Đánh giá hiện trạng môi trường và tình hình quản lý môi trường thành phố đà nẵng 2014 2015 - Pdf 25

1
MỤC LỤC
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Các chữ viết tắt
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 Sự cần thiết của Đề án 9
1.2 Mục tiêu của đề án 10
1.3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 10
1.4 Phương pháp luận nghiên cứu 10
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Điều kiện tự nhiên 11
2.1.1 Vị trí địa lý 11
2.1.2 Địa hình 11
2.1.3 Khí hậu 11
2.2 Điều kiện xã hội 12
2.2.1 Dân số 12
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 14
2.3 Hiện trạng tài nguyên thành phố Đà Nẵng 18
2.3.1Tài nguyên khoáng sản 18
2.3.2 Tài nguyên rừng 19
2.3.3 Tài nguyên nước 20
2.3.4 Tài nguyên đất 221
2.4 Cơ sở hạ tầng 22

CHƯƠNG 3

4.4.1 Công nghiệp 44
4.4.2 Thương mại 44
4.4.3 Du lịch 44
4.4.4 Dịch vụ 45
4.4.5 Thuỷ sản, nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn 45
4.4.6 Phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật 46
4.5 Chiến lược phát triển kinh tế 48
4.5.1 Các chiến lược phát triển ưu tiên 48
4.6 Các nguyên nhân gây biến động và ảnh hưởng đến môi trường 50
4.6.1 Áp lực gia tăng dân số 50
4.6.2 Áp lực của quá trình công nghiệp hoá 51
4.6.3 Áp lực của sự phát triển dịch vụ 51
4.6.4 Áp lực từ việc sử dụng tài nguyên nước 52
4.7 Xác định những vấn đề môi trường trong việc phát triển kinh tế - xã
hội của thành phố đến 2010 52
4.7.1 Do quá trình phát triển công nghiệp 52
4.7.2 Do quá trình đô thị hoá 53
4.7.3 Do quá trình phát triển dịch vụ và du lịch 53
4.7.4 Do quá trình phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 53
4.7.5 Những vấn đề môi trường gắn với môi trường biển và ven biển 53

CHƯƠNG 5
NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
5.1. Những vấn đề tồn tại 55
3
5.1.1 Cơ chế chính sách 55
5.1.2 Hạ tầng cơ sở 55
5.1.3 Nguồn lực 55
5.1.4 Dân số 56

Đà Nẵng đến 2010 tầm nhìn 2015 70
7.2.1 Chương trình hành động nâng cao nhận thức công đồng 70
7.2.2 Chương trình hành động ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp
và quản lý chất thải công nghiệp 71
7.2.3 Chương trình hành động giảm thiểu ô nhiễm không khí 72
7.2.4 Chương trình hoạt động giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước73
4
7.2.5 Chương trình hành động xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng 74
7.2.6 Chương trình hành động ngăn ngừa và khắc phục sự cố tràn dầu 74
7.2.7 Chương trình hành động nước sạch và VSMT nông thôn 75
7.2.8 Chương trình hành động Quản lý rác đô thị 75
7.3 Đề xuất ưu tiên cho hợp phần quản lý chất thải rắn giai đoạn
2010-2015 76
7.3.1 Định hướng 76
7.3.2 Định hướng chiến lược 76
7.3.3 Đề xuất Dự án ưu tiên cho quản lý chất thải rắn giai đoạn
từ năm 2010-2015 77
7.3.4 Các dự án tiếp tục triển khai 82
CHƯƠNG 8
KẾT LUẬN VÀ KIẾNNGHỊ

) 21
Bảng 2.8 Diện tích đất tự nhiên.(km
2
) 22
Bảng 3.1 Số lần vượt Tiêu Chuẩn Việt Nam 5942 – 1995 (B) 29
Bảng 3.2 Số lần vượt tiêu chuẩn cho phép 31
Bảng 3.3 Số lần vượt tiêu chuẩn cho phép 32
Bảng 3.4 Số lần vượt tiêu chuẩn cho phép 33
Bảng 3.5 Thành phần chất thải rắn đô thị của thành phố Đà Nẵng 35
Bảng 3.6 Thu gom và phát sinh rác thải tại khu vực đô thị thành phố
Đà Nẵng từ năm 1993 đến năm 2005 37
Bảng 7.1 Ước tính khối lượng rác thu gom tại thành phố Đà Nẵng từ năm
2005 - 2010 77
Bảng 7.2 Tổng công suất của xe vận chuyển chất thải rắn của công ty
MTĐT Trong điều kiện không được tăng cường xe vận chuyển 77
Bảng 7.3 Công suất các xe hiện có của Công ty Môi trường Đô thị
Đà Nẵng từ năm 2005 đến năm 2010 78
Bảng 7.4 Số xe cần bổ xung 79


7
CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BOD : Biolchemical Oxygen Demand – Nhu cầu oxy sinh hóa
COD : Chemical Oxygen Demand – Nhu cầu ôxy hóa học
GEF : Global Environmental Fund - Quỹ Môi trường toàn cầu
GDP: Tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước
UNEP: United Nations Environment Programme -Chương trình Môi trường của
Liên hợp quốc
UNDP: United Nations Development Programme - Chương trình Phát triển của
Liên hợp quốc


8

LỜI MỞ ĐẦU

Thành phố Đà Nẵng là đô thị loại I cấp quốc gia, trung tâm du lịch, công nghiệp
thương mại, cảng biển và dịch vụ hàng hải, có vị thế quan trọng trong sự phát triển của
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, giao lưu thuận lợi với các địa phương trong nước
và các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước trong khu vực. Thành phố Đà Nẵng
là cửa chính ra biển của các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung trung bộ đồng thời có vị
trí quốc phòng trọng yếu.

Trong những năm qua Thành phố Đà Nẵng có bước phát triển rất mạnh mẽ trên
nhiều lĩnh vực. Sự tăng trưởng kinh tế, du lịch và dịch vụ của thành phố dự kiến sẽ tiếp
tục giữ ở mức cao và nó cũng sẽ đặt ra những thách thức nhất định đối với sự phát
triển của các đơn vị dịch vụ công cộng trong những năm tới.

Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng trong những thời gian qua đã
có những bước phát triển đáng khích lệ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau
trong quá trình phát triển cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng.
Chất lượng môi trường không khí, nước đang ngày càng xấu đi, chất thải rắn ngày
càng gia tăng. Những vấn đề này tạo ra một áp lực khá lớn lên công tác quản lý môi
trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do đó, vấn đề hiện nay là chúng ta phải làm
như thế nào để có thể cải thiện hiện trạng môi trường, bảo vệ môi trường trong tương
lai phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của thành phố.
Thành phố Đà Nẵng hiện có 4277 cơ sở công nghiệp, trong đó trên 350 doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp có quy mô vừa và lớn, khoảng 10% số cơ sở tập trung vào
các khu, cụm công nghiệp, số còn lại nằm rải rác ngoài khu công nghiệp và xen lẫn
trong khu dân cư.
Cơ cấu Công nghiệp Thành phố Đà Nẵng tương đối đa dạng, có đủ các ngành
công nghiệp quan trọng. Hầu hết các cơ sở công nghiệp cũ đã được xây dựng từ trên
30 năm trước đây và một số được xây dựng trước khi luật Bảo vệ Môi trường được
ban hành và có hiệu lực nên công nghệ sản xuất lạc hậu, chấp vá, không đảm bảo vệ
sinh môi trường. Gần 90% các cơ sở công nghiệp nằm trong khu vực nội thành, các
cụm công nghiệp được hình thành trước đây đều nằm xen kẽ với các khu dân cư,
không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng mà còn ngăn cản sự cải tạo
các cơ sở công nghiệp.
Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp là vấn đề ô nhiễm môi trường từ
nguồn chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp. Chất thải rắn trong
đó bao gồm cả chất thải nguy hại không được thu gom và xử lý theo đúng qui định của
luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã làm suy thoái môi trường thiên nhiên một cách
nghiêm trọng và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của người dân sống trong khu vực.
Phần lớn các cơ sở công nghiệp sử dụng máy cũ, lạc hậu, thiếu không gian để
phát triển và không có hệ thống xử lý chất thải. Các nhà máy, xí nghiệp chưa đề cập đến
vấn đề xử lý chất thải rắn, biện pháp duy nhất là ký hợp đồng với Công ty Môi trường
đô thị Đà Nẵng thu gom và vận chuyển chất thải tới chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải
Khánh Sơn. Một số đơn vị tư nhân cũng ký hợp đồng thu gom chất thải của các cơ sở
công nghiệp, mục đích chính của các đơn vị này là thu hồi các phế liệu có thể tái sử
dụng được.
Do tính đa dạng của công nghiệp Thành phố Đà Nẵng nên thành phần chất thải
cũng rất phức tạp: Ngoài các chất ô nhiễm thường gặp như các chất hữu cơ, dầu thải
còn có các chất độc hại nguy hiểm như Thuỷ ngân, Arsen và các kim loại nặng có tính
nguy hại cao.
Các loại nước thải chứa một số chất độc hại như nước thải từ các ngành công
nghiệp nhuộm, nấu bột giấy, nước thải từ bể mạ kim loại có chứa các hoá chất với

tiễn và có thể áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

11
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15
o
55' đến 16
o
14' vĩ Bắc, 107
o
18' đến 108
o
20' kinh
Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp
Biển Đông.
Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ,

Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các
tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung
bình 23-40 mm/tháng.
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6,
trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, tháng 12, trung bình từ 69
đến 165 giờ/tháng.
12
Ảnh hưởng của vị trí địa lý, địa hình đến chế độ khí hậu:
Dãy Trường sơn chắn phía Tây, dãy núi Hải vân và Bạch Mã chắn phía Bắc, do
đó khí hậu Đà Nẵng có đặc điểm chung cho khu vực miền Trung và riêng cho Thành
phố Đà Nẵng, cụ thể là:
- Vào mùa Hạ, gió mùa Tây nam bị mất hơi nước sau khi vượt qua dãy Trường
Sơn trở nên khô, nóng và tạo ra các đợt nắng nóng trong suốt các tháng mùa khô.
- Vào mùa Đông, gió mùa Đông bắc bị chắn bởi dãy Bạch mã làm cho khí hậu
ở Đà Nẵng ít chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông bắc hơn so với các tỉnh lân cận phía
bắc

2.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI

2.2.1 Dân số
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.255,53 km
2
(chiếm 0,3% diện
tích cả nước) trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km
2
, các huyện
ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48km
2
.
Dân số hiện nay là gần 780.000 người (chiếm 0,89% dân số cả nước) trong đó


Bảng 2.4 Dân số trung bình phân chia theo giới

Năm 2001 2002 2003 2004
Nam 354.605 361.444 361.271 369.161
Nữ 374.218 379.770 391.168 395.382
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)

Bảng 2.5 Dân số trung bình phân chia theo quận, huyện

Năm 2001 2002 2003 2004
Quận Hải Châu 200.722 205.123 208.281 211.414
QuậnThanh
Khê
155.899 157.868 159.272 160.559
Quận Sơn Trà 105.030 107.199 109.978 112.613
Quận Ngũ
Hành Sơn
46.719 47.878 49.140 50.531
Quận Liên
Chiểu
67.473 68.886 70.441 72.780
Huyện Hoà
Vang
152.980 154.260 155.287 156.652
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)


Quận Sơn Trà 99.344 1634,89 112.196

1.809
Quận Ngũ Hành Sơn

41.895 1146,61 50.097 1.347
Quận Liên Chiểu 63.464 763,87 71.818 855
Quận Cẩm Lệ 71.429 2.164
(Nguồn: Sở TN&MT Đà Nẵng)

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế-xã hội
Với những cố gắng, nỗ lực thi đua phấn đấu, tiếp tục phát huy các thành tích đã
đạt được, khắc phục những khó khăn, tồn tại và thực hiện tốt các giải pháp điều hành,
các cấp, ngành, các doanh nghiệp và nhân dân thành phố đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu
kế hoạch năm 2005, góp phần hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (2001-2005), tình
hình kinh tế - xã hội năm 2005 tiếp tục ổn định và có chuyển biến tích cực, đạt kết quả
khá trên nhiều mặt.
- Nền kinh tế tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm nội
địa (GDP) ước đạt 6.225 tỷ đồng, tăng 14% so với 2004
- Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước tăng 20,2%, bằng
100% kế hoạch.
- Giá trị sản xuất thủy sản - nông - lâm ước tăng 5,2%;, bằng 99,2% kế hoạch.
- Tốc độ tăng giá trị các ngành dịch vụ ước tăng 27,1%, bằng 113% kế hoạch
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ước tăng 19%, bằng 103,3% kế
hoạch.
- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 8.162 tỷ đồng, tăng 23,6%,
bằng 131,7% kế hoạch
- Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 5.057,9 tỷ đồng, bằng 100% dự toán
HĐND giao ( không kể các khoản thu bổ sung, thu kết dư, chuyển nguồn, viện trợ và
tạm thu).

trong đó, điện thương phẩm ước đạt 730,4 triệu KWh, tăng 9%. Sản lượng điện tiêu
thụ bình quân đầu người ước đạt 982 Kwh/người/năm, tăng 1,1 lần so với 2004.

Sản xuất thủy sản - nông – lâm
Giá trị sản xuất thủy sản - nông - lâm ước đạt 668,9 tỷ đồng, bằng 99,2% kế
hoạch, tăng 5,2% so với 2004, trong đó, thủy sản ước đạt 440,3 tỷ đồng, bằng 100,2%
kế hoạch, tăng 11,4%; nông nghiệp ước đạt 205,1 tỷ đồng, bằng 95,4% kế hoạch, giảm
5,8%; lâm nghiệp ước đạt 23,5 tỷ đồng, bằng 117,5% kế hoạch, tăng 3,5%.
Thủy sản chế biến xuất khẩu ước đạt 11.700 tấn, giá trị xuất khẩu ước đạt 48,2
triệu USD. Âu thuyền Thọ Quang cơ bản đã ổn định hoạt động, đảm bảo neo đậu trú
bão an toàn cho tàu thuyền thành phố và các tỉnh lân cận. Cảng cá Thuận Phước đã
phát huy tốt vai trò dịch vụ hậu cần với 8.720 lượt tàu thuyền và trên 40.000 tấn hải
sản qua Cảng.
Do việc đô thị hóa và tình hình khô hạn kéo dài nên diện tích gieo trồng giảm
mạnh. Năm 2005, diện tích gieo trồng ước đạt 13.459 ha, bằng 94,7% kế hoạch, giảm
12,6% so với 2004, trong đó, diện tích lúa ước đạt 8.037 ha, giảm gần 1.000 ha (vụ
Đông xuân giảm 316 ha so với Đông xuân 2003-2004, vụ Hè Thu chỉ đạt 85% diện
tích và có trên 700 ha không gieo sạ được do không có nước tưới). Sản lượng lúa ước
đạt 42.325 tấn, giảm 11,4% so với 2004.
Giá trị lâm sản xuất khẩu cả năm ước đạt 7 triệu USD, bằng 100% kế hoạch,
tăng 16,7% so với 2004. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện tốt. Đến nay,
16
đã tổ chức 39 lượt kiểm tra, truy quét chống chặt phá rừng, xử lý vi phạm hành chính
105 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Công tác phòng chống cháy rừng cũng
được tập trung chú trọng, đã thành lập đội phản ứng nhanh phòng chống cháy rừng.
Tuy nhiên, do nắng nóng, nguy cơ cháy rừng cao, đã xảy ra 41 vụ phát lửa trên 136ha
diện tích, bao gồm, 70 ha cây bụi, lau, lách và 66 ha rừng trồng.

Thương mại - Du lịch - Vận tải
Mặc dù tình hình thị trường thế giới và trong nước có những biến động, nhất là

1.884,8 triệu.tấn.km, tăng 16,3%.
Sản lượng hàng hóa qua cảng ước đạt 2.310.000 tấn, bằng 100% so với 2004,
trong đó, xuất khẩu ước đạt 800.500 tấn, tăng 8,2%; nhập khẩu ước đạt 610.000 tấn,
giảm 13,8%.
Dịch vụ Bưu chính - Viễn thông tiếp tục tăng trưởng. Mạng lưới viễn thông
được mở rộng, nhiều phương thức thông tin hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế được hình
thành, từng bước đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng. Năm 2005, mật độ máy
điện thoại trên địa bàn ước đạt 22,8 máy/100 dân, bằng 100% kế hoạch, tăng 14,8% so
17
với 2004, doanh thu Bưu chính - Viễn thông ước đạt 1.376,8 tỷ đồng, bằng 101,1% kế
hoạch, tăng 47,8%.
Làm tốt công tác Tài nguyên - Môi trường, hoàn thành tổng kiểm kê đất đai, lập
bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
đến 2010. Triển khai dự án điều tra và đánh giá hiện trạng nước ngầm, xây dựng cơ sở
dữ liệu phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước ngầm của thành phố.
Tăng cường quản lý các hoạt động khai thác khoáng sản. Năm 2005 đã xử lý,
phạt và đình chỉ việc khai thác khoáng sản đối với các đơn vị, cá nhân do không thực
hiện đúng các nội dung đã đăng ký trong báo cáo Đánh giá tác động môi trường, yêu
cầu các đơn vị này phải thực hiện nghiêm túc và thường xuyên các biện pháp khắc
phục và giảm thiểu mức độ ô nhiễm và xói lở tại các khu vực khai thác. Ngoài ra, đã
giao UBND huyện Hòa vang chỉ đạo các xã quản lý, kiểm tra và xử lý triệt để các hộ
khai thác cát sông trái phép dọc sông Tuý Loan và sông Yên gây sụt lở bờ sông và ô
nhiễm môi trường trên cơ sở Bản đồ quy hoạch cát sông xây dựng năm 2005.
Hoàn thành quan trắc môi trường và báo cáo hiện trạng môi trường năm 2005.
Thực hiện giám sát xử lý ô nhiễm môi trường tại bãi rác Khánh Sơn, hồ Thạc Gián;
duy trì vớt rác định kỳ tại hồ Đầm Rong 2, Thuận Phước và các mương dẫn; nạo vét
bùn và xử lý ô nhiễm hồ 29-3, tổ chức nhân dân vớt rác, bèo trên sông Phú Lộc, nạo
vét khơi thông các đoạn bị tắc, đặt thùng rác tại các khu dân cư dọc bờ sông và tuyên
truyền, xử phạt các hộ dân đổ rác không đúng quy định. Chỉ đạo xử lý việc Công ty
Wei Xern Sin để nước thải gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, dự kiến quý IV/2005 sẽ

0,4%o so với 2004; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ước là 11%, tăng 0,8%. Duy trì 100%
trẻ mồ côi không nơi nương tựa và 95% trẻ khuyết tật được chăm sóc (20% được phục
hồi chức năng). Không để xảy ra tình trạng trẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phòng
ngừa và ngăn chặn triệt để tình trạng xâm hại trẻ em.

Kết luận
Bên cạnh những mặt tích cực mà thành phố đã đạt được trong năm qua, vẫn còn
một số hạn chế, bất cập cần phải khắc phục và rút kinh nghiệm. Điểm cơ bản là quy
mô kinh tế vẫn còn nhỏ bé, chất lượng phát triển kinh tế còn thấp, sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp trên địa bàn còn yếu, hiệu quả sản xuât kinh doanh chưa cao. Hoạt
động du lịch chưa khai thác được lợi thế của thành phố. Công tác đổi mới, sắp xếp lại
doanh nghiệp nhà nước còn chậm; một số ngành tuy có tăng trưởng nhưng chưa mang
tính bền vững và ổn định. Lĩnh vực xuất nhập khẩu chưa vượt qua được những thách
thức gay gắt về cạnh tranh và thị trường. Sự chỉ đạo điều hành của UBND thành phố
đối lúc còn bị động, lúng túng, chưa quán xuyến hết công việc; chưa có biện pháp hữu
hiệu để xử lý các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài; chỉ đạo thiếu kiên quyết về vấn đề trật
tự đô thị; kỷ cương hành chính chưa được tăng cường. Sự phối hợp giữa các sở, ban
ngành vẫn còn tình trạng thiếu đồng bộ, bị động, chưa chặt chẽ, ảnh hưởng đến kết quả
công việc. Công tác cải cách hành chính tuy đạt một số kết quả bước đầu nhưng vẫn
một bộ phận nhân dân chưa nắm vững các thủ tục hành chính; một số cơ quan đơn vị
chưa công khai đầy đủ rõ ràng, một số lĩnh vực còn gây phiền hà cho người dân, nhất
là trong giải toả đến bù, nhà đất; tình trạng quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, vòi
vĩnh, thiếu trách nhiệm trong thi hành công vụ vẫn còn ở một số bộ phận cán bộ, công
chức. Công tác quản lý đô thị vẫn còn một số bất cập, một số vấn đề về quản lý xây
dựng, quy hoạch, quản lý ô nhiễm môi trường còn bị động, cần được tiếp tục quan tâm
giải quyết; công tác bố trí tái định cư vẫn còn thiếu sót, nhiều hộ dân trong diện giải
toả chậm có nhà ở và ổn định cuộc sống, quá trình giải quyết chuyển đổi nghề cho lao
động nông nghiệp thuộc diện bị thu hồi đất canh tác còn chậm

2.3 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.3.2 Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu
ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: 22.745 ha,
trong đó đất có rừng là 15.933 ha; Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là
17.468 ha; Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176 ha.
Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở
quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ
khoảng 3 triệu m
3
. Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu
khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi ban
cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà
Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải
Vân.

* Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà:
Tổng diện tích tự nhiên là 8.838 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là
8.800 ha bao gồm đất có rừng: 6.942 ha (rừng tự nhiên 5.976 ha, rừng trồng 966 ha),
đất chưa có rừng 1.858 ha.
Đây là khu rừng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, nối liền với vườn quốc gia
Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế), rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên phía
bắc và tây bắc tỉnh Quảng Nam, tạo nên một dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam liên
tục trải dài từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào. Rừng tự nhiên Bà Nà - Núi Chúa có
kết cấu thành loài đặc trưng cho sự giao lưu giữa hai luồng thực vật phía bắc và phía
nam, đồng thời cũng đặc trưng cho khu đệm giao lưu giữa hai hệ động vật Bắc Trường
Sơn và Nam Trường Sơn. Ngoài ra, đây còn là vùng khí hậu mát mẻ, trong lành, đầu
nguồn các dòng sông, đóng vai trò đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí
hậu, phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái của thành phố Đà
Nẵng.


* Biển, bờ biển:
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn
núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một
số cảng chuyên dùng khác; và nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi
cho việc giao thông đường thuỷ. Mặc khác Vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão
của các tàu có công suất lớn.
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km
2
, có các động vật biển
phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11
loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển) với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải
sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có
độ sâu từ 50-200m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50m (chiếm 31%), vùng nước sâu trên
200m (chiếm 20,6%). Hàng năm có khả năng khai thác trên 150.000 -200.000 tấn hải
sản các loại.
Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ
Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú; ở khu vực quanh bán
đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh
doanh, dịch vụ, du lịch biển.
Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt

* Sông ngòi, ao hồ:
Sông ngòi của thành phố Đà Nẵng đều bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc thành
phố và tỉnh Quảng Nam. Hầu hết các sông ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc. Có 2 sông
chính là Sông Hàn (chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng
21
5.180km
2
) và sông Cu Đê (chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426km

nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất
chuyên
dùng
Đất ở Đất chưa
sử dung,
sông, núi

Quận Hải Châu 24,08 1,25 - 15,26 4,30 3,27
QuậnThanh Khê 9,30 0,97 0,01 4,23 3,81 0,28
Quận Sơn Trà 60,78 1,36 34,24 9,15 3,78 12,25
Quận Ngũ Hành
Sơn
36,52 14,14 2,06 9,70 3,78 12,25
Quận Liên Chiểu 82,37 11,46 31,03 18,72 2,73 7,89
Huyện Hoà Vang 737,48 88,04 446,87 26,63 4,65 19,51
Hoàng Sa 305 - - 305 11,52 164,42
(Nguồn: Sở TN&MT Đà Nẵng)
22

vịnh kín gió và hàng chục kilômét bờ biển nên giao thông đường thủy rất thuận lợi;
Cảng Sông Hàn, cảng Tiên Sa đều nằm không xa thành phố và có độ mớm nước sâu
đáp ứng được các tàu có trọng tải lớn cập cảng, rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng
hóa đến các nơi trong nước và trên thế giới.
Nguồn điện dùng cho sinh hoạt và sản xuất được đảm bảo cung cấp từ lưới điện
quốc gia thông qua đường dây 500kv Bắc Nam. Nhà máy nước thành phố có công suất
80.000m
3
/ngày đêm; hiện nay đang đầu tư xây dựng thêm nhà máy mới có công suất
120.000m
3
/ngày đêm nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố.
Hệ thống thông tin liên lạc được hiện đại hóa và phát triển mạnh, đảm bảo nhu
cầu trong nước và quốc tế, là trung tâm thông tin lớn của cả nước cùng với Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh.
Các khu công nghiệp Đà Nẵng, Hòa Khánh, Liên Chiểu đã được xây dựng
tương đối đồng bộ, hạ tầng phát triển; thành phố đang xây dựng thêm khu công nghiệp
Hòa Cầm, khu công nghiệp dịch vụ Thủy sản Đà Nẵng (Thọ Quang) và các cụm công
nghiệp nhỏ ở các quận, huyện.

23

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Đà Nẵng


tiếp tục xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sức khoẻ của người dân địa
phương và nuôi trồng thuỷ sản.
Tính đến nay trên địa bàn thành phố đã có 05 khu công nghiệp lớn với tổng
diện tích 1.399 ha là : KCN Hoà khánh, KCN Đà Nẵng, KCN Liên Chiểu, KCN Hoà
Cầm và KCN Dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang.

Khu công nghiệp Đà Nẵng:
Nằm trên địa bàn quận Sơn Trà, có tổng diện tích 62,99 ha. Cách cảng Tiên Sa
6km về phía nam, cách sân bay quốc tế Đà Nẵng 5km về phía Đông và cách trung tâm
thành phố gần 2 km.
Hiện tại, cơ sở hạ tầng của Khu Công nghiệp Đà Nẵng được đầu tư khá đầy đủ.
- Hệ thống đường nội bộ hoàn chỉnh.
- Nguồn điện cung cấp : 110KV/220KV. Khả năng cung cấp hiện tại: 20MW.
- Cấp nước: Nước thủy cục hoặc nước ngầm.
- Hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, đủ đáp ứng nhu cầu cho tất cả các đơn vị.
Mỗi doanh nghiệp có thể sử dụng 03 đường dây điện thoại và 01 đường fax trực
tiếp.
* Các ngành ưu tiên kêu gọi đầu tư vào Khu Công nghiệp Đà Nẵng:
- Dệt và may mặc (trừ nhuộm).
- Giày da, túi xách và các sản phẩm may da hoặc giả da (trừ thuộc da).
- Sản xuất và lắp ráp thiết bị điện, điện tử.
- Chế biến sản phẩm công nghiệp, thực phẩm và thức uống giải khát.
- Sản xuất bao bì, in ấn.
- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nữ trang.
- Sản xuất đồ nhựa (trừ hạt nhựa).
- Các dịch vụ thương mại và hỗ trợ đầu tư.
Hình 3.1
Khu Công nghiệp Đà Nẵng
tư đến đầu tư xây dựng nhà xưởng sản xuất và kinh doanh tại Khu Công nghiệp. Các
dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp luôn sẵn có để đáp ứng ngay nhu cầu của các
nhà đầu tư.

Hình 3.2
Khu Công nghiệp Hòa Khánh Khu công nghiệp Liên Chiểu:
Do Công ty Quản lý và Khai thác hạ tầng Khu Công nghiệp Đà Nẵng trực thuộc
Ban Quản lý các Khu Công nghiệp và Chế xuất Đà Nẵng thực hiện.
Khu công nghiệp Liên Chiểu có diện tích là 373,5 ha thuộc phường Hòa Hiệp,
quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Nằm cách sân bay quốc tế Đà Nẵng 15 km, cách

Trích đoạn Mục tiêu phát triển xã hội Mục tiêu phát triển kinh tế Thuỷ sản, nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn Các chiến lược phát triển ưu tiên Những vấn đề môi trường gắn với môi trường biển và ven biển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status