1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG
GIÁO DỤC THẨM MỸ VÀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Người thực hiện: NGUYỄN VĂN HƯNG
TIỀN GIANG, THÁNG 03/ 2014
2
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 44 3
MỞ ĐẦU
01. Lý do chọn đề tài
Ông cha ta xưa đã đúc kết một kinh nghiệm sâu sắc về giáo dục là “
Tiên
học lễ, hậu học văn “ – một triết lý giáo dục Việt Nam đã có từ nghìn đời nay.
“Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ
năng. Ngày nay, phương châm “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề “ cũng thể hiệ
n
rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, giáo dụ
c
thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, như Bác Hồ đã dạy: “Dạy c
ũng
như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạ
ng. Đó là cái
gốc quan trọng. Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con ngườ
i bình
thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổ
n
định ”.
Tuy nhiên, việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trong nhiều thập kỷ qua còn bỏ ngõ, chưa được các
nhà trường quan tâm đúng mức, hiệu quả đạt được chưa cao. Những bất cập
trong nội dung, hình thức giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo
dục hướng nghiệp ở cấp học này vẫn là vấn đề thời sự đối với ngành giáo dục –
đào tạo, đối với các nhà trường THPT, với những người làm công tác quản lý
giáo dục, đối với nhà giáo, đối với các bậc cha mẹ học sinh và toàn xã hội.
Mặt khác, hiện nay học sinh đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong
việc lựa chọn những giá trị phù hợp với truyền thống của dân tộc, vừa đáp ứng
xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lựa chọn lối sống, hành vi
ứng xử trong cuộc sống, học tập và các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh những
học sinh có biểu hiện tư tưởng, đạo đức, lối sống tích cực, lành mạnh và hành
vi ứng xử có văn hóa chuẩn mực, lựa chọn nghề nghiệp tương lai có định
hướng và rất thực tế, vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh có những hành
vi ứng xử thiếu văn hóa, có biểu hiện vi phạm đạo đức, thậm chí vi phạm pháp
luật, gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội; còn việc chọn lựa nghề nghiệp
5
cho tương lai thì thường theo cảm tính, theo phong trào, theo mốt, theo xu
hướng thời thượng, không có cơ sở khoa học và thiếu tính thực tế.
Từ thực trạng của việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh cấp THPT trong vài thập kỷ qua, chúng tôi
nghiên cứu đề tài Giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong xu thế toàn cầu hoá và
hội nhập – thực trạng và giải pháp.
02. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống, giáo
dục thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT được đề cập nhiều ở
các bài viết đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành. Song, ở các bài viết trên,
các tác giả chỉ nêu lên những thông tin mang tính dự báo, chưa phân tích một
dục hướng nghiệp trong nhà trường.
- Các phương pháp khác như: phỏng vấn, thống kê để thu thập và xử lý số liệu.
- Phương pháp phân tích, miêu tả dùng để phân tích miêu tả thực trạng đạo
đức, lối sống, cảm nhận thẩm mỹ và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh sau tốt
nghiệp THPT.
0.5. Đóng góp của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi muốn tạo nên một cái nhìn toàn cảnh về thực
trạng bức tranh giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ và giáo dục hướng
nghiệp ở các nhà trường THPT nói chung và ở trường THPT Chuyên Tiền
Giang nói riêng. Trên cơ sở đó, mỗi nhà trường, mỗi Thầy cô giáo, một mặt (1)
nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục
thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong quá trình dạy học / giáo
dục, mặt khác, (2) Thầy cô giáo cùng với nhà trường tìm ra những biện pháp /
giải pháp thích hợp để giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất, góp phần giáo dục toàn diện
cho học sinh.
7
0.6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, đề tài được cấu
trúc thành hai chương:
Chương 1. Thực trạng về đạo đức, lối sống, thị hiếu thẩm mỹ, cảm nhận
thẩm mỹ của học sinh THPT và việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sau tốt
nghiệp THPT .
Chương 2. Các giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục thẩm mỹ,
giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong xu thế toàn cầu
hoá và hội nhập.
Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 Số lượng HS
Biểu hiện vi phạm
SL % SL % SL %
Đi học không đúng giờ
2/100
2,0 4/100 4,0 6/100 6,0
Nghỉ học không lí do (KP)
1/100
1,0 3/100 3,0 6/100 6,0
Quay cóp trong thi và kiểm tra
(*)
3/100
3,0 5/100 5,0 7/100 7,0
Sử dụng tài liệu trong thi và KT
(**)
3/100
3,0 4/100 4,0 5/100 5,0
Nói dối / thiếu trung thực
9/100
9,0 12/100
12,0 16/100
lời thầy cô và đặc biệt là có ý thức tự giác cao.
Tuy nhiên, hiện tượng vi phạm đạo đức, lối sống không phải là vắng bóng
mà từng lúc, từng nơi vẫn xảy ra những biểu hiện vi phạm đạo đức. Từ số liệu
khảo sát trên, chúng tôi thấy rằng, một điều dễ thấy là tình hình vi phạm đạo đức
của học sinh là càng học lên cao thì số lượng vi phạm đạo đức càng tăng.
(*)
Có thể bị giáo viên phát hiện / không bị phát hiện.
(**)
Có thể bị giáo viên phát hiện / không bị phát hiện.
(***)
Vi phạm có ý thức / vô thức; có thể bị phát hiện / không bị phát hiện.
9
Trong số các hành vi vi phạm thường thấy (như bảng thống kê) thì hành vi
nói dối / thiếu trung thực, hành vi ứng xử văn hoá thiếu chuẩn mực và hành vi
vô cảm là đáng quan tâm hơn cả.
Về hành vi nói dối / thiếu trung thực, lúc đầu thì các em cảm thấy vô hại, vì
nó không ảnh hưởng gì cho bản thân học sinh / người khác. Tuy nhiên, hành vi
này được duy trì thường xuyên và cứ lặp đi, lặp lại nhằm mục đích che đậy
những lỗi lầm của mình thì nó lại vô cùng tệ hại, trở thành một thói quen xấu mà
xã hội đã và đang lên án.
Về hành vi ứng xử văn hoá thiếu chuẩn mực, thường được biểu hiện ở
những hành vi sau:
- Học sinh giao tiếp với nhau xưng hô mày, tao,… trước mặt thầy cô / người lớn.
- Học sinh khi giao tiếp, ứng xử với thầy cô như giao tiếp với bạn bè, vào
lớp trễ thì ngang nhiên vào, không cần xin phép.
- Học sinh có những hành vi chưa thể hiện kính trọng những người lớn tuổi
hơn mình thậm chí bằng tuổi cha, tuổi mẹ mình.
- Học sinh thiếu lễ phép, lễ độ, thiếu sự tôn trọng thầy cô, coi thường việc
học; thậm chí có trường hợp gọi thầy cô là ông nọ, bà kia bằng các đại từ khẩu
trình đó, chúng ta cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, hình thành ở các
em tình cảm, thị hiếu, lí tưởng thẩm mỹ đúng đắn, phù hợp với những giá trị
truyền thống của dân tộc, thúc đẩy học sinh vươn tới cái đẹp và hành động theo
quy luật cái đẹp. Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác giáo dục thẩm mỹ,
giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho học sinh còn nhiều hạn chế. Điều này dẫn đến
một hệ quả là học sinh có những biểu hiện lệch lạc trong thị hiếu thẩm mỹ và
cảm thụ thẩm mỹ.
Chẳng hạn, học sinh khi đứng trước những loại văn hóa phẩm độc hại, đồi
truỵ, thậm chí phản động, nhiều em đã không tạo cho mình khả năng tự phòng
ngừa, "miễn dịch" có hiệu quả. Ngược lại, các em tiếp thu một cách không chọn
11
lọc, thậm chí còn ca ngợi nó, cổ xuý nó. Một số học sinh chạy theo thị hiếu thấp
hèn, lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ, xem thường những giá trị văn hoá của
dân tộc, có quan niệm không đúng về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài.
Qua khảo sát 150 học sinh thuộc ba khối lớp (lớp 10, lớp 11 và lớp 12, năm
học 2013 - 2014, mỗi khối lớp 50 học sinh) về thị hiếu thẩm mỹ, cảm thụ thẩm
mỹ, đánh giá và sáng tạo theo quy luật cái đẹp, được biểu hiện qua bảng sau:
Mức độ nhận thức
và cảm thụ thẩm mỹ
Mức độ đánh giá
thẩm mỹ
Mức độ sáng tạo
thẩm mỹ
Cao
Trung
bình
bạn bè, theo phong
trào và ước muốn
của cha mẹ
Trên cơ sở khoa
học và thực tiễn
Tiêu chí
lựa chọn Đối tượng và
số lượng khảo sát
SL % SL % SL %
242 học sinh lớp
12, năm học
2013-2014
92
38,1
64
26,4
86 35,5
trong thực hiện mục tiêu của Ngành là: “Nâng cao dân trí - Đào tạo nguồn nhân
lực - Bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước.
13
Song bên cạnh những tác động tích cực, những tác động xấu từ môi trường
xã hội của thời kỳ “mở cửa, hội nhập”, sự phát triển của công nghệ thông tin đã
tạo nên “thế giới phẳng” đã làm cho những “tư tưởng văn hoá xấu, ngoại lai,
đồi truỵ, phản động” có cơ hội lan nhanh đến với giới trẻ. Phim ảnh, trò chơi
bạo lực / phim ảnh bạo lực xuất hiện nhan nhản trên mạng Internet và một số
kênh truyền hình.
Một tác động tiêu cực khác của cơ chế thị trường là sự lên ngôi của đồng
tiền đã xâm nhập sâu vào mọi ngõ ngách của cuộc sống hàng ngày, tạo nên căn
bệnh chết người – căn bệnh vô cảm ở giới trẻ nói chung và ở học sinh nói riêng.
Đâu đó còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng,
thích chạy theo lối sống thực dụng.
Những hành động phạm pháp của “người lớn” đã tác động xấu trực tiếp
đến học sinh. Các tệ nạn xã hội có nơi, có lúc đã xâm nhập vào trong trường
học; tình trạng một số học sinh lún sâu vào tệ nạn xã hội, thậm chí đánh thầy,
gây án, giết người, cướp của… số này tuy không phổ biến nhưng có xu hướng
gia tăng, làm băng hoại đạo đức, tha hoá nhân cách; gây nỗi đau cho các bậc cha
mẹ và cho toàn xã hội. Tất cả đã tác động xấu tới các giá trị đạo đức truyền
thống, ảnh hưởng không nhỏ trực tiếp đến công tác giáo dục đạo đức, lối sống
học sinh trong nhà trường, đến an ninh trật tự an toàn xã hội.
Mặc dù nhà trường thường xuyên giáo dục cho các em về tính trung thực,
lòng bác ái, vị tha và phải biết vươn lên bằng chính đôi chân của mình. Nhưng
trong thực tế, các em lại tận mắt chứng kiến quá nhiều người lớn không trung
thực nhưng vẫn "thành đạt"? Tệ nạn sử dụng bằng giả hay mua bằng, gian dối
trong báo cáo thành tích (bệnh thành tích), sự thiếu nghiêm minh của pháp luật
tác động đến các em hàng ngày làm cho các em thiếu niềm tin với những điều
tốt đẹp đã học được trong nhà trường.
động đến việc hình thành nhân cách học sinh. Những bài học ý nghĩa, gần gũi
với đời sống không được chú trọng mà thay bằng những bài học quá trừu tượng,
15
khô cứng; không dạy cho học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người
(dạy học sinh làm người) mà đưa vào đó quá nhiều kiến thức triết học, kinh tế
chính trị học mang tính hàn lâm, thiếu vắng việc rèn luyện và hình thành những
thói quen đạo đức và kỹ năng sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội.
1.3.1.3. Về phía nhà trường
Trong nhà trường, tính cưỡng chế, áp đặt của giáo dục quá nhiều. Chúng ta
hướng đến giáo dục con người có tư duy độc lập nhưng thầy lại muốn học trò
theo. Nếu học trò nói và làm chệch ra ngoài ý thầy thì sẽ bị phê bình.
Mặt khác, như đã nói trên, cả xã hội đang chạy theo bằng cấp, thành tích và
lao vào cuộc đua mà quên mất những điều đơn giản nhất của đạo đức truyền
thống như biết thưa gửi, cám ơn, chào hỏi…, đặc biệt là việc dạy và hình thành
“tư đức” (đạo đức cá nhân để các em hình thành được bản lĩnh, tính tự chủ trong
cuộc sống sau này) cho học sinh bị bỏ quên. Thầy cô dạy những điều quá lớn lao
mà quên đi những điều nhỏ nhất. Đó là dạy cho học sinh về nhân cách.
Nhà trường hiện nay cũng đang đi theo chiều hướng nhồi nhét kiến thức, đề
cao việc “đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh
tế”. Việc giáo dục đạo đức, giáo dục ý thức công dân cho người học sinh gần
như bị bỏ quên hoặc bị xem là thứ yếu. Trong khi đó, vai trò của trường học đâu
chỉ bó hẹp trong việc “dạy chữ”, “dạy nghề” mà còn phải truyền tải cho người
học những giá trị, chuẩn mực của xã hội để họ trở thành những con người toàn
diện, biết sống vì mọi người và biết tôn trọng người khác.
Chính vì chỉ quan tâm đến việc nhồi nhét kiến thức nên trường học chỉ có
thể đào tạo ra những con người đầy tri thức, thông thạo các kỹ năng mang tính
công cụ nhưng không phải là những người trí thức thật sự. Vì không phải là
người trí thức nên những “sản phẩm giáo dục” ấy rất “hồn nhiên” gây tổn hại
đến người khác và vi phạm pháp luật.
giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm,
của giáo viên giảng day môn Giáo dục công dân, của các đoàn thể nhà trường,
17
còn họ là “những người ngoài cuộc”. Từ quan niệm trên, cho nên, giáo viên khi
lên lớp, đơn thuần chỉ truyền thụ kiến thức cho học sinh mà không hề quan tâm
đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua môn dạy / tiết dạy /
bài dạy. Việc lồng ghép chủ đề tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh
dường như ít khi được giáo viên thực hiện.
Mặt khác, việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm
trong công tác giáo dục học sinh chưa được thực hiện một cách thường xuyên.
1.3.1.5. Về phía cha mẹ học sinh
Một bộ phận cha mẹ học sinh sống không gương mẫu, buông lỏng giáo
dục, phó mặc cho xã hội, cho nhà trường với quan niệm “trăm sự nhờ thầy”; có
những bậc cha mẹ lại quá nuông chiều con cái theo kiểu “muốn gì được nấy”.
Phần lớn gia đình chỉ suy nghĩ một cách giản đơn là có tiền cho con đi học và
chỉ quan tâm đến một việc duy nhất là con mình học giỏi là được, chứ không
quan tâm đến những hành vi đạo đức, hành vi ứng xử, lối sống của con cái.
Để cho đạo đức, nhân cách, lối sống của học sinh xuống cấp nghiêm trọng
như hiện nay cũng là hệ quả của một phần trách nhiệm của gia đình, quá trình
giáo dục lâu dài trong nhà trường (trong đó có một phần trách nhiệm của gia
đình học sinh).
1.3.1.6. Về phía bản thân học sinh
Một bộ phận không nhỏ học sinh hiện nay thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sống
thiếu ý thức, sống buông thả, bon chen, đua đòi. Đặc biệt là các em lạm dụng tự
do để làm những chuyện phi đạo đức. Và các em đã hiểu sai cái tự do đó, tự do
không phải là làm những gì mình thích, tự do phải là một giá trị để đảm bảo
hạnh phúc cho mình và cho người khác. Nói như Jean Cocteau: “Cái thảm kịch
của giới trẻ, chính là giới trẻ bị đặt vào tình trạng không thể không vâng lời vì
sự tự do quá đáng”.
19
Tuy nhiên, sự thiếu chín chắn và non nớt trong nhận thức khiến lứa tuổi
học sinh trung học phổ thông có chiều hướng “đánh giá thấp cái tích cực, tập
trung phê phán cái tiêu cực; hoặc là đánh giá quá cao nhân cách của mình, tỏ
ra tự cao, coi thường người khác”. Thêm vào đó, sự tương tác giữa nhận thức
thiếu chín chắn, tâm lý chưa phát triển hoàn thiện và sự lôi cuốn của các phương
tiện truyền thông mà chủ yếu là sự tác động tiêu cực của các loại hình giải trí
bạo lực như game online, internet với những website thiếu lành mạnh. Sự lan tỏa
của những tác động đó đã mang đến những hệ quả không nhỏ trong xu hướng
phát triển chung của nhân cách, năng lực cảm thụ thẩm mỹ của lứa tuổi trung
học phổ thông. Do đó, năng lực thẩm mỹ của một bộ phận học sinh có sự thiên
lệch theo hướng tiêu cực với những biểu hiện:
Thứ nhất, các em tiếp nhận nghệ thuật một cách lệch lạc, chắp vá, thiếu cân
nhắc, lựa chọn, chạy theo những thị hiếu thẩm mỹ tầm thường, không lành
mạnh. Hầu hết, những hình thức, loại hình nghệ thuật được các em tiếp nhận chủ
yếu thông qua công cụ internet và không ít học sinh ở lứa tuổi này khai thác
những thông tin không đúng, tiêu cực đi trái lại những nội dung, quan điểm,
mục đích giáo dục mà chúng ta đang hướng đến. Cho nên, khi thị hiếu của các
em được hình thành không được phát triển toàn diện, đi vượt ra khỏi quỹ đạo
phát triển chung của xã hội.
Thứ hai, sự yếu kém về năng lực và trình độ để cảm nhận giá trị thẩm mỹ
của các tác phẩm, công trình thẩm mỹ mà sự cảm nhận chủ yếu xuất phát từ yếu
tố trực quan của bản thân học sinh. Dưới tác động và sức lôi cuốn của trí tò mò,
óc khám phá của học sinh, các trò chơi trên internet, các hình thức giải trí nhanh
đã khiến học sinh ít có điều kiện và càng không quan tâm đến những vấn đề
xung quanh. Các em chỉ nặng và thích những vấn đề liên quan đến việc khẳng
định bản thân mình đã lớn như chơi game hành động, nghe hay thưởng thức các
tác phẩm âm nhạc của người lớn mà ít chú trọng đến các phương diện khác của
20
Các hoạt động ngoại khoá (chủ yếu là các hoạt động Văn Thể Mỹ) được
tiến hành theo thời vụ và ngày càng xa dần mục tiêu giáo dục thẩm mỹ, chưa
chú ý nhiều đến năng lực cảm thụ thẩm mỹ và sáng tạo thẩm mỹ của học sinh.
1.3.3. Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong công tác hướng nghiệp ở
trường THPT
Theo tôi, sự yếu kém trong công tác hướng nghiệp ở nhà trường THPT xuất
phát từ những nguyên nhân sau:
Trước hết là do việc định hướng nghề nghiệp cho các em ở các nhà trường
phổ thông là chưa tốt, thậm chí là yếu kém. Việc phân luồng học sinh ở cuối cấp
THCS chưa được thực hiện một cách khoa học và có tính liên thông với cấp
THPT.
Bản thân giáo viên (giáo viên chủ nhiệm lớp, cả giáo viên giảng dạy bộ
môn văn hoá – khoa học) chưa thực hiện được chủ đề tích hợp hướng nghiệp
trong giảng dạy và giáo dục. Bản thân các em không thể hình dung ra nghề
nghiệp sau này của mình như thế nào. Vì thế, việc lựa chọn trường và nghề
nghiệp của các em thì rất cảm tính. Đa phần các em vào đại học là lựa chọn đầu
tiên. Nhiều em năng lực có hạn mà vẫn cố cho bằng được để vào đại học. Điều
này gây ra sự lãng phí, cả về tiền của, công sức và thời gian.
Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là sức ép từ phía cha mẹ và
bệnh sính bằng cấp tạo nên. Có nhiều cha mẹ học sinh ép buộc con em mình
phải vào đại học cho bằng được mà không cần biết đến năng lực, sở thích / hứng
thú và cả nhu cầu xã hội về nghề nghiệp đó.
Một phần trách nhiệm nữa là thuộc về phía các trường đại học, cao đẳng và
dạy nghề là chưa làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT. Trong
những buổi tư vấn tuyển sinh, các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề chủ yếu là
quảng bá trường / ngành nghề mà trường mình đang đào tạo để cho học sinh thi
vào (càng đông, càng tốt) mà chẳng giúp cho học sinh có một cái nhìn về một
22
CHƯƠNG 2.
CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG,
GIÁO DỤC THẨM MỸ, GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP
2.1. Giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh THPT
2.1.1. Đối với ngành Giáo dục – Đào tạo
Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, Bộ Giáo dục và
Đào tạo cần có (i) một cuộc tổng rà soát lại nội dung chương trình học tập của
cấp THPT, để từ đó cân đối giữa việc dạy kiến thức và dạy ý thức công dân cho
con em trước khi chúng bước qua tuổi 18; (ii) thay đổi nội dung chương trình và
phương pháp dạy và học môn Giáo dục công dân cho phù hợp và thiết thực; (iii)
khắc phục và triệt tiêu căn bệnh thành tích, bệnh sính bằng cấp trong giáo dục –
đào tạo; (iv) đổi mới hình thức và nội dung thi cử, nội dung chương trình các
môn học; (v) khắc phục có hiệu quả việc dạy thêm, học thêm tràn lan như hiện
nay; đặc biệt là (vi) đổi mới phương pháp giảng dạy – giáo dục, phát huy được
tính năng động tích cực của học sinh; tăng cường dự án dạy học theo chủ đề tích
hợp.
Mặt khác, Bộ cần có chủ trương nhất quán trong việc đưa các chuyên đề về
“Tấm gương tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” và các chuyên đề
về giáo dục pháp luật vào nộị dung sinh hoạt ngoài giờ lên lớp cho học sinh
hoặc tích hợp trong giảng dạy của giáo viên. Có thể nói, đây là những chuyên đề
khá thú vị và hết sức quan trọng, có tác dụng góp phần “chữa trị” căn bệnh
xuống cấp về đạo đức, lối sống của học sinh hiện nay.
2.1.2. Đối với các nhà trường
Tăng cường công tác chỉ đạo của Chi bộ Đảng, Ban lãnh đạo nhà trường
trong việc quản lý, giáo dục đạo đức học sinh; triển khai kịp thời sâu rộng mọi
Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng
thông qua các buổi chào cờ hay các buổi sinh hoạt chủ điểm nhân ngày lễ kỷ
niềm vui, nỗi buồn, giúp đỡ các em vượt qua khó khăn, dành thời gian để tâm sự
25
và cho các em những lời khuyên bảo chân tình; tạo được niềm tin và động lực
cho học sinh phấn đấu để hoàn thiện bản thân. Hình ảnh người thầy ảnh hưởng
không nhỏ đến học sinh, chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm không những cần
năng lực chuyên môn, mà còn đòi hỏi phải thật sự là tấm gương sáng về tác
phong, tư cách đạo đức; chuẩn mực trong trang phục, lời nói, cách ứng xử…
như vậy lời nói của giáo viên chủ nhiệm mới có trọng lượng với học sinh.
2.1.3.2. Đối với giáo viên giảng dạy các bộ môn văn hoá – khoa học
Mỗi một giáo viên bộ môn, hãy phấn đấu dạy tốt môn học của mình, chú ý
đến mọi đối tượng học sinh, giúp đỡ các em tiếp thu tốt nhất kiến thức mình
truyền đạt. Tích cực nâng cao chất lượng giờ dạy, chú trọng yêu cầu tích hợp nội
dung giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trong môn học / bài học / giờ học.
Trong đó, giáo viên dạy các môn Khoa học xã hội và nhân văn như: Ngữ văn,
Lịch sử, Điạ lý, Sinh học và đặc biệt là môn Giáo dục công dân có vị trí quan
trọng đối với việc trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về phẩm chất,
đạo đức về quyền và nghĩa vụ công dân sẽ giúp học sinh có thái độ tích cực và
thực hiện những hành vi phù hợp chuẩn mực đạo đức .
2.1.4. Đối với cha mẹ học sinh
Gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách
con người. Gia đình là ngôi trường đầu tiên của con người, từ đó những đứa trẻ
học được nhân cách làm người. Vì thế, muốn cho con cái trở nên tốt, gia đình
phải là nơi mọi người sống yêu thương, nâng đỡ và đùm bọc lẫn nhau. Các thế
hệ cùng chung sống phải biết quan tâm tới nhau, thì con cái sẽ có nền tảng đạo
đức tốt. Hay nói cách khác, giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ rập theo nếp sống
của cha ông chúng. Đồng thời, gia đình phải sống hạnh phúc, nơi đó cha mẹ và
con cái sống hài hoà với nhau, người trẻ sẽ cảm nhận được những giá trị cao đẹp
như: hạnh phúc, lắng nghe, yêu thương, tha thứ, nâng đỡ và chấp nhận những
khác biệt của nhau.