Xu hướng sử dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
3. Biện pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực doanh nghiệp (Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Thương mại thực hiện ) 30
1
LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển đã kéo theo các phương thức
thanh toán phát triển,phương thức này là sự kế thừa và phát triển của phương
thức trước đó.Khắc phục những nhược điểm của phương thức thanh toán bằng
tiền mặt,thanh toán thẻ là phương thức thanh toán mới ưu việt hơn, đáp ứng
một cách tốt hơn cho yêu cầu của sự phát triển kinh tế.
Hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới việc thanh toán qua thẻ đã trở
nên quen thuộc với mỗi người dân, trong khi đó ở Việt Nam khối lượng thanh
toán qua thẻ còn chiếm tỷ lệ rất hạn chế, thanh toán qua thẻ chưa được gnười
dân chấp nhận rộng rãi. Có thể nói rằng chúng ta chưa phát huy được tính ưu
việt của thanh toán thẻ và như vật là chúng ta chưa tận dụng được hết các điều
kiện tốt nhất cho sự phát triển của nền kinh tế.
Hiện nay khi mà thanh toán đang là phổ biến hì việc tìm ra giải pháp cho
sự phát triển của thanh toán thẻ là rất cần thiết tuy rằng đó là điều không đơn
giản.Nó đòi hỏi phải có sự quan tâm,nghiên cứu một cách đầy đủ, phải có cái
nhìn sâu, rộng hơn.Với mong muốn hình thức thanh toán bằng thẻ ngày càng
được chấp nhận rộng rãi , nhóm em đã lựa chọn đề tài :"Xu hướng sử dụng
thẻ thanh toán tại Việt Nam".
Nội dung chính của bài làm nhóm em gồm có 7 phần:
I.Tổng quan về thẻ thanh toán
II. Tại sao thanh toán qua thẻ lại trở thành xu thế ?
III. Hội nghị Foresight: Tìm ra mong muốn của các bên có liên quan tới
việc sử dụng thẻ thanh toán và một số vấn đề còn gặp phải.
IV.Chiến lược ưu tiên phát triển hệ thống chuyển mạch thẻ quốc gia dựa
trên 3 liên minh thẻ hiện có Banknetvn, Smartlink và VNBC.
V. Đánh giá sự phù hợp và khả thi của chiến lược
VI. Các hành động thực hiện chiến lược

tự động.
2. Phân loại thẻ và cách thức thanh toán
Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản
xuất, theo chủ thể phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi
lãnh thổ
2.1. Phân loại theo công nghệ sản xuất:
4
- Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi,
tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không
còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
- Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ
chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20
năm qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ
không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ
liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin
- Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh
toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính.
2.2. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ
- Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất,
theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng để mua sắm
hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay chấp
nhận loại thẻ này.
Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng
mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng
từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu
(delayed debit card) hay chậm trả.
Hằng tháng, đến ngày kết sổ, NH sẽ tổng kết số tiền chi tiêu bằng CC
của bạn và gửi đến bạn 1 “giấy báo nợ” gọi là bảng Sao Kê, trong đó thông
thường cho thêm bạn 15 ngày để thanh toán số tiền đó. Do đó, như trên đã nói
nó là tín dụng vì thực chất NH đã cho bạn vay để trả trước tiền mua hàng và

lập tức vào tài khoản chủ thẻ.
+ Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài
khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
+ Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút
6
tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút
tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài
khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.
Thẻ này hay còn gọi là thẻ ATM. Do để mở rộng tính năng thẻ đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, nâng cao tính cạnh trang cho ngân
hàng, thẻ ATM cũng được coi là một công cụ thanh toán hữu hiệu.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà
còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh
toán với Ngân hàng phát hành thẻ.
2.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
- Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do
vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.
- Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng
các ngoại tệ mạnh để thanh toán.
2.4. Phân loại theo chủ thể phát hành
- Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng
phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín
dụng.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí
của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu
lớn phát hành như Diner's Club, Amex
3. Một số lợi ích khi sử dụng thẻ
3.1. Đối với ngân hàng phát hành thẻ

- Trong quy trình thanh toán thẻ, các cơ sở phát hành thường mở tài
khoản tại các ngân hàng thanh toán cho tiện việc thanh toán. Điều này đã làm
8
tăng lượng số dư tiền gưỉ và nguồn huy động cho ngân hàng thanh toán.
- Với các loại phí như: chiết khấu thương mại, phí rút tiền mặt, phí đại lý
thanh toán, ngân hàng thanh toán sẽ có một khoản thu tương đối ổn định.
3.4. Đối với các cơ sở chấp nhận thanh toán
- Với việc cấp tín dụng trước cho khách hàng, ngân hàng đã giúp khách
hàng chi tiêu vượt quá khả năng của mình, đây là một sức đẩy đối với sức
mua của khách hàng và chính điều này sẽ làm cho lượng tiêu thụ hàng hoá
dịch vụ các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ tăng cao.
- Khi chấp nhận thẻ thanh toán, người bán hàng có khả năng giảm thiểu
các chi phí quản lý về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm đếm, nộp vào tài
khoản của ngân hàng…
- Ngoài ra, đối với một số cơ sở, việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ của
ngân hàng cũng là một điều kiện để được hưởng các ưu đãi của ngân hàng về
tín dụng, dịch vụ thanh toán.
3.5. Đối với công tác quản lý vĩ mô của nhà nước
Trong thanh toán thẻ, các giao dịch đều nằm dưới sự quản lý của ngân
hàng. Nhờ đó ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo
nền tảng cho công tác quản lý thuế của nhà nước, thực hiện chính sách ngoại
hối quốc gia. Thẻ cũng là biện pháp hữu hiệu, góp phần thực hiện biện pháp
kích cầu của nhà nước.
II. Tại sao thanh toán qua thẻ lại trở thành xu thế ?
1. Sự hạn chế của thanh toán bằng tiền mặt
Trong xã hội loài người, nếu còn sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng
hóa thì sự tồn tại mối quan hệ Tiền – Hàng là một yếu tố khách quan, đó là
mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau.
Theo tiến trình lịch sử hình thành tiền tệ, đồng tiền đã có những bước
phát triển từ thấp đến cao. Trong nền kinh tế tự nhiên khép kín, do nhu cầu

10
2. Yêu cầu tất yếu của sự phát triển và sự hội nhập kinh tế
Bất kỳ một hoạt động nào cũng có một xu hướng phát triển của nó, các
nền kinh tế luôn có xu hướng tiến tới một nền kinh tế hiện đại, phát triển hơn
và kéo theo đó là hoạt động thanh toán cũng hướng tới một hệ thống thanh
toán phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.
Thực tế đã chứng minh rằng, các nước phát triển trên thế giới để có thể
đạt được mức tăng trưởng và phát triển như vậy thì cần phải có một hệ thống
tài chính tốt, một hệ thống thanh toán hoàn hảo đủ để đáp ứng các yêu cầu của
sản xuất hàng hoá, của các chu kỳ kinh doanh trong nền kinh tế. Như vậy
thanh toán là một hoạt động quan trọng và then chốt trong một nền kinh tế, hệ
thống thanh toán phát triển sẽ đảm bảo cho nền kinh tế phát triển tốt hơn.
Ngày nay khi hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành tất yếu khách quan
thì hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia nói chung và của các doanh
nghiệp trong từng quốc gia nói riêng là vấn đề mấu chốt để đưa nền kinh tế
quốc gia đó hội nhập với nền kinh tế thế giới. Để tiến hành hoạt động kinh
doanh quốc tế một cách trôi chảy thì hoạt dộng thanh toán đóng vai trò vô
cùng quan trọng. Điều đó đặt ra yêu cầu tất yếu đối với hệ thống ngân hàng
phải tiến hành cung cấp cho khách hàng của mình dịch vụ thanh toán một
cách nhanh chóng, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng. Thanh toán qua thẻ là một trong những bước tiến lớn trong việc phát
triển hệ thống thanh toán.
3. Sự minh bạch hoá nền kinh tế
Nền kinh tế khó có thể hoạt động tốt nếu thiếu đi tính minh bạch. Tất cả
đang phải thừa nhận rằng chúng ta đang phải chứng kiến những hậu quả do sự
thiếu minh bạch tạo ra . Số lượng thông tin tài khóa, tài chính và kinh tế mà
Chính Phủ Việt Nam hiện đang thu thập và cung cấp cho công chúng không
đầy đủ cho sự vận hành trơn tru của một quốc gia ở mức thu nhập trung bình.
Ngay cả số liệu thống kê cơ bản như cơ cấu chi tiêu ngân sách theo ngành, chi
11

+ 100 đại diện người sử dụng thẻ là các tổ chức, doanh nghiệp
+ 200 đại diện ngưới sử dụng thẻ với tư cách là các cá nhân
+ 50 đại diện từ phía các Ngân hàng
- Phạm vi nghiên cứu: địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Bước 2: Công tác chuẩn bị.
a. Triển khai kế hoạch đến các cơ sở các đơn vị tổ chức và đại biểu tham
gia hội nghị
Có hai hình thức triển khai chính:
- Trực tiếp: Triệu tập thành phần liên quan họp triển khai kế hoạch
- Gián tiếp: Triển khai bằng văn bản tới các đại biểu tham gia hội nghị
b.Chuẩn bị về nhân sự.
- Thành lập Ban Tổ chức Hội nghị, gồm có Trưởng ban Tổ chức, Phó
Trưởng ban và các thành viên (cần lưu ý tính đại diện) nhằm điều hành thực
hiện kế hoạch tổ chức hội nghị.
- Chuẩn bị kế hoạch nhân sự bố trí thực hiện các công việc chuẩn bị cho
hội nghị: từ công việc gửi giấy mời, lên nội dung, tổ chức hội trường và công
tác chuẩn bị khác để hội nghị được diễn ra tốt đẹp.
c. Chuẩn bị về nội dung
Chuẩn bị bảng hỏi bao gồm 20 câu với nội dung trọng tâm để tìm ra
mong muốn của các bên liên quan phù hợp với độ tuổi và công việc của họ,
bên cạnh đó là những câu hỏi tham vấn ý kiến trực tiếp các đại biểu tham dự
hội nghị. Và những câu hỏi lấy ý kiến trực tiếp từ các đại biểu.
Trong mục này cũng cần chú ý đưa ra những câu hỏi để tìm ra được các
vấn đề còn gặp phải ở thời điểm hiện tại.
Đây là khâu quan trọng, Tiểu ban Nội dung hoặc các thành viên được
phân công phụ trách mảng nội dung phải chuẩn bị tốt và có cách dẫn dắt để
các đại biểu đưa ra y kiến của mình. Nội dung bàn thảo phải được gửi tới cho
13
tất cả các đại biểu tham dự hội nghị để các đại biểu nắm rõ và có thời gian
nghiên cứu.

+ Với khách hàng là cá nhân: Hiện tại thì đối tượng này vẫn có thói quen
tiêu dùng tiền mặt là chủ yếu. Họ sử dụng thẻ chỉ với chức năng rất nhỏ là rút
tiền mặt tại các cây rút tiền tự động, còn việc sử dụng thẻ để thanh toán tại các
điểm bán hàng offline và thanh toán tại các website bán hàng qua mạng chưa
được chú trọng. Bên cạnh đó là vấn đề sử dụng thẻ thanh toán của Ngân hàng
này còn không rút được tiền ở cây rút tiền tự động của các Ngân hàng khác.
(Nếu các Ngân hàng không có liên minh). Điều này gây rắc rối cho rất nhiều
khách hàng và họ mong muốn những nhà cung ứng dịch vụ sẽ có cách giải
quyết thuận tiện hơn cho khách hàng trong tình huống như thế này.
+ Với khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp: Phần lớn các doanh
nghiệp gặp rắc rối trong việc thực hiện các tài khoản kinh doanh. Các nhà
cung cấp tài khoản kinh doanh cho rằng họ phải chịu đựng tổn thất nếu hiệu
quả kinh doanh không đảm bảo, và vì thế không đảm bảo duy trì tài khoản.
Tâm lý e ngại công khai thu nhập. Các Ngân hàng luôn rất kĩ tính trong việc
lựa chọn nên cung cấp tài khoản kinh doanh cho ai? Điều này gây không ít
khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hình thành tài khoản kinh doanh.
Họ mong muốn có được sự tin tưởng của các nhà cung ứng dịch vụ đối với họ
để họ có những tài khoản kinh doanh thuận lợi cho việc thanh toán đối với
khách hàng. Và mong muốn các Ngân hàng co những chính sách giúp cho
việc thanh toán của khách hàng của họ ở bất cứ Ngân hàng nào thì họ cũng có
thể nhận được tiền qua tài khoản kinh doanh của mình.
- Đối với các nhà cung ứng dịch vụ: Chi phí mà họ bỏ ra để gây dựng
nên hệ thống thanh toán thẻ tự động của riêng mình là rất lớn, chưa kể đến chi
15
phí bảo dưỡng, tu sửa hàng năm đối với hệ thống ấy. Cho nên không phải
Ngân hàng nào cũng có đủ điều kiện để phát triển một hệ thống thanh toán thẻ
một cách hiện đại và đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng của khách hàng. Các nhà
cung ứng dịch vụ mong muốn có thể cắt giảm chi phí trong việc xây dựng hệ
thống thanh toán này nhưng vẫn đảm bảo được sự thanh toán triệt để của
khách hàng của họ.

thanh toán qua thẻ không có hiệu quả do các ngân hàng không có nguồn thu
bù đắp chi phí đầu tư mua sắm thiết bị, chi phí cho nhân sự đi phát triển đơn
vị chấp nhận thẻ. Do vậy, về lâu dài kéo theo chất lượng dịch vụ bị ảnh
hưởng, tác động tiêu cực trở lại đối với tâm lý của khách hàng sử dụng thẻ.
Nguyên nhân:
Một là, môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh:
- Hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán chưa hoàn thiện, mặc dù
trong thời gian vừa qua hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán đã cải
thiện nhiều, song vẫn được đánh giá là chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là
những vấn đề liên quan đến thanh toán điện tử và thương mại điện tử.
- Một số văn bản còn thể hiện nhiều bất cập và chưa phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường Các cơ chế, chính sách chưa khuyến khích
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đầu tư mạnh và đồng bộ cho cơ sở
hạ tầng; sự phối kết hợp giữa những biện pháp hành chính và biện pháp kích
thích kinh tế chưa đồng bộ, chưa đủ mạnh để đưa chủ trương thật sự đi vào
cuộc sống.
Hai là, công tác quản lý của NHTW chưa hiệu quả:
Khoản 16 Điều 4 và khoản 1 Điều 28 Luật NHNN 2010 quy định trong
nhiệm vụ, quyền hạn của NHNN có việc tổ chức, quản lý, vận hành và giám
sát hệ thống thanh toán quốc gia vì đây là hệ thống thanh toán xương sống
của nền kinh tế Việt Nam nhằm đảm bảo cho hệ thống tài chính quốc gia,
17
hoạt động ngân hàng được ổn định, an toàn và hiệu quả. Như vậy, vai trò
trung tâm của NHTW trong việc quản lý hệ thống thanh toán thẻ là tất yếu,
xuất phát từ các chức năng nhiệm vụ và các hoạt động liên quan đến các hệ
thống thanh toán và quyết toán của NHTW. Bên cạnh đó là vai trò giám sát
phát triển một phần do sự mở rộng các hệ thống thanh toán thẻ của khu vực tư
nhân, yêu cầu phải điều chỉnh lại những sai sót thị trường tiềm ẩn. Bất kể là
hệ thống được thiết kế, xây dựng hay vận hành bởi các định chế tư nhân,
hoặc ngân hàng trung ương, thì tầm quan trọng của việc giám sát tăng lên

có tiềm lực về tài chính mới có khả năng đầu tư các trang thiết bị phục vụ
hoạt động thanh toán, mở rộng các PTTT mới. Mặc dù số lượng ATM, POS
được lắp đặt tăng đều qua các năm nhưng thực tế là tỷ trọng so với số dân vẫn
còn thấp, chưa phân bố đều (chủ yếu tập trung tạo các đô thị lớn, khu công
nghiệp). Hoạt động của hệ thống phục vụ thanh toán chưa đảm bảo, còn tiềm
ẩn nguy cơ về bảo mật; sự hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ với các ngân
hàng gặp trở ngại do sự khác biệt về hệ thống quản lý, cơ sở dữ liệu…
- Hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh
toán còn nghèo nàn và kém hiệu quả. Có 2.154 ATM số lượng phân bổ chủ
yếu ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp. Với dân số nước ta hơn 80
triệu dân thì bình quân 45.000 dân có 1 ATM. Lượng ATM như vậy quá thấp
nếu so với các quốc gia láng giềng (Trung Quốc: 19.000 dân/ATM,
Singapore: 2.638 dân/ATM). Hơn nữa, các máy ATM lại chỉ có khả năng
phục vụ cho một nhóm nhỏ ngân hàng, chứ không có khả năng sử dụng chung
cho nhiều ngân hàng như thực tế ở nhiều nước hiện nay, làm cho mạng lưới
máy rút tiền tự động càng hạn chế phạm vi phục vụ. Với các thiết bị tại điểm
bán (POS) cũng chung tình trạng như vậy. Luôn có tình trạng một đơn vị chấp
nhận thẻ cùng tồn tại nhiều thiết bị POS của các ngân hàng khác nhau để phục
vụ cho các giao dịch bằng thẻ. Điều này thu hẹp đáng kể phạm vi sử dụng các
19
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt so với nhiều quốc gia trong khu
vực hiện nay, ngay cả khi mật độ thiết bị tương đương như ở các nước đó.
Nguyên nhân:
Một là, quy mô nền kinh tế còn nhỏ:
- Tổng thu nhập quốc dân còn thấp.
Đơn vị: Tỉ USD
Năm 2007 2008 2009 2010 2011
GDP 70 89 91 101 106.9
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011 chủ yếu vẫn là
do tăng yếu tố số lượng, theo chiều rộng, trong đó, chủ yếu do tăng vốn đầu

114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người
của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.
Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của
Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.
Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu
người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010.
Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên
6.786 USD.
Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của
Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.
Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người
Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn
ở vào thời điểm hiện tại.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho
biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của
Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm
1991.
21
Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20
năm.
Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt
1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.
Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa
so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận
xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ
nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn
của Ngân hàng Thế giới.
Điều này dẫn đến việc sử dụng thẻ thanh toán đối với người dân là
không cần thiết, ảnh hưởng tới tâm lý sử dụng và tiêu dùng của người dân.
Hai là, Chưa có sự hợp tác giữa các NHTM trong việc hình thành

phần đông người mua và người bán vẫn quen thực hiện theo phương thức
“tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại khi mua hàng qua mạng có
thể sẽ mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạt như
mong muốn hoặc thậm chí là không nhận được hàng hoá mặc dù tiền đã được
chuyển khoản, trong khi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam
vẫn chưa thực sự hiệu quả.
- Việc thay đổi thói quen tiêu dùng tiền mặt của càng khó hơn khi chất
lượng, tiện ích và tính đa dạng về dịch vụ thanh toán KDTM cũng chưa phong
phú, chưa đáp ứng nhu cầu của nhiều loại đối tượng sử dụng. Các phương tiện
thanh toán KDTM chưa đạt được tính tiện ích và phạm vi thanh toán để có thể
thay thế cho tiền mặt. Để được nhận một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng,
các chủ thể tham gia thường phải đến các điểm giao dịch của ngân hàng.
Phương thức giao dịch từ xa, dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại
như giao dịch qua internet, mobile, homebanking chưa phát triển hoặc mới
chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp.
23
Chi phí tham gia các phương tiện thanh toán KDTM còn cao so với sử
dụng tiền mặt.
- Công tác thông tin tuyên truyền là bước đầu tiên để thay đổi dần thói
quen tiêu dùng tiền mặt lại chưa được quan tâm, chú trọng và định hướng
đúng đắn.
Những mục tiêu chiến lược, định hướng và các chính sách lớn để phát
triển hoạt động thanh toán chưa được công bố đầy đủ cho công chúng. Vì vậy,
không chỉ người dân mà thậm chí nhiều doanh nghiệp còn rất ít hiểu biết hoặc
hiểu biết mơ hồ về các dịch vụ thanh toán và phương tiện thanh toán KDTM.
Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn phản ánh thiên
lệch, khai thác những yếu điểm, lỗi kỹ thuật hoặc những yếu tố tiêu cực mang
tính cá biệt để đưa lên công luận, khiến cho thông tin đến với những người
tiêu dùng thường một chiều, thậm chí sai lạc, gây mất lòng tin vào một công
cụ thanh toán nào đó ngay từ khi mới bắt đầu phát triển.

trốn sau khi đã thực hiện được tiền tạm ứng của ngân hàng
+ Gần đây đã xuất hiện hiện tượng chủ thẻ thường xuyên sử dụng thẻ ghi
nợ quốc tế để thực hiện các giao dịch rút tiền mặt bằng USD tại Campuchia
nhằm trục lợi từ chênh lệch tỷ giá. Bên cạnh đó cũng xuất hiện loại hình giao
dịch chuyển tiền từ tài khoản thẻ tín dụng sang tài khoản ảo sau đó chuyển
tiền từ tài khoản ảo sang tài khoản ngoại tệ và thực hiện rút ngoại tệ, gây thiệt
hại về chênh lệch tỷ giá đối với các ngân hàng…
III Chiến lược ưu tiên phát triển hệ thống chuyển mạch thẻ quốc gia
dựa trên 3 liên minh thẻ hiện có Banknetvn, Smartlink và VNBC.
a. Tầm nhìn.
Phát triển một môi trường thanh toán hiện đại, an toàn và hiệu quả đáp
ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngày càng cao của nền kinh tế trong thời kì hội
nhập và phát triển.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status