Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐÔ THỊ ĐÔNG
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐÔ THỊ ĐÔNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CĐN, TCN Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
KCN Khu công nghiệp
KT – XH Kinh tế - xã hội
HTX Hợp tác xã
LĐ TB&XH Lao động - Thương binh và xã hội
TW Trung ương
TTDN Trung tâm dạy nghề
UBND Ủy Ban nhân dân
PTNNNT Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐÔ THỊ ĐÔNG
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao đóng vai trò then
chốt. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực luôn được tiếp cận với 3 khía cạnh
chủ yếu bao gồm đào tạo nghề, giáo dục phổ thông và chăm sóc sức khỏe,
trong đó công tác dạy nghề cho lao động luôn được đặc biệt quan tâm nhất là
trong bối cảnh hiện nay khi nhu cầu về lao động có tay nghề, có kỹ năng ngày
càng tăng lên. Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về mặt thời gian: nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo nghề tỉnh
Ninh Bình giai đoạn 2002-2010, trong đó đặc biệt quan tâm đến mấy năm gần
đây (2006-2010) do công tác đào tạo nghề rất phát triển và nhận được sự quan
tâm rất nhiều của tỉnh.
- Về mặt không gian: nghiên cứu hệ thống cơ sở đào tạo nghề của
tỉnh Ninh Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng một số phương pháp
như phương pháp điều tra tổng hợp số liệu, so sánh, lập bảng biểu, tính giá trị
bình quân
- Phương pháp điều tra tổng hợp số liệu: Số liệu trong đề tài đã được tổng
hợp từ nhiều nguồn như qua các báo cáo của UBND, Sở LĐTB&XH tỉnh
Ninh Bình, một số cơ sở dạy nghề và trên các trang web chính thức của tỉnh
trong những năm gần đây (2002-2010).
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
2
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
- Phương pháp so sánh: tác giả đã có sự so sánh về mặt số liệu giữa tỉnh
Ninh Bình với một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng để làm bật lên sự khác biệt
của tỉnh; so sánh số liệu của tỉnh qua các năm để thấy được xu hướng phát
triển của công tác đào tạo nghề của tỉnh.
- Phương pháp tính giá trị bình quân: Giả sử tính tốc độ tăng trưởng bình
quân của dãy y1, y2, y3, y4, , y(n -1), yn
Tốc độ tăng bình quân = [(yn - y1)/y1]^(1/n-1)
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận thì đề tài được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động của VN
trong thời gian qua
trung nghiên cứu đào tạo nghề.
Nghề: Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có
sự khác nhau nhất định. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về nghề được
các quốc gia đưa ra:
- Khái niêm nghề ở Nga được định nghĩa: “Là một loại hoạt động
lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh
tồn”.
- Khái niệm nghề ở Pháp: “Là một loại lao động có thói quen về
kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm phương tiện sống”.
- Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: “Là công việc chuyên
môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật”.
- Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: “Là hoạt động cần thiết
cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở
trình độ nào đó”.
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn
liền với sự phân công lao động xã hội, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn
minh nhân loại. Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ
nhiều góc độ khác nhau. Ở Việt Nam, nghề được định nghĩa theo hai nhóm:
- Nhóm 1: nghề là một khâu của sự phân công lao động hoặc một
dạng hoạt động do con người thực hiện nhằm hình thành những công việc
theo sự phân công lao động
- Nhóm 2: nghề là năng lực làm ra những đồ dùng cần thiết, là một
dạng công việc nào đó mà nhờ đó ta có thu nhập nhằm duy trì và phát triển
cuộc sống cho bản thân và cho gia đình. Nghề là biết cách làm một việc nào
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
5
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
đó theo sự phân công lao động xã hội.
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của khoa học
trình độ của giáo viên dạy nghề, tỷ lệ học viên tốt nghiệp loại khá, giỏi và tìm
được việc làm sau khi ra trường )
- Tăng cường hệ thống đào tạo kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp
với nhiều cấp độ khác nhau, có sự liên thông trong đào tạo.
- Đa dạng hóa các cơ sở dạy nghề.
Tăng cường đào tạo nghề là cần thiết đối với tất cả các quốc gia trên thế
giới nhất là những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, khi mà quá trình
công nghiệp hóa đòi hỏi lực lượng lớn lao động đã qua đào tạo, có trình độ
chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất nghề nghiệp. Đây là một quá trình cần
hướng tới sự phát triển bền vững trong thời gian dài. Trong chiến lược phát
triển quốc gia, cần phải định hướng xây dựng một hệ thống đào tạo nghề phù
hợp, vừa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, vừa tạo sự thuận lợi cho người
học trong việc lựa chọn cơ hội để nâng cao trình độ khi điều kiện cho phép
hoặc khi có nhu cầu.
1.1.1.2. Đặc điểm đào tạo nghề
Mục tiêu của đào tạo nghề là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến
trên cơ sở yêu cầu phát triển KT-XH và được hiểu là chất lượng cần đạt tới
đối với người học sau quá trình đào tạo. Vậy mục tiêu đào tạo nghề là đào tạo
người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp ở các trình độ
khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật, tác phong
công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng
tìm việc hoặc tự tạo việc làm, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và yêu
cầu phát triển KT - XH. Rèn luyện tay nghề là yêu cầu chính trong công tác
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
7
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
đào tạo công nhân kỹ thuật.
• Thời gian: bao gồm đào tạo ngắn hạn (thường dưới 1 năm) và đào tạo
dài hạn (từ 1-3 năm). Trong đó đào tạo ngắn hạn chiếm một tỷ lệ lớn (trên
85% tổng số lao động qua đào tạo nghề), điều đó phù hợp với yêu cầu cơ cấu
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
- Đào tạo lại: đây là quá trình đào tạo nghề áp dụng cho những
người đã có trình độ chuyên môn song vì một lý do nào đó nghề của họ không
còn phù hợp nữa đòi hỏi phải chuyển sang nghề, chuyên môn khác hoặc họ
muốn chuyển sang làm ngành nghề khác. Thời gian đào tạo có thể dài hoặc
ngắn tùy vào yêu cầu và đòi hỏi của nghề mới. Sau khi kết thúc khóa học thì
học viên được cấp chứng chỉ tốt nghiệp.
- Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: đây là hình thức tiếp tục
bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có
thể tiếp tục hành nghề và đảm nhận những công việc phức tạp hơn, cần kiến
thức và kỹ năng cao hơn, thời gian đào tạo thường là các khóa học ngắn hạn
và sau khi kết thúc khóa học thì học viên được cấp chứng chỉ tốt nghiệp.
1.1.2.2. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề
- Đào tạo nghề ngắn hạn: được thực hiện tại các trung tâm dạy
nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và cơ sở giáo dục khác, thời gian thực hiện thường dưới 1 năm. Đào tạo
nghề ngắn hạn dành cho những người có trình độ học vấn và sức khỏe phù
hợp với nghề cần học. Đào tạo nghề ngắn hạn có thể tổ chức theo hình thức tổ
chức học lý thuyết và thực hành theo lớp, kèm cặp tại xưởng, tại nhà, lấy thực
hành là chính. Đào tạo ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động nhanh nhất cho
các doanh nghiệp.
- Đào tạo dài hạn: được thực hiện từ 1-3 năm tại các trường dạy
nghề, các trường THCN, Cao đẳng - Đại học có tham gia dạy nghề theo quy
định của Nhà nước. Đào tạo dài hạn bao gồm đào tạo cả văn hóa và dạy nghề,
và thường có chất lượng cao hơn so với các lớp đào tạo ngắn hạn. Tuy nhiên,
kinh phí đào tạo dài hạn cao hơn so với đào tạo ngắn hạn.
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
10
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
1.1.2.3. Căn cứ vào trình độ lành nghề
nghề nghiệp. Đây là quá trình có tính toàn diện, bao gồm cả mặt giáo dục và
huấn luyện, thường có thời gian tương đối dài, ổn định và được xác định trong
hệ thống giáo dục quốc dân ở mỗi nước nhằm vào mục tiêu toàn diện với nội
dung đầy đủ, thông thường được tiến hành trong nhà trường. Học sinh học hết
chương trình dạy nghề ở trình độ lành nghề, có đủ điều kiện theo quy định thì
được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp đào tạo nghề.
- Cấp trình độ cao: tại cấp này, học viên được trang bị kiến thức và
kỹ năng để thực hiện tất cả các nhiệm vụ và công việc như trình độ lành nghề,
đồng thời được trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng để thực hiện các công
việc còn lại của nghề trong điều kiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hoặc đòi hỏi
tay nghề cao hơn để làm ra các sản phẩm có chất lượng cao, năng suất lao
động cao và có khả năng thích ứng nhanh với công việc mới, trong điều kiện
mới. Thời gian đào tạo thường từ 2,5-3 năm.
Dạy nghề ở trình độ cao đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng
thực hành tất cả nhiệm vụ và công việc của một nghề, có tính dộc lập, sáng
tạo trong công việc và có khả năng ứng dụng thành tựu kỹ thuật công nghệ
vào công việc. Học sinh học hết chương trình dạy nghề ở trình độ cao, có đủ
điều kiện theo quy định thì được dự thi đầu vào và nếu đạt yêu cầu thì được
cấp bằng tốt nghiệp đào tạo nghề ở trình độ cao. Hiệu trưởng trường dạy nghề
cấp bằng tốt nghiệp đào tạo nghề ở trình độ cao, bằng tốt nghiệp đào tạo nghề
và chứng chỉ nghề.
1.1.2.4. Căn cứ vào hình thức đào tạo
- Đào tạo chính quy: đây là hình thức đào tạo tập trung tại các
trung tâm dạy nghề, các trường dạy nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn,
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
12
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
chủ yếu là đào tạo ra công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao.
+ Ưu điểm: học sinh được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức
tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức
+ Nhược điểm: hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở những doanh
nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành có tính
chất giống nhau.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề
Công tác đào tạo nghề có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng công nhân kỹ
thuật đồng bộ về ngành nghề, có phẩm chất chính trị tốt, có tay nghề giỏi, có
sức khỏe. Như vậy trong công tác đào tạo nghề chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố, mà chúng ta có thể gộp thành 2 nhóm chính là cung và cầu:
1.1.3.1. Nhóm nhân tố về phía cầu đào tạo nghề
Cầu đào tạo nghề được hiểu là nhu cầu của người lao động về học nghề
và một phần cũng là nhu cầu của thị trường về lao động công nhân kỹ thuật
(lao động qua đào tạo). Cầu về đào tạo nghề sẽ ảnh hưởng đến quy mô, cơ
cấu, chất lượng đào tạo nghề. Nếu nhu cầu của người lao động lớn sẽ là nhân
tố quan trọng nhằm phát triển công tác đào tạo nghề, giúp đáp ứng nhu cầu về
lao động kỹ thuật cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuy
nhiên, nếu cầu cần được đào tạo lớn mà không đáp ứng đủ sẽ ảnh hưởng đến
chất lượng công tác đào tạo nghề. Nhân tố ảnh hưởng đến cầu về đào tạo nghề
bao gồm:
Nhận thức xã hội về đào tạo nghề: thực tế cho thấy mọi người đều quan
niệm là học để làm thầy chứ không phải để làm thợ. Tâm lý chung của phụ
huynh và học sinh lúc nào cũng muốn được học cao, nhưng không phải ai
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
14
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
cũng có khả năng để học cao. Ai cũng muốn được học lên đại học, cao đẳng
để sau này kiếm được thu nhập cao, đa số học sinh cho rằng học lên cao là
con đường tiến thân duy nhất cho họ, nên dù có trượt năm đầu thì vẫn tiếp tục
ôn thi, thi đi thi lại, có người thi đến cả 3 – 4 lần mà vẫn chưa đỗ; đây là một
sự lãng phí không những nguồn nhân lực mà là sự lãng phí về tài sản, thời
gian, công sức cho nền kinh tế, cho toàn bộ xã hội trong khi thực tế là lực
tạo nghề. Với các chính sách về hỗ trợ người lao động tham gia học nghề như
trợ cấp, miễn giảm học phí, điều đó sẽ giúp làm tăng nhu cầu học nghề của
người dân.
1.1.3.2. Nhóm nhân tố về phía cung đào tạo nghề
Cung về đào tạo nghề chính là nói đến số lượng các cơ sở đào tạo và đảm
bảo yêu cầu về chất lượng đào tạo. Số lượng cơ sở đào tạo càng lớn thì càng
thu hút được nhiều người học, giải quyết được vấn đề thiếu lao động qua đào
tạo. Các nhân tố ảnh hưởng đến cung đào tạo nghề là các nhân tố ảnh hưởng
đến cả lượng và chất của công tác đào tạo nghề bao gồm;
Nhân tố ảnh hưởng tới số lượng cơ sở đào tạo nghề.
Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng tới quy mô và hệ thống các cơ sở dạy
nghề. Gồm 2 nhân tố chính là cầu về đào tạo nghề và chính sách của Nhà
nước liên quan tới công tác đào tạo nghề.
- Cầu về đào tạo nghề tăng sẽ khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp tham gia vào công tác đào tạo nghề.
- Chính sách của Nhà nước liên quan tới công tác đào tạo nghề:
đây là nhân tố vừa ảnh hưởng tốt vừa ảnh hưởng không tốt tới công tác đào
tạo nghề. Khi Nhà nước quan tâm tới công tác phát triển đào tạo nghề thì sẽ
có nhiều chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển. Điều này sẽ tạo điều kiện
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
16
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
mở rộng các cơ sở dạy nghề với nhiều các ngành nghề khác nhau.
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
17
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác đào tạo nghề.
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo nghề, bao gồm:
i. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của công tác đào tạo nghề
Trong hệ thống giáo dục đào tạo nói chung và hệ thống giáo dục nghề
cho công tác đào tạo nhằm xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở dạy nghề,
tăng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng học viên đáp ứng nhu cầu phát
triển của đất nước. Kinh phí được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong
đó nguồn quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn là kinh phí do ngân sách Nhà nước
cấp và phân bổ cho các trường dạy nghề do Trung ương quản lý. Ngoài ra cần
phải kể đến kinh phí từ các Bộ, Sở, Ngành, Tổng công ty, các tổ chức đoàn
thể, các cá nhân và kinh phí do học viên đóng góp đã góp phần tăng nguồn
vốn hoạt động cho các cơ sở đào tạo nghề.
iii. Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy
Đây là nhân tố quan trọng giúp cho công tác đào tạo nghề đạt được kết
quả tốt. Giáo viên dạy nghề là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm của mình trên cơ sở trang thiết bị giảng dạy. Vì vậy, năng
lực giáo viên dạy nghề tác động trực tiếp đến chất lượng giảng dạy, đào tạo
nghề.
Điều 14 Luật giáo dục khẳng định “Nhà giáo giữ vai trò quyết định
trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”. Đội ngũ giáo viên không chỉ quyết
định đến đảm bảo chất lượng mà còn là nòng cốt trong việc phát triển sự
nghiệp giáo dục. Chất lượng đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố
quan trọng để đảm bảo yêu cầu trên. Ngoài ra, phương pháp giảng dạy cũng là
một trong những nhân tố quan trọng giúp người giáo viên có thể truyền thụ
được hết những kiến thức tới học sinh.
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
19
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
Giáo viên dạy nghề khác với giáo viên ở các cấp học khác, vì đào tạo
nghề chủ yếu là nâng cao tay nghề cho người lao động đối với một ngành
nghề nào đó, thực hành chiếm phần lớn thời gian. Do vậy, giáo viên dạy nghề
không chỉ có năng lực sư phạm, kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề giỏi
mà còn phải có kỹ năng về nghiên cứu khoa học, quản lý, hoạt động xã hội,
giao tiếp nhằm đảm bảo việc thích ứng với đòi hỏi cao và khắc nghiệt về sản
có sự thay đổi căn bản. Một mặt vẫn kế thừa và phát huy được kinh nghiệm
dân tộc, mặt khác cần tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới để đề ra
những cách tiếp cận mới, giải pháp mới để nâng cao hiệu quả và chất lượng
đào tạo nghề.
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình đào tạo hợp lý và
sát với nghề đào tạo để học viên sau khi ra trường có thể nắm vững được nghề
là một trong những vấn đề mà các cơ quan Nhà nước, các cơ sở dạy nghề phải
đặc biệt quan tâm.
v. Công tác quản lý
Đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề, tới chất lượng đào
tạo nghề. Bất kỳ một hoạt động có tổ chức nào cũng cần phải có sự quản lý
của người lãnh đạo. quản lý đào tạo nghề được hiểu là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ thống đào tạo nghề phát triển, vận hành theo đường lối chủ trương của
Đảng và thực hiện được những yêu cầu của xã hội, đáp ứng sự nghiệp phát
triển KT-XH. Quản lý đào tạo nghề bao gồm các loại hoạt động trong quá
trình đào tạo như sau:
- Xác định mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo nghề.
- Xây dựng các điều kiện cần thiết khả thi: Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ
thuật, cơ sở vật chất, trường, xưởng, nguồn tài chính, môi trường sư phạm
Nguyễn Thị Ngọc Hà Lớp : QTKD K40
21
Chuyên đề tốt nghiệp GV: ĐỖ THỊ ĐÔNG
- Xác định quy mô phát triển số lượng, chất lượng của từng ngành nghề
đào tạo.
- Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy và học của thày và trò.
- Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý.
- Phát triển cơ chế cộng đồng, phối hợp trong và ngoài.
- Tổ chức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề.
Đối với công tác dạy nghề thì công tác quản lý phải được thực hiện đồng