GV: Đỗ Thị Lê
1
MẤY VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN SÂU Ở CÁC LỚP CHUYÊN VĂN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
1.Mở đầu
1.1.Lí do chọn đề tài
Quán triệt tinh thần đổi mới phương pháp dạy học đã ghi trong chương trình
Ngữ văn trung học phổ thông (THPT), khắc phục lối dạy học thầy đọc - trò chép,
phát huy tính tích cực chủ động của người học, hình thành và rèn luyện cho HS
năng lực đọc hiểu văn bản văn học, tháng 05/2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành chương trình dạy học chuyên sâu các môn chuyên ở các trường THPT
Chuyên trên phạm vi toàn quốc, với mục tiêu thống nhất chương trình dạy học các
môn chuyên và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THPT trong cả nước. Theo
hướng dẫn đó, tổng số tiết được quy định trong chương trình dạy học mỗi môn
chuyên là 150% của chương trình nâng cao, trong đó 50% dành cho nội dung
chuyên sâu được xây dựng dưới dạng các chuyên đề cụ thể dành cho từng khối lớp.
Trên cơ sở đó, thời lượng dạy học dành cho đối tượng HS chuyên văn là 150 % so
với HS học theo Chương trình Nâng cao: mỗi tuần tăng thêm là 2 tiết; mỗi học kì
học 35 tiết chuyên đề, tổng cả năm là 70 tiết. Thời lượng dạy học mỗi chuyên đề
đã được quy định cụ thể trong Chương trình dạy học chuyên sâu môn Ngữ văn.
Với thời lượng trên, các chuyên đề này tập trung nhiều cho hai phần Văn học và
Làm văn. Chuyên đề tiếng Việt chủ yếu theo hướng vận dụng, thực hành, không
nêu thêm lí thuyết. Giáo viên (GV) nên sắp xếp chuyên đề có nội dung tương ứng
với nội dung của sách giáo khoa (SGK) để thuận tiện trong việc dạy học các nội
dung chuyên sâu.
Thực tế, nội dung chương trình dạy học và cách tiếp cận các chuyên đề
chuyên sâu ở các lớp Chuyên Văn đã có nhiều sự thay đổi trong những năm qua.
Gắn liền sự thay đổi đó, phương pháp dạy của GV và phương pháp học của học
GV: Đỗ Thị Lê
3
Nội dung dạy học chuyên sâu môn Ngữ văn cho trường THPT chuyên được
xây dựng trên các căn cứ cơ bản sau đây:
- Mục tiêu đào tạo và quy chế của trường chuyên đã ban hành;
- Nội dung chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Nâng cao;
- Văn bản Hướng dẫn nội dung dạy học các môn chuyên - trường THPT
chuyên ( năm 2001) của Bộ GD&ĐT;
- Đặc trưng của đối tượng học sinh chuyên văn.
Ngoài các nội dung đã học theo Chương trình và Sách Ngữ văn Nâng cao,
các chuyên đề chuyên sâu ở đây được xác định như là các chuyên đề nâng cao của
Chương trình nâng cao. Từ yêu cầu Chuẩn kiến thức của chương trình và sách
giáo khoa Ngữ văn Nâng cao (đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành) xây dựng thêm một số nội dung chuyên sâu nhằm đáp ứng những yêu cầu và
đòi hỏi của đối tượng học sinh giỏi với thời lượng 2tiết/ tuần.
So với văn bản Hướng dẫn nội dung dạy học các môn chuyên - trường
THPT chuyên (gọi tắt là văn bản 2001) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, văn bản này
có một số điểm điều chỉnh và kế thừa sau đây:
- Không phân phối cụ thể chi tiết đến từng tuần học mà chỉ nêu nội dung,
yêu cầu cần đạt và thời lượng của các chuyên đề chuyên sâu. Văn bản 2001 chỉ nêu
tên các nội dung dạy học, ghép nội dung học hàng ngày với nội dung nâng cao và
phân phối theo thời lượng 6 tiết /tuần.
- GV dạy các lớp chuyên văn thực hiện đúng phân phối chương trình Ngữ
văn Nâng cao dành cho học sinh ban KHXH-NV (4 tiết/ tuần), sau đó dành các
buổi dạy riêng theo các chuyên đề trong văn bản này cho đủ 2 tiết /tuần.
- Tiếp thu một số nội dung và định hướng ghi trong mục các Chuyên đề hội
thảo (trang 73 văn bản 2001) nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với Chương trình
và SGK Ngữ văn Nâng cao.
GV: Đỗ Thị Lê
Các chuyên đề tiếng Việt, lí luận văn học, làm văn chủ yếu là chuyên đề
nâng cao nhận thức và phương pháp, thực hiện chủ yếu bằng hoạt động thực hành,
phục vụ cho yêu cầu nâng cao kĩ năng đọc văn và làm văn. Cụ thể là, chuyên đề
Nghĩa hàm ẩn có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc đọc hiểu văn học, bởi vì văn
học, về cơ bản là vận dụng ý nghĩa hàm ẩn của ngôn từ. Chuyên đề Đọc hiểu văn
bản văn học và chuyên đề Đọc thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, không phải lặp
lại giản đơn các bài tương ứng trong SGK Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11 nâng cao,
mà có sự mở rộng, đào sâu về nội dung và chi tiết, có ý nghĩa thiết thực trong việc
giúp nâng cao năng lực đọc-hiểu sáng tạo của học sinh. Các chuyên đề làm văn đề
cập tới vấn đề then chốt nhất của văn nghị luận.
Các chuyên đề văn học Việt Nam giúp học sinh đi sâu vào một số phương
diện cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1945. Trong các
nội dung ấy có một chuyên đề khắc sâu nội dung công cuộc hiện đại hoá văn học,
nội dung tính hiện đại của văn học, hiện đại hoá văn học là đổi mới quan niệm văn
học, bao gồm tính thẩm mĩ, tính cá thể, tính độc lập tự chủ, tính dân chủ ; một
chuyên đề phân tích nội dung yêu nước phong phú của thời kì văn học này, trong
đó nội dung yêu nước cách mạng có vị trí chủ đạo; một chuyên đề hệ thống hoá và
nâng cao về thành tựu thơ Mới, một chuyên đề đi sâu vào hướng tìm tòi thơ tượng
trưng, siêu thực; một chuyên đề nâng cao về các thành tựu tiểu thuyết.
- Nội dung dạy học môn Ngữ văn lớp 12 dành cho các trường THPT chuyên
ngoài nội dung được ghi trong chương trình Nâng cao môn Ngữ văn, còn có thêm
nội dung chuyên sâu (70 tiết) được xây dựng dưới dạng các chuyên đề. Số tiết tối
đa dành cho một chuyên đề là 7 tiết, được phân phối như sau:
+ Tiếng Việt: 1 chuyên đề, 7 tiết.
+ Làm văn : 02 chuyên đề, 14 tiết
+ Lí luận văn học: 02 chuyên đề, 14 tiết.
+ Văn học Việt Nam: 04 chuyên đề , 28 tiết.
+ Văn học nước ngoài: 01 chuyên đề, 7 tiết.
GV: Đỗ Thị Lê
GV: Đỗ Thị Lê
7
SGK, sách tham khảo, HS với GV, tạo không khí học tập cởi mở, dân chủ, từ đó
phát huy cá tính của mỗi HS.
- Đổi mới cách dạy theo hướng đọc hiểu tác phẩm văn học của nhà văn,
không bằng lòng với việc phân tích đã có, mà bám sát văn bản, khai thác các
phương thức biểu đạt của văn bản, vận dụng ngữ cảnh và tính sáng tạo của HS để
tìm ra ý mới.
- Kết hợp nhuần nhuyễn đọc văn và viết văn, học cách diễn đạt chính xác, có
lập luận vững chắc, có mức độ, có văn.
- Chú trọng nêu các vấn đề cho HS suy nghĩ, thảo luận.
- Hướng dẫn các đề tài nghiên cứu nhỏ, tận dụng các bài tập nâng cao (bài
tập nghiên cứu) trong SGK nâng cao, đồng thời bổ sung thêm các bài tập khác.
Vận dụng tốt sách Bài tập ngữ văn nâng cao.
- Đọc sách tham khảo có chọn lọc, không đọc tràn lan, dành thì giờ để tự
nghiên cứu.
- Hướng dẫn sưu tầm tư liệu, cắt dán tư liệu trên báo chí, trao đổi tư liệu,
hợp tác trong học tập. Phân biệt tư liệu văn học sử (năm sinh, mất, các sự kiện của
nhà văn, thời điểm sáng tác, hoàn cảnh sáng tác ) với tư liệu lí luận (chú trọng vận
dụng tri thức đọc hiểu trong SGK Nâng cao), hướng dẫn tra từ điển văn học, từ
điển danh nhân, từ điển thuật ngữ văn học, từ điển tiếng Việt.
- Hướng dẫn HS ghi nhật kí đọc văn, viết các ý kiến nhỏ nhằm trình bày ý
riêng hoặc tranh luận, viết bài cho Văn học và tuổi trẻ để cùng thảo luận.
- Khuyến khích đọc báo chuyên ngành có chọn lọc.
Căn cứ vào mục tiêu dạy học các chuyên đề chuyên sâu ở các lớp chuyên
Văn trường THPT Chuyên, chúng tôi thấy rằng, về cơ bản, các chuyên đề nhằm
hướng dẫn HS đọc, tìm hiểu, nghiên cứu ở nhà. Nội dung kiến thức và kĩ năng tập
trung vào một vấn đề nào đó nâng cao, tương đối hoàn chỉnh, trọn vẹn nên dung
lượng bài học khá lớn. Do vậy, hình thức dạy học này là yêu cầu tính tự giác học
của kiến thức. Kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy của
GV được xem như một nguồn tài liệu sẵn sàng cho HS khai thác, tiếp nhận một
GV: Đỗ Thị Lê
9
cách tự giác. GV cho HS biết lĩnh vực nào họ có khả năng nhất và những điều họ
có thể giúp HS. Tuy GV là “một nguồn tài liệu” đặc biệt, nhưng việc sử dụng tài
liệu đó đến mức độ nào là do khả năng, trình độ khai thác của HS. Carl Rogers cho
rằng: “Nếu nhà giáo chỉ dùng một khoảng thời gian bằng thời gian được dùng để
soạn bài thanh toán chương trình, giảng bài, và thi cử hiện nay để cung cấp vô số
những tài liệu học tập cho học sinh thì nhà giáo đã đem lại cho học sinh một hoàn
cảnh học tập mới, mà học sinh có thể chọn được những yếu tố đáp ứng nhu cầu
của học sinh một cách thỏa đáng nhất” [1; tr 82].
Khoa học là một lĩnh vực luôn vận động, biến đổi, chứ không phải là một
cuốn sách đóng kín ghi nhận những vấn đề, sự kiện đã được khám phá. Khoa học
là một sự tìm kiếm không cùng, và không có sự đóng kín trong bất cứ ngành khoa
học nào. Cho nên GV cần phải giúp HS thoát khỏi quan niệm xem khoa học là
tuyệt đối, đầy đủ và bất biến. HS cũng có thể tự trở thành người tìm kiếm, khám
phá khoa học ở một mức độ đơn giản, hay đi tìm câu trả lời cho những vấn đề cụ
thể và thiết thực,
Trong quá trình dạy học, GV cần quan tâm nhiều đến việc tạo ra một bầu
không khí thẩm mĩ cho lớp học; đồng thời nhạy cảm trước những thái độ và tình
cảm của người học trước từng vấn đề văn học. Trên cơ sở đó có sự chia sẻ, đồng
cảm với HS cả về tư tưởng cũng như tình cảm
Có thể nói, quá trình dạy học đòi hỏi phải đảm bảo tinh thần dân chủ khi đối
thoại, trao đổi, thảo luận, trong đó GV và từng HS phải có sự tôn trọng, hợp tác
chặt chẽ. Mỗi người đều phải ý thức sâu sắc về vai trò của chính mình trong quá
trình dạy học. Họ đều có thể đóng góp cho nội dung học với tinh thần trách nhiệm
trước một vấn đề khoa học. GV không nên tự ti, hay từ bỏ những suy nghĩ, kế
hoạch của mình về nội dung dạy học, mà nên sẵn sàng trao đổi với những GV khác
- Những tài liệu GV đề cập đến đến trong bài giảng, hoặc được điểm qua
trong các chuyên đề chuyên sâu.
- Những tác phẩm tiêu biểu của các tác gia tương ứng với từng giai đoạn.
GV: Đỗ Thị Lê
11
- Những tác phẩm “có vấn đề”, hoặc đang được giới phê bình nói riêng và
độc giả nói chung trao đổi, tranh luận trên văn đàn.
Đọc tài liệu nói chung và văn bản tác phẩm văn chương nói riêng phải được
HS thực hiện bắt đầu từ đầu cấp học. Việc định hướng này cần phải được chú trọng
đặt ra trong kế hoạch sinh hoạt đầu khóa của lớp và thực hiện điều này một cách
nghiêm túc.
Còn đọc như thế nào? Chúng tôi cho rằng GV cần hướng HS vào mục đích
cụ thể như:
- Nắm bắt cốt truyện và các nét cơ bản về giá trị nội dung, cũng như nghệ
thuật của tác phẩm.
- Trào lưu, khuynh hướng của tác phẩm.
- Suy ngẫm, chuẩn bị cho việc thuyết trình, thảo luận trên lớp về một vấn đề
nào đó trong tác phẩm, hoặc về một tác phẩm cụ thể.
Thứ hai, giới thiệu và hướng dẫn HS cách đọc các tài liệu học tập đã chọn
lọc theo từng vấn đề trong nội dung giảng dạy. Việc giới thiệu tài liệu tham khảo,
hướng dẫn HS đọc từng chương, mục cụ thể và các loại tài liệu khác nhau trước
cùng một vấn đề sẽ góp phần giúp HS có thêm thời gian trong quá trình tự học.
Trường hợp một đầu sách ở thư viện chỉ có vài cuốn, trong khi nhu cầu đọc và
mượn của HS lại nhiều, GV nên hướng dẫn HS tìm đọc một tài liệu khác có nội
dung tương đương… Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, nguồn tài liệu và sách
tham khảo quá nhiều gây nên tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, GV cần hướng dẫn
HS đọc thêm một số tài liệu, sách báo cần thiết. Chẳng hạn, để chuẩn bị dạy
chuyên đề 2,3,4 phần Văn học dân gian lớp 10 (xem phụ lục), sau khi giới thiệu
nội dung, mục tiêu cần đạt, phương pháp tiến hành, chúng tôi giới thiệu một số tài
10) Thơ mới 1932 - 1945, tác gia và tác phẩm, NXB Hội nhà văn, 1999.
GV: Đỗ Thị Lê
13
11) Thơ mới 50 năm nhìn lại, NXB GD, 1992
Tương tự như thế ở chuyên đề lí luận chuyên sâu, HS phải đọc các tài liệu:
1) Phương Lựu (chủ biên), Giáo trình lí luận văn học, chương Tiếp nhận văn học,
NXB GD, HN, 1998.
2) Trần Đình Sử chủ biên, Lí luận văn học, tập hai, dùng cho sinh viên cao đẳng sư
phạm, NXB ĐHSP, 2003
Từ cách giới thiệu và hướng dẫn cho HS cách đọc các tài liệu học tập đã
chọn lọc theo từng vấn đề trong nội dung giảng dạy, GV sẽ gián tiếp giúp HS tiếp
nhận kiến thức trong sự so sánh đối chiếu, tự rút ra nhận xét qua các tài liệu tham
khảo và mặt khác, tạo thuận lợi cho HS tích luỹ được vốn kiến thức đa dạng hơn.
Trên cơ sở đó, HS nhận thức được khoa học không khép kín mà luôn có sự gợi mở.
Trước cùng một vấn đề có thể có nhiều cách tiếp cận, khám phá khác nhau để tìm
ra chân lí. Chính điều này sẽ góp phần giúp cho HS rèn luyện thêm khả năng phân
tích tổng hợp và khái quát vấn đề, cũng như tư duy sáng tạo trong quá trình học
tập.
Thứ ba, nêu vấn đề cho HS tự nghiên cứu tài liệu tham khảo
Để HS chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức, GV cần đưa ra những
vấn đề với từng mức độ khác nhau, trên cơ sở đó giúp HS những nhận xét cụ thể
về từng vấn đề. Trước những tài liệu về một vấn đề ở từng thời kì khác nhau và
cùng thời kì, sau khi tự nghiên cứu, HS có thể có được một số nhận xét về cách
nhìn, cách đánh giá của các nhà nghiên cứu, để rồi họ tự lựa chọn tích luỹ cho
mình những kiến thức tốt nhất. Những kiến thức đó sẽ đọng lại lâu bền trong nhận
thức của họ.
Mặt khác, trong quá trình tự nghiên cứu tài liệu, HS vừa tích lũy, học hỏi
thêm một số kiến thức, vừa có thể nhận ra những nội dung mà họ cần xem xét lại
về tính chính xác, tính cập nhật, cũng như sự sai lệch giữa các tài liệu Hơn thế
đề HS đề xuất).
Nghiên cứu tài liệu và chuẩn bị
kĩ các vấn đề sẽ thảo luận.
Bước 2
Chủ trì thảo luận. Trình bày quan niệm của mình
trước vấn đề được đặt ra.
Bước 3 Hướng dẫn thảo luận, phát huy
tính chủ động của HS.
Thảo luận, tranh luận về vấn đề
được đặt ra với bạn đồng học
và với GV để làm rõ vấn đề.
GV: Đỗ Thị Lê
15
Bước 4
Đánh giá ưu điểm, hạn chế về sự
chuẩn bị; nội dung và phương
pháp trình bày của HS; chỉ ra
vấn đề cần tiếp tục suy nghĩ.
Đề xuất những băn khoăn cần
được lí giải.
Chúng tôi cho rằng, qua thảo luận, HS không chỉ tiếp nhận được kiến thức
từ bạn học và GV, mà điều quan trọng hơn đó là quá trình HS tự nhận thức, tìm tòi,
sáng tạo; đồng thời có điều kiện rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng diễn đạt. Bên
cạnh đó, GV có thể đánh giá được trình độ nhận thức của HS và những kiến thức
cần định hướng, bổ khuyết cho họ.
Trong thảo luận, GV cần khuyến khích HS đối thoại: đối thoại với bạn, với
GV và với chính mình để tìm chân lí. Từ xa xưa Socrate đã tìm kiếm, phát hiện
chân lí bằng “Vấn đáp pháp”. Phương pháp này nhằm tạo cho người học tự ý thức
trước một vấn đề. Hệ thống những câu hỏi Socrate đưa ra với mục đích“khiêu
giản đơn không dễ khiến cho nội dung bài giảng trở nên rời rạc, nhạt nhẽo; thậm
chí có thể nhận ra đó là một trong những biểu hiện về trình độ non kém, hoặc thiếu
chu đáo của GV trong quá trình chuẩn bị bài giảng.
Những câu hỏi được sử dụng trong giờ dạy học các chuyên đề chuyên sâu ở
lớp Chuyên rất đa dạng. Có câu hỏi được GV chuẩn bị trước với các phương án
khác nhau mà HS có thể trả lời; đồng thời, cũng có những câu hỏi bất chợt xuất
hiện khi GV lí giải một vấn đề nào đó, hay từ một vấn đề HS đặt ra trong quá trình
tiếp nhận tri thức mới. Cần nhận thấy, không phải câu hỏi nào cũng nhất thiết được
trả lời thấu đáo ngay trong giờ giảng. Thực tế, có những câu hỏi GV đặt ra phải có
thời gian để HS suy ngẫm và ngược lại, cũng có những câu hỏi của HS đòi hỏi GV
phải cân nhắc kĩ trước khi trả lời.
Đối tượng giảng dạy ở các lớp Chuyên khác với học sinh không chuyên về
trình độ tri thức và khả năng tư duy, cho nên cách hỏi, tính chất và mức độ của câu
hỏi trong giờ dạy học các chuyên đề có nhiều điểm khác nhau. Đó chính là điều
các GV cần nhận thấy để khi đặt câu hỏi tránh được việc tầm thường hoá khả năng
nhận thức của HS và giúp họ xác định rõ đang ở chặng đường nào trên hành trình
tiếp nhận, khám phá kho tàng văn chương; mặt khác, theo chúng tôi, điều đó còn
GV: Đỗ Thị Lê
17
thể hiện thái độ tôn trọng, cũng như phát huy dân chủ đối với người học trước các
vấn đề học thuật. Câu hỏi có sự đa dạng, phong phú về kiểu loại nhưng dù là kiểu
loại nào, câu hỏi vẫn phải hướng đến việc đáp ứng những mục đích sau:
- Câu hỏi phải nhằm đòi hỏi HS phải huy động những kiến thức cơ bản trong
cùng một hệ thống đã được tiếp nhận trước đó ở trường phổ thông, hay có được từ
việc đọc thêm để trả lời. Chẳng hạn, trước khi trình bày về tác gia Thạch Lam, GV
có thể đặt kiểu câu hỏi sau:
+ Anh (chị) hãy cho biết vài nét về sự nghiệp văn chương của Thạch Lam ?
+ Qua các truyện ngắn của Thạch Lam đã được học và đọc thêm trong
chương trình phổ thông, anh (chị) có cảm nhận gì ?
đề con người.” Suy nghĩ của anh, chị về ý kiến trên.
Thiết nghĩ, qua các ý kiến trình bày, hoặc bàn luận của HS và những kiến
giải của GV về các câu hỏi trong sự đối sánh, ở chừng mực nhất định sẽ tạo nên
điều kiện thuận lợi để HS củng cố kiến thức đã học, mặt khác nhận thức rõ thêm
đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn, cũng như những đóng góp của họ
trong việc làm nên sự đa dạng, phong phú cho nền văn chương dân tộc.
Cũng nhằm mục đích trên, để giúp HS hiểu thêm về sự ảnh hưởng và tác
động qua lại giữa văn học của các dân tộc, khi trình bày những yếu tố quan trọng
đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, GV có thể đặt câu hỏi như:
+ Thơ Baudelaire có ảnh hưởng như thế nào đối với thơ của Xuân Diệu, Hàn
Mặc Tử, Chế Lan Viên ?
+ Thơ Huy Cận chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ thơ Đường ở điểm nào?
+ Ảnh hưởng của văn học Pháp về đề tài, kết cấu, kiểu nhân vật mới , đối
với văn học Việt Nam thời kì 1930 - 1945 như thế nào?
Để có thể trả lời những câu hỏi trên, HS không chỉ cần nắm bắt vững vàng
kiến thức về văn học Việt Nam, mà còn phải có những hiểu biết căn bản về văn
học Pháp và văn học Trung Quốc. Do vậy, cách sử dụng câu hỏi trên có khả năng
GV: Đỗ Thị Lê
19
hạn chế bớt cách học qua loa, đại khái có tính chất đối phó của không ít HS, đồng
thời có thể phát huy được tư duy phản biện – tố chất cần thiết của HS chuyên Văn.
- Câu hỏi nhằm đánh giá được phần nào việc tự học, tự nghiên cứu của HS.
Trước những lượng thông tin lớn và xuất hiện dồn dập, đa phương, đa diện trong
cuộc sống hiện nay, GV không nên có tham vọng trình bày được tất cả mọi vấn đề
của môn học. Điều quan trọng là cần hướng HS tự học, tự nghiên cứu để trên cơ sở
những tri thức căn bản nhất đã tiếp nhận được, HS biết cập nhật hoá, bổ sung kiến
thức để tự hoàn thiện trước mắt cũng như lâu dài. Do vậy, đi đôi với việc giới thiệu
tài liệu tham khảo cần đọc cho HS, trong quá trình dạy học GV phải lưu ý đặt ra
một vài câu hỏi nhằm tác động đến nhận thức của HS về việc tự học, tự nghiên
hơn, từ đó nhu cầu sáng tạo của họ sẽ nẩy sinh
2.3. Các bước dạy học chuyên đề chuyên sâu Ngữ văn
Muốn đề ra được phương pháp thích hợp để dạy học các chuyên đề chuyên
sâu, trong quá trình dạy học, GV cần xác định rõ đối tượng, tính chất và các nội
dung dạy học chuyên đề. Thuận lợi lớn nhất khi dạy các chuyên đề chuyên sâu ở
các lớp chuyên văn trong trường THPT Chuyên là đối tượng người học tương đối
thuần nhất, cùng loại. Đó là những HS khá giỏi, cùng sở thích, nguyện vọng vì
thế người dạy dễ vận dụng một loại phương pháp nào đó tương ứng, thích hợp.
Khó khăn lớn nhất của hình thức dạy học này là yêu cầu tính tự giác học tập của
HS. Về cơ bản, các chuyên đề nhằm hướng dẫn HS đọc và nghiên cứu ở nhà. Nội
dung kiến thức và kĩ năng tập trung vào một vấn đề nào đó nâng cao, tương đối
hoàn chỉnh, trọn vẹn nên dung lượng bài học khá lớn.
Nhìn chung các phương pháp dạy học chuyên đề về cơ bản thống nhất với
các phương pháp dùng trong những giờ học chính khoá. Tuy nhiên vấn đề quan
trọng là sử dụng các phương pháp ấy như thế nào. Điểm khác cơ bản là phải căn cứ
vào đối tượng người học, đặc điểm và tính chất của các loại chuyên đề mà lựa chọn
các phương pháp một cách phù hợp. Với đối tượng đã xác định, khi dạy các
chuyên đề này, GV nên giao cho HS chuẩn bị kĩ ở nhà, sau đó chủ yếu tổ chức cho
các em trình bày, thuyết trình các nội dung đã chuẩn bị; sau đó trao đổi, thảo luận,
bổ sung, chỉnh lí và HS tự rút ra những kết luận cần thiết. Từ thực tiễn dạy học các
GV: Đỗ Thị Lê
21
chuyên đề chuyên sâu, chúng tôi nhận thấy rằng hai nhóm phương pháp thường
được vận dụng ở đây là:
- Các phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập nghiên cứu .
- Các phương pháp sưu tầm, phân loại, thu thập và tra cứu tư liệu…
Xuất phát từ đặc điểm và tính chất cơ bản của các chuyên đề, chúng tôi xin
nêu lên một số gợi ý về phương hướng dạy học các nội dung chuyên đề nâng cao
môn Ngữ văn trong trường THPT chuyên sau đây:
nhiều tiết vì thế mỗi chuyên đề cần dành một thời gian nhất định để tổng kết và
khắc sâu một số kiến thức và kĩ năng cần chú ý nhất qua hệ thống câu hỏi củng cố
hoặc sơ đồ, biểu bảng Cuối cùng là cần nêu những lưu ý, rút kinh nghiệm về
việc học tập của HS. Khuyến khích HS phát biểu ý kiến đóng góp về cách dạy,
cách học, cách kiểm tra đánh giá…
Đối với các trường Chuyên do điều kiện thiết bị dạy học và cơ sở vật chất
khá đầy đủ, GV cần tổ chức và hướng dẫn HS sử dụng máy tính, ứng dụng công
nghệ thông tin vào việc thu thập tư liệu trên mạng Internet, theo dõi các cuộc tranh
luận văn học, những vấn đề thời sự văn học GV cũng cần biết sử dụng máy tính
vào việc trình bày bài giảng bằng các phần mềm thông dụng (như Powerpoint),
biết khai thác kho tư liệu văn học vô cùng phong phú trên mạng bằng các công cụ
tìm kiếm như Google.com hoặc Vinaseek.com
2.4. Về đánh giá kết quả học tập của học sinh
Sau khi học hết một hay một nhóm chuyên đề cần phải có hình thức kiểm tra
đánh giá. Nhìn chung, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả dạy học chuyên đề cũng
không có gì khác so với các hình thức của nội dung chính khóa. Tức là cũng có
những hình thức kiểm tra như sau :
- Kiểm tra bằng bài viết.
- Kiểm tra miệng.
- Chấm bài tập nghiên cứu và sổ tay ghi chép việc học ở nhà.
GV: Đỗ Thị Lê
23
Cần suy nghĩ để đổi mới không chỉ cách thức kiểm tra đánh giá mà cả nội
dung kiểm tra để có thể hạn chế được tính chủ quan, cảm tính của người đánh giá.
Cần phải nhận thức rằng nội dung và hình thức kiểm tra không chỉ là thước đo để
đánh giá kết quả học tập của HS mà còn là là tiêu chí để đánh giá phương pháp và
nội dung dạy học của GV, trên cơ sở đó GV có thể điều chỉnh, bổ sung nội dung
chương trình và phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS, đạt hiệu
quả cao nhất so với mục tiêu dạy học của các chuyên đề. Để có thể kiểm tra, đánh
Hay, sau khi dạy học chuyên đề làm văn chuyên sâu: Đề mở và cách luyện
tập viết bài văn theo đề mở, GV tổ chức và hướng dẫn HS vận dụng kiến thức
vào luyện tập qua một số đề bài như:
+ Đề 1: Suy nghĩ của anh (chị) từ bài thơ sau:
ĐƯỜNG TẮT
Luôn có một con đường ở trước bạn
Con đường dài mà bạn đang đi, hướng tới đích
Có một con đường ngắn hơn, cũng ở đó
Con đường nhỏ, ngắn và dễ đi hơn
Nó không dài, không tốn thời gian và không có một chướng ngại vật nào.
Nhưng
Con đường nhỏ ấy
Nó bỏ qua rất nhiều thứ
Nó không cho bạn một tí kinh nghiệm nào
Nó không làm cho bạn mạnh mẽ hơn
Nó không làm cho bạn tốt hơn
Và nó luôn là con đường sai.
Nhưng
Con người vẫn đi con đường nhỏ ấy
Những kẻ trộm đi con đường ấy để trở thành kẻ giàu
Những kẻ lừa dối đi con đường ấy để trở nên thành công
Chúng dễ dàng đạt được những thứ người khác đạt được một cách khó nhọc
Chúng trở nên thành công với nhưng ý nghĩ vô học
GV: Đỗ Thị Lê
25
Liệu chúng có thể tồn tại?
(Đặng Chân Nhân, sinh năm 1993)
+ Đề 2: Trong khi hàng ngàn bạn trẻ đang sôi sục vì hàng loạt sao Hàn "đổ
bộ" sang Việt Nam thì bài thơ “Hãy tiết kiệm thứ còn lại duy nhất” được nhà thơ