SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
oOo
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG
MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Thoa
Năm học 2011 -
2012
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu thường đề cập tới với sự thay đổi
bất thường của khí hậu, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên
nhân chính làm biến đổi khí hậu trên Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các
chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí
nhà kính như sinh khối rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Theo Báo cáo Phát triển Con người 2007 – 2008 của UNDP, với kịch bản nước
biển dâng, đến năm 2100, nhiệt độ tăng trung bình 3-4 độ C sẽ có khoảng 22 triệu
người Việt Nam bị ảnh hưởng. Đặc biệt, vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập
úng hoàn toàn, khiến năng suất nông nghiệp giảm 20%. Bão lụt, ngập úng cũng gia
tăng. Bệnh tật, nhất là sốt xuất huyết, sốt rét phát triển mạnh khiến sức khỏe của người
dân bị ảnh hưởng.
Việt Nam đang chịu ảnh hưởng từ nhiều mặt của BĐKH, thiên tai, bão lụt, hạn
hán diễn ra dồn dập hơn trước. Điều này là hiển nhiên và không thể chối bỏ. Trước
tình hình này, các lĩnh vực, ngành, địa phương đã triển khai các hoạt động nghiên cứu,
đánh giá tình hình, diễn biến và tác động của BĐKH đến tài nguyên, môi trường, sự
phát triển kinh tế - xã hội, đề xuất và bước đầu thực hiện các giải pháp ứng phó, và về
lâu dài tích hợp mục tiêu ứng phó BĐKH vào trong các hoạt động thường xuyên của
mình.
dụng đất.
Sự thay đổi về khí hậu do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của
con người cùng với BĐKH do tự nhiên sẽ làm thay đổi cấu thành của khí quyển.
1.2. Nguyên nhân hình thành biến đổi khí hậu
BĐKH là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức
độ cao, làm cho Trái Đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái Đất nóng lên. Nhiệt độ trái đất
nóng lên tạo ra các biến đổi đối với các vấn đề thời tiết hiện nay. Theo báo cáo mới
nhất của Liên Hiệp Quốc, nguyên nhân của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây
ra, 10% là do tự nhiên.
1.2.1. Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải
BĐKH có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng quan tâm và cần hạn chế là
nguyên nhân do hoạt động của con người gây ra. Đó là sự tăng nồng độ các khí nhà
kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí điôxit
cacbon (CO
2
) được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch (dầu
mỏ, than đá, khí tự nhiên ), phá rừng và chuyển đổi sử dụng chất thải vào khí quyển.
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Uỷ Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC,
2007), hàm lượng khí CO
2
trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên trong
khoảng 650.000 năm qua (180 – 280ppm) và đạt 379ppm (tăng gần 35%). Lượng phát
thải khí CO
2
từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỉ tấn cacbon
mỗi năm (trong những năm 1990) đến 7,2 tỉ tấn cacbon mỗi năm (trong thời kỳ 2000-
2005). Trong việc đánh giá hiệu ứng của khí nhà kính, có hai vấn đề rất đáng lưu ý là
hàm lượng khí mêtan (CH
4
) trong khí quyển đã tăng từ 715ppb (trong thời kỳ tiền
lên 0,7
0
C. Thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ qua. Trong 11 năm
(1995-2006) là những năm nóng nhất từ khi có số liệu đo bằng công cụ hiện đại. Do
nóng lên toàn cầu, băng, tuyết của các vùng cực của Trái Đất và trên núi cao tan ra,
nước của các đại dương ấm lên và giãn nở ra, làm mực nước biển trung bình toàn cầu
dâng lên trung bình 0,17m trong thế kỷ XX. Các thiên tai như mưa lớn, bão, lũ lụt, lũ
quét, nắng nóng, hạn hán, lốc xảy ra nhiều hơn, mạnh hơn, dị thường hơn. Số ngày
lạnh, đêm lạnh, băng giá ít hơn. Hiện tượng El Nino xảy ra nhiều hơn, kéo dài và
mạnh hơn. Ngập lụt, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, sạt lở đất xảy ra nhiều và mạnh
mẽ hơn trước Đây là những ảnh hưởng do BĐKH gây ra, những ảnh hưởng này tác
động rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội vì vậy các địa phương, các cấp, các ngành
cần phải tập trung ứng phó và tìm giải pháp hạn chế thiệt hại do BĐKH gây ra.
1.3. Tác động của biến đổi khí hậu
Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH
(IPCC, 2007) và những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học Việt Nam, tác
động tiềm tàng của BĐKH đối với nước ta là nghiêm trọng và cần được nghiên cứu
sâu thêm. Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số và
cường độ do BĐKH là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả
các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng. Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố
lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất
và đời sống. Trong đó, những lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ của BĐKH có thể được
tổng hợp qua sơ đồ sau:
BĐKH sẽ làm cho các thiên tai trở nên ác liệt hơn và có thể trở thành thảm hoạ,
gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm
của sự phát triển, trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ.
Những khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực
đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng
đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
1.3.1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và an
- An ninh xã hội
- Chất lượng cuộc
sống, y tế, sức khoẻ
cộng đồng
- Bảo tồn di tích văn
hoá, lịch sử.
- Bảo tồn các phong
tục tâp quán
BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng,
làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản, sinh
trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia
cầm.
Với sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồng
nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thì thu hẹp lại. Ranh giới của cây trồng
nhiệt đới dịch chuyển về phía vùng núi cao hơn và các vĩ độ cao ở phía Bắc, phạm vi
thích nghi của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp thêm. BĐKH có khả năng làm tăng tần
số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm .
Tố, lốc, bão và các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ
lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng suất và sản
lượng của cây trồng và vật nuôi.
BĐKH gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, một phần đáng kể diện
tích đất nông nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập mặn do nước biển dâng, nếu không có các biện
pháp ứng phó thích hợp. BĐKH và nông nghiệp là hai qui trình tác động lẫn nhau ở
mức toàn cầu. Đối với nhà nông, thời tiết đóng vai trò quyết định cho thành công hay
thất bại, được mùa hay mất mùa. Ngược lại, nông nghiệp cũng ảnh hưởng lên khí hậu,
vì thải ra các khí làm tăng hiệu ứng nhà kính như hơi nước, khí cacbon, mê tan và ôxít
nitơ. Sự phát quang, phá rừng để trồng trọt và hiện tượng hoang hoá hay sa mạc hoá
đất đai vì thâm canh cũng làm thay đổi mặt vỏ Trái Đất, và làm mất quân bình cán cân
bức xạ nhiệt.
nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật hoặc do những đổ vỡ của kế hoạch dân
số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập. Những đối tượng dễ bị tổn thương
nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, trẻ em và
phụ nữ.
BĐKH là nguy cơ gây suy thoái môi trường và suy giảm đa dạng sinh học và sự
nhiễu loạn hệ sinh thái sẽ là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh mới cho con người.
BĐKH làm suy thoái tài nguyên nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của nhân dân
và hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế. BĐKH còn là nguyên nhân gây nên các
biến động về di dân do mất nơi ở, mất đất canh tác hoặc do bệnh tật và nghèo đói.
Trong mấy năm gần đây biểu hiện của BĐKH đối với Việt Nam đã rất rõ nét như mưa
lũ thất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt Bắc Trung Bộ có nguy cơ gia tăng
bão lũ, trong khi vùng ven biển Nam Trung Bộ đang gia tăng độ khô hạn và có nguy
cơ hạn hán. Hậu quả của bão lũ, hạn hán trực tiếp gây chết người, dịch bệnh sau lũ,
mùa màng mất mùa, làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng, giảm khả năng kháng bệnh.
Đồng thời, khi nhiệt độ toàn cầu ấm lên sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh cũ và
dịch bệnh mới phát triển mà con người khó có thể kiểm soát được. Trong báo cáo gần
đây của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPPC) đã khẳng định: Dưới tác động của
nhiệt các căn bệnh đã gia tăng như: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não (truyền qua
muỗi); các bệnh đường ruột (qua môi trường nước), các bệnh suy dinh dưỡng, bệnh
phổi Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn đến các vùng kinh tế kém phát triển,
đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm BĐKH sẽ làm
khoảng 150.000 người chết và 5 triệu người bệnh. Trong bối cảnh đó, BĐKH sẽ làm
cho hàng triệu người Việt Nam mất nhà cửa, đói nghèo dịch bệnh gia tăng. Hiện tượng
tị nạn môi trường sẽ xảy ra và kéo dài trên diện rộng. Với đất đai đã có chủ sử dụng,
đã quy hoạch, giao thông và thông tin thuận lợi, các dòng dân di cư sẽ khác xa so với
trước đây. Dòng người tị nạn xâm nhập dần vào các đô thị ít chịu ảnh hưởng của
BĐKH, tạo ra các khu dân cư kiểu “xóm liều, ổ chuột”, gia tăng lực lượng lao động
giản đơn, bán hàng rong, tạo thành các nhóm dân lang thang trong đô thị, góp phần
nông thôn hoá đô thị và làm cho quy hoạch các khu vực đô thị trở thành không thể
nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất điện. Chế độ mưa thay
đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, gây khó
khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước. Trên các sông lớn như
sông Hồng và sông Cửu Long, xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm và
dòng chảy kiệt; xu thế tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ.
BĐKH cũng đang tác động đến nuôi trồng thủy sản, trong đó nhiệt độ đóng vai
trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các
loài thủy - hải sản nói riêng.
Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng dẫn đến các hậu quả sau:
Nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ
sản nước ngọt. Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến nơi cư trú của một
số loài thuỷ sản. Khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm, dẫn
đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy.
Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thuỷ sản xấu đi. - Nước biển dâng
làm cho chế độ thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh xấu đi. Kết quả là các quần xã hiện hữu
thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút.
Nhiệt độ tăng cũng dẫn đến một số hậu quả: Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt
độ rõ rệt trong thuỷ vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật.
Một số loài di chuyển lên phía Bắc hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bố
thuỷ sinh vật theo chiều sâu. Quá trình quang hoá và phân huỷ các chất hữu cơ nhanh
hơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật. Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng
lượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các hoạt động sống khác làm giảm năng suất
và chất lượng thuỷ sản. Suy thoái và phá huỷ các rạn san hô, thay đổi quá trình sinh lý,
sinh hoá diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo. Nhiệt độ tăng làm
cho nguồn thuỷ, hải sản bị phân tán. Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị
giảm đi hoặc mất hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt.
Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian
dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…)
bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Các loài thực
vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị huỷ diệt, làm giảm
Các khu sinh thái trống rỗng hoặc kiệt quệ do BĐKH, tạo tiền đề cho các loài
ngoại lai có khả năng thích nghi tốt hơn xâm nhập.Trong số đó, có thể có những loài
cây trồng hay vật nuôi biến đổi gen (GMO) chưa được kiểm định về tính an toàn sinh
học, được người dân hay các công ty giống vật nuôi cây trồng nhập vào mà cơ quan
kiểm dịch động thực vật khó bề kiểm soát hết. BĐKH đang ngày càng tác động đến
các hệ sinh thái biển, làm giảm nguồn lợi cá biển. Hiện tượng san hô chết hàng loạt
trong những năm qua do một số nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do nhiệt độ ở
các vùng biển đã tăng lên
Đa dạng sinh học là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
các quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của BĐKH toàn
cầu, ĐDSH đã và đang bị ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng. Theo Báo cáo triển
vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp Quốc 2007, thì BĐKH đang gây ra tình trạng
suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thế giới phải hành động nhanh
chóng hơn bao giờ hết. Đối với Việt Nam - một trong những nước được dự báo sẽ bị
ảnh hưởng nặng nề của BĐKH thì có lẽ vấn đề bảo vệ ĐDSH cần phải được quan tâm
triệt để.
Trong thiên nhiên, ÐDSH, nhất là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là nơi chủ yếu
tích luỹ trở lại nguồn khí CO
2
phát thải ra, để tạo thành chất hữu cơ. Trong khi đó,
chúng ta lại đã và đang chặt phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chăn nuôi,
xây dựng nhà cửa, đô thị. Sự tàn phá rừng, không những gây mất cân bằng sinh thái ở
nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụ CO
2
và gián tiếp làm tăng thêm lượng khí
CO
2
phát thải vào khí quyển, góp phần làm cho BÐKH toàn cầu tăng nhanh. Như vậy,
sự giảm sút ÐDSH, nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng BÐKH toàn
cầu, nhưng ngược lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và
biển dâng sẽ gây nên xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập n-
ước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt. Tại những
vùng mà BÐKH làm tăng cường độ mưa, thì nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt,
sụt lở đất đá và có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các thuỷ vực, làm
ô nhiễm nguồn nước. Tất cả những hiện tượng đó đều ảnh hưởng đến các loài sinh vật
và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn cho sự
phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo mà cuộc sống đa số người dân
còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Hai vùng đồng bằng lớn và đồng bằng ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập
mặn và hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái
rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố
sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm
suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật đa dạng trong
đó. Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước có
tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa,
giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho
sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vườn
quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập.
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều
loài sinh vật biển quan trọng, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập
mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị
ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất nông nghiệp từ cửa sông đổ ra. Nhiệt độ tăng
làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế trừ cá
ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới giá trị kinh tế cao giảm.
Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế
xã hội, đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái.
BĐKH, với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ
thúc đẩy cho sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh
thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và một số loài đang nguy cấp với số
lượng cá thể ít, cũng vì thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến
VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG
Diện tích canh tác
và năng suất giảm
An ninh lương thực
bị đe doạ
Nghèo đói, dịch bệnh
gia tăng
Tài nguyên tự nhiên bị
xâm hại
Di dân từ nông thôn lên
thành thị
Rừng bị suy kiệt và
không bền vững
Biến động tiêu cực về
kinh tế - xã hội
Ô nhiễm và suy giảm
chất lượng cuộc sống
1.4. Thực tiễn về biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Biến đổi khí hậu trên thế giới
Ảnh hưởng đầu tiên của BĐKH là tác động lên hầu hết các thành phần môi
trường mà trước hết là làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng cao, mực nước biển dâng.
Sau nhiều năm bị phủ nhận vì áp lực của các kỹ nghệ khai thác nhiên liệu hóa
thạch (than và dầu hỏa), BĐKH đã trở thành một vấn đề "nóng" hiện nay của thế giới,
ngày càng hiện rõ tính cấp bách và được công nhận như một thực tế đe doạ sự tồn tại
của loài người trên Trái Đất. Những công trình nghiên cứu trong suốt 20 năm của
Nhóm chuyên gia liên chính phủ về BĐKH (Intergovernmental Panel on Climate
Change – IPCC), thuộc Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meterological
Organization – WMO), đã góp phần quan trọng làm thức tỉnh dư luận thế giới trước
hiện thực và các hệ quả của vấn đề này, và do đó đã được tôn vinh với giải Nobel hoà
bình trao cho IPCC năm 2007. .
- Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của
thập kỷ 1931-1940 là 0,8 – 1,3
0
C và cao hơn thập kỷ 1991-2000 là 0,4 -0,5
0
C.
- Dự báo nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3
0
C vào năm 2100.
* Lượng mưa: Trên từng địa điểm thì xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình
năm trong 9 thập kỷ qua (1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng
khác nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981-
1990 và chỉ còn gần một nửa (khoảng 15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
- Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng từ 0
đến 10% vào mùa mưa và giảm từ 0 đến 5% vào mùa khô. Tính biến động của mưa
tăng lên.
* Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm
Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm phù hợp
với xu thế chung của toàn cầu.
- Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m
vào năm 2100.
* Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16
đợt không khí lạnh bằng 56 % trung bình nhiều năm, trong đó có 6/7 trường hợp có số
đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI-III) thấp dị thường (3/1990, 1/1993,
2/1994, 12/1994, 2/1997 và 11/1997). Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí
hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài
38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông
nghiệp.
cường độ lẫn tần suất.
Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm : nông dân, ngư dân (nhất là ở những
khu vực dễ bị tổn thương), các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em
và các tầng lớp nghèo nhất ở các đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn
1.4.3. Biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn
thương nhất do nước biển dâng. Hai đồng bằng còn lại là đồng bằng sông Nile (Ai
Cập) và đồng bằng sông Hằng (Bangladesh).
Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu sự tác
động trên các mặt.
- Biến động trong sản xuất: Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa
và kinh tế vườn sẽ giảm sút ; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc sẽ bù
đắp lại hai sự sụt giảm trên ; đầu tư trong lĩnh vực công thương nghiệp càng khó thu
hút hơn.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng đã tốn kém càng tốn kém hơn.
- Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra
sự dịch chuyển trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế - xã hội nêu lên trên
đây sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu
không kịp thời có sự ứng phó thích hợp. Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ
gặp nhiều xáo trộn lớn ; Vai trò vựa lúa cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng
kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đảm
nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng ; Nhiều khía cạnh về an ninh quốc phòng sẽ
được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.
Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế có uy tín đã xếp Việt Nam, đặc biệt
là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thương
cao do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn,
Thái Lan) và Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình
khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn
toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới.
Theo đánh giá của các chuyên gia khí tượng thủy văn, ĐBSCL sẽ là khu vực
chịu tác hại nặng nề nhất do BĐKH gây ra. Những năm gần đây, vào các tháng mùa
khô, hầu hết các tỉnh ĐBSCL đều bị nước mặn xâm nhập, gây thiệt hại đáng kể cho
sản xuất nông nghiệp, nhiều địa phương rơi vào tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt
trầm trọng. Theo dự đoán của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP)[23], tác
động của BĐKH sẽ gây thiệt hại khoảng 17.000 tỷ đồng/năm cho nước ta, đồng thời
khiến 17 triệu người đứng trước nguy cơ không còn nhà cửa.
Trước đây, ĐBSCL ít gặp bão ngoại trừ năm 1997, bão Linda đi qua khu vực
này và năm 2006, đuôi bão Durian quét qua, gây thiệt hại nặng nề về người và của.
Đáng lo ngại hơn, theo dự báo của các chuyên gia, nếu mực nước biển dâng lên cao
hơn so với hiện nay, hậu quả của các cơn bão gây ra cho ĐBSCL còn khốc liệt hơn
nhiều. TS. Nguyễn Hữu Chiếm, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Trường
Đại học Cần Thơ) khẳng định: “ĐBSCL đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH toàn
cầu. Hiện đất đai của vùng đang bị bạc màu và đa dạng sinh học giảm mạnh; diện tích
đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng cao. Toàn vùng ĐBSCL có
khoảng 2,1 triệu hecta đất bị nhiễm mặn và 1,6 triệu hecta đất nhiễm phèn, khô hạn.
Bên cạnh đó, nhiệt độ không khí tăng cao cộng với tình trạng hạn hán bất thường, lũ
lụt không theo quy luật khiến nhiều loại dịch bệnh mới hình thành, gây thiệt hại đáng
kể cho sản xuất nông nghiệp”.Chỉ tính riêng các đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến
đầu năm 2009, vùng ngoài đê bao của An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp,
Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ đều bị ngập; nước sông dâng cao khiến
khoảng 70.000ha vườn cây ăn trái, hàng trăm kilômét đường nông thôn bị ngập sâu
Đáng báo động là tình trạng ngập lụt không chỉ xảy ra vào mùa mưa mà còn diễn biến
bất thường trong mùa khô. Theo thông tin từ Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, hiện
nước mặn từ 6 cửa sông thuộc hệ thống sông Mêkông đã xâm nhập sâu vào đất liền
vùng ĐBSCL khoảng 70km. Tại Long An, nước mặn từ Cửa Tiểu đã vào đến xã Thủy
Tây (huyện Thạnh Hóa); tại Bến Tre, nước mặn từ Cửa Đại vào đến xã Phú Túc
(huyện Châu Thành); ở Trà Vinh, nước mặn từ cửa Hàm Luông đã vào đến xã Long
Thới (huyện Tiểu Cần); trong khi đó ở Hậu Giang, nước mặn từ cửa Trần Đề đã vào
truyền, thực hiện giáo dục vì sự phát triển bền vững. Nhà trường là nơi trang bị cho
chủ nhân tương lai của đất nước kiến thức về sự biến đổi khí hậu, về khả năng của con
người trong cuộc chiến làm giảm thiểu sự biến đổi khí hậu. Nhà trường không chỉ là
nơi hình thành kiến thức, thái độ mà còn làm cho các chủ nhân tương lai có những
hành vi cụ thể đối với những hành động gây tác hại cho môi trường, cho sự biến đổi
khí hậu. Những hành vi ấy ở mức độ thấp có thể chỉ là ý thức tiết kiệm và hành vi tiết
kiệm, hành vi chống lại sự xâm hại Trái đất (như việc không sử dụng máy lạnh có chất
CFC, sử dụng phương tiện giao thông công cộng để làm giảm lượng thải CO2 vào
không khí) ở mức độ cao hơn là việc suy nghĩ, tìm kiếm kĩ thuật thay thế các chất thải
làm tăng nhiệt độ bề mặt trái đất….
Các trường phổ thông có thể thành lập các câu lạc bộ về sự biến đổi khí hậu, về
phát triển bền vững. Xây dựng các website để tuyên truyền, để chia sẻ thông tin về
biến đổi khí hậu…. Nếu như việc tuyên truyền và thực hiện giáo dục vì sự phát triển
bền vững được triển khai rộng rãi ở trường học, thì trong tương lai gần sẽ có những
công trình khoa học, những sản phẩm sáng tạo được ra đời do những học sinh, giáo
viên Việt Nam nghiên cứu thực hiện
Sự biến đổi khí hậu có qui mô toàn cầu nhưng hành động để ngăn cản sự biến
đội khí hậu ấy đòi hỏi mọi người, mọi quốc gia, mọi vùng và toàn thế giới. Khẩu hiệu
“Suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương” xem ra phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay,
khi mà cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu không còn là cùa riêng ai.
Hiện nay, đã có rất nhiều ngành khoa học cùng góp sức chống lại sự biến đổi
khí hâu trong đó các trường phổ thông là nơi có thể tuyên truyền một cách tốt nhất
những tác động của biến đổi khí hậu.
Với vai trò là một bộ môn khoa học, các giáo viên phổ thông, qua môn học của
mình, sẽ giúp cho các em học sinh hiểu được nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu
toàn cầu. Làm cho mỗi công dân tương lai nhận thức được vai trò của chính họ trong
cuộc chiến biến đổi khí hậu toàn cầu. May mắn là nhiều bài học địa lý có những nội
dung liên quan đến biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì vậy, các thầy cô giảng dạy địa lý ở
trường phổ thông sẽ làm cho mỗi học sinh hiểu rằng chính họ chứ không phải ai khác
có thể làm chậm đi sự biến đổi khí hậu toàn cầu, giữ vững cuộc sống của nhân loại –