H
2
SO
4
tham gia phản ứng.
* Xác định hướng giải:
Bước 1: Tìm số mol chất sản phẩm ở đktc ta áp dụng công thức nào
n=
V
22,4
TLPƯ 1(mol) 1(mol)
TĐB: 0,2(mol) ←0,2(mol)
Từ các dữ kiện có liên quan tìm được số mol của các chất.
Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đề bài
thì tính theo yêu cầu đề bài.
b/ Khối lượng của H
2
SO
4
tham gia phản ứnglà:
2 4 2 4 2 4
H SO H SO H SO
m =n .M
= 0,2 . 98 = 19,6 (g)
Lưu ý: Sau khi hướng dẫn cho HS 2 bài tập trên yêu cầu học sinh nhận xét
các bước giải như thế nào. Qua 2 bài tập trên học sinh chỉ nắm chung một phương
pháp giải toán tính theo phương trình hóa học và vận dụng 2 công thức chủ yếu là
công thức số mol theo khối lượng và số mol theo thể tích ở đktc .
Dạng 2: Bài toán cho 2 dữ kiện của chất tham gia => Thì lập tỉ lệ giữa số mol
và hệ số phản ứng của chất đó tìm số mol của các chất theo chiều mũi tên.
Phương pháp giải:
Bước 1: Tìm số mol của 2 chất tham gia.
Bước 2: Viết đúng phương trình hóa học có thể xảy ra.
Bước 3: Dựa vào hệ số phương trình hóa học của 2 chất tham gia để thiết lập
tỉ lệ so sánh .Từ đó, xác định được chất nào còn dư, chất nào phản ứng hết.
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 13
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
Lập tỉ số và so sánh:
O
O
m
8
M 32
=
= 0,25 (mol)
Bước 2: Viết phương trình phản ứng.
PTPƯ: Mg + O
2
→ MgO
Bước 3: Dựa vào phương trình phản ứng và tỉ lệ so sánh số mol các chất tham
gia và từ đó tìm số mol dư, số mol muối theo yêu cầu đề bài.
PTPƯ: 2Mg + O
2
→ 2MgO
TLPƯ: 2(mol) 1(mol ) 1(mol)
TĐB: 0,1(mol) 0,25(mol)
Tỉ số và so sánh: n
Mg
: n
2
o0,1 0,25
2 1
=
= 0,05< 0,25
Vì số mol khí oxi lớn hơn số mol của Mg nên số mol MgO được tính theo số
và H
2
O.
a/ Chất nào đã lấy dư và dư bao nhiêu gam.
b/ Hãy xác định khối lượng muối thu được sau phản ứng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh giải
Bước1: Vận dụng 2 công thức cơ bản tìm số mol
Số mol của CO
2
(đktc) là:
n =
1,568V
22,4 22,4
=
= 0,07 (mol)
Số mol của NaOH là:
n
NaOH
=
NaOH
NaOH
m
6,4
M 40
=
= 0,16 (mol)
Bước 2: Viết đúng phương trình phản ứng.
PTPƯ: CO
2
+ 2NaOH → Na
2
nên sản phẩm tạo thành được tính theo
số mol CO
2
PTPƯ: CO
2
+ 2NaOH → Na
2
CO
3
+ H
2
O
TLPƯ: 1(mol) 2(mol ) 1(mol) 1(mol)
TĐB: 0,07(mol) 0,16(mol)
TGPƯ 0,07( mol) 0,14(mol) 0,07(mol)
Bước 4: Sau khi tìm được số mol của các chất có liên quan đến yêu cầu đề bài
thì tính theo yêu cầu đề bài.
Khối lượng của NaOH còn dư là:
m
NaOH
= ( 0,16-0,14) . 40= 0,8( g)
Khối lượng của Na
2
CO
3
là:
m= n.M = 0,07 . 106 = 7,42 ( g)
Như vậy thông qua giải bài tập hóa học giúp học sinh có kĩ năng giải bài toán
- Tổ chức đôi bạn cùng tiến: Cho học sinh khá giỏi ngồi gần để giúp đỡ học sinh
yếu, kém.
2. Áp dụng vào giảng dạy:
Qua sử dụng phương pháp “Rèn kĩ năng giải bài tập môn hóa học lớp 9A
1
” giúp học
sinh nắm vững phương pháp giải bài toán tính theo phương trình hóa học
IV. ĐÁNH GIÁ CÁC QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ KẾT QUẢ:
1. Quá trình thực hiện:
Qua quá trình rèn luyện kỹ năng giải bài toán cho học sinh tôi nhận thấy:
- Từng học sinh của lớp đều thực hiện giải bài tập (nghĩa là vận dụng kỹ năng để giải
quyết các dạng bài tập). Giúp học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức, và nắm được
phương giải bài toán tính theo phương trình hóa học.
- Phân loại được đối tượng học sinh trong lớp. Qua đó, giáo viên có thể ghi nhận học
sinh nào còn yếu, học sinh nào khá, giỏi để có phương pháp giảng dạy phù hợp và
hiệu quả hơn.
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 16
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
Ngoài ra tạo cơ hội để học sinh trao đổi và thảo luận nhóm (tìm cách giải các bài
tập phức tạp). Qua đó, hình thành nhân cách cho học sinh về tinh thần hợp tác và sáng
tạo trong học tập.
2. Kết quả:
Qua thực nghiệm giảng dạy đến cuối học kì I 2011-2012 kết quả đạt được như sau:
Lớp 8A
1
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Đầu năm: 7/43- 16,3% 10/43- 23,3% 11/43- 25,5% 15/43- 34,9%
HKI 8/43- 18,6% 11/43- 25,6% 12/43- 27,9% 12/43- 27,9%
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Giữa
HKII
9/43- 20,9% 12/43-27,9% 13/43- 30,3% 9/43- 20,9%
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 17
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
C. KẾT LUẬN
Qua quá trình giảng dạy trên lớp tôi nhận thấy bài toán tính theo phương trình hóa
học có một vị trí quan trọng trong giảng dạy môn hóa học. Bài toán tính theo phương
trình hóa học giúp học sinh khắc sâu các phương giáp giải toán và kĩ năng giải toán.
Trong quá trình giải bài toán tính theo phương trình hóa học học sinh sử dụng các
thao tác tư duy khác nhau như: So sánh, tổng hợp, phân tích, kháí quát hóa,… để giải
quyết vấn đề. Vì vậy học sinh có cơ hội rèn luyện và phát triển và tư duy. Nên có thể
nói bài toán môn hóa học là một phương tiện rất tốt để rèn luyện và phát triển tư duy,
khả năng độc lập trong suy nghĩ và giải quyết vấn đề đặt ra, cũng như rèn tính kiên
trì, cẩn thận của người lao động mới.
Do vậy, để học sinh nắm vững phương pháp giải bài tập bộ môn Hóa học người giáo
viên hướng dẫn kỹ các bước giải bài toán tính theo phương trình hóa học cho học
sinh. Đồng thời thường xuyên cho học sinh luyện tập trong quá trình giảng dạy.
I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Bài tập môn Hóa học rất phong phú và đa dạng và có mức độ khó, dễ khác nhau.
Bởi vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên cần lưu ý:
- Lựa chọn hệ thống bài toán làm sao phát huy tốt vai trò của bài tập trong quá trình
dạy học. Bài tập lựa chọn phải là những bài tập điển hình, có nội dung rõ ràng và có
mục đích cụ thể. Để khi giải được các bài toán tính theo phương trình hóa học này
học sinh có khả năng giải các bài toán có nội dung tương tự khác.
- GV trong quá trình hướng dẫn cần rèn cho học sinh thói quen phân tích tỉ mỉ các nội
dung bài tập tránh cho học sinh giải bài toán theo kiểu áp dụng máy móc, giải theo
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
I. CẤP TRƯỜNG
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 20
Rèn kĩ năng giải toán tính theo phương trình hóa học lớp 8A
1
II. CẤP PHÒNG GD- ĐT
Giáo viên : Huỳnh Thị Thanh Tâm Trang 21