1
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề................................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu. ................................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ........................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu. ......................................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài................................................................. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM. ................................ 5
1.1. Cơ sở lý thuyết........................................................................................................... 5
1.1.1. Các khái niệm có liên quan ............................................................................. 5
1.1.2. Mối liên kết giữa hai khu vực ......................................................................... 7
1.1.3. Lý thuyết về các yếu tố kéo và đẩy tham gia hoạt động phi nông nghiệp của
nông dân................................................................................................................................... 9
1.1.4. Mô hình kinh tế hộ nông dân với hoạt động phi nông nghiệp………..………10
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm……………………………………………………19
1.2.1. Nghiên cứu 1………………………………………………………………….19
1.2.2. Nghiên cứu 2………………………………………………………………….19
1.2.3. Nghiên cứu 3………………………………………………………………….20
1.2.4. Nghiên cứu 4…………………………………………………………………..21
1.3. Kinh Nghiệm giải quyết việc làm nông thôn của các nước……………………..22
1.3.1. Trung Quốc……………………………………………………………………22
1.3.2. Hàn Quốc……………………………………………………………………...23
1.4. Mô hình nghiên cứu đề nghị ……………………………………………………25
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM VÙNG NÔNG THÔN HUYỆN
TAM NÔNG GIAI ĐOẠN 2005-2006.......................................................... 28
2.1. Tổng quan về kinh tế của huyện Tam Nông……………………………………28
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên……………………………………………..28
2. Các đề xuất chính sách……………………………………………………………64
3. Hạn chế của nghiên cứu…………………………………………………………...66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Cơ cấu kinh tế của huyện qua các năm 2001, 2005, 2006 .........................29
Bảng 2.2. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số...........................................................................30
Bảng 2.3. Lao động, việc làm của huyện Tam Nông năm 2006.................................31
Bảng 2.4. Cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa huyện Tam Nông năm 2006.........32
Bảng 2.5. Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn huyện Tam Nông năm 2006..33
Bảng 2.6. Đặc điểm về tuổi và giới tính của lao động................................................40
Bảng 2.7. Trình độ học vấn và học nghề của lao động...............................................42
Bảng 2.8. Phân loại hộ nghề nghiệp............................................................................43
Bảng 2.9. Đặc điểm về qui mô gia đình và đất sản xuất theo hộ nghề nghiệp ...........44
Bảng 2.10.Đặc điểm về thu nhập và nông nhàn của gia đình theo hộ nghề nghiệp ...46
Bảng 3.1. Các biến số sử dụng trong mô hình ............................................................55
Bảng 3.2. Kết quả ước lượng với các biến đặc điểm của người lao động ..................57
Bảng 3.3. Kết quả ước lượng mô hình với các biến đặc điểm gia đình......................59
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Việc làm luôn là vấn đề bức xúc của xã hội, với sự phát triển nhanh của các
nền kinh tế, nó đã không ngừng được tạo ra nhưng cũng không ít những việc làm bị
mất đi. Sự mai một của một số các việc làm thường xảy ra ở nông thôn, những vùng
đất mà người dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên thiên
nhiên là chính. Những làng nghề truyền thống hay những mặt hàng thủ công không
theo kịp sự phát triển của nền kinh tế hiện đại dần biến mất.
Trong giai đoạn hiện nay, sự thay đổi về cơ cấu kinh tế trong nông thôn cùng
với công nghiệp hoá và hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp là một tất yếu để phát triển
kinh tế. Nhưng với diện tích đất có giới hạn, tỷ lệ tăng dân số ở nông thôn lại cao và
trình độ dân trí còn thấp đã làm cho người dân sống ở nông thôn ngày càng khó tìm
được việc làm khi họ bị tách khỏi những lao động phổ thông trong nông nghiệp.
Riêng với huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp - là một vùng trũng của Đồng
Tháp Mười - trong một năm có năm đến sáu tháng nước nổi, gần 90 % dân số sống ở
nông thôn với nghề nông là chính, thì vấn đề việc làm cho người lao động là một bài
toán nan giải đặt ra cho người dân cũng như các cấp chính quyền địa phương. Sự dư
thừa lao động và thiếu việc làm nhất là vào mùa lũ trở thành một trong những lực cản
chính cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và là
mầm móng phát sinh tệ nạn xã hội.
Nhận thấy nhu cầu việc làm ở nông thôn là rất cấp thiết, nhà nước đã có những
chính sách nhằm tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động cho nông thôn nói chung
và cho huyện Tam Nông Tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Bên cạnh đó còn có các dự án hỗ
trợ của các tổ chức phi chính phủ nhằm tạo việc làm cho người lao động nghèo.
Những chính sách và dự án tập trung vào: đào tạo nghề, khuyến khích phát triển làng
nghề, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung cấp tín dụng. Nhưng đối với người
7
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian là 07
tháng. Bắt đầu từ tháng 12 năm 2006 và kết thúc nghiên cứu vào tháng 07 năm
2007.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp phân tích định tính
Phương pháp phân tích định tính bao gồm: phương pháp chuyên gia và phỏng
vấn sâu.
• Phương pháp chuyên gia
Ở cấp huyện, tham vấn trực tiếp phó chánh văn phòng phụ trách kinh tế Ủy
ban huyện Tam Nông, hội trưởng và hội phó hội phụ nữ huyện, phó phòng công
thương huyện, Trưởng phòng và phó phòng nội vụ lao động thương binh xã hội
huyện.
Ở cấp xã, tham vấn trực tiếp phó chủ tịch phụ trách kinh tế xã Tân Công Sính,
xã Phú Hiệp. Phỏng vấn nhóm các cán bộ phụ trách hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn
thanh niên của hai xã Tân Công Sính và Phú Hiệp.
Ngoài ra, tham vấn trực tiếp hai chủ tổ hợp sản xuất có thu hút lao động của
hai xã vùng nghiên cứu.
• Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn trực tiếp 80 lao động trong độ tuổi lao động ở hai xã đại diện vùng
nông thôn của huyện. Các lao động được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi và
ngẫu nhiên. Số mẫu ở mỗi xã được tính dựa trên số hộ dân vào năm 2006, xã Tân
Công Sính có 1.109 hộ và xã Phú Hiệp có 1736 hộ dân. Như vậy, tổng thể quan sát là
2845 hộ trong đó Phú hiệp chiếm 61,01% tổng thể quan sát nên với số mẫu tương ứng
cần được phỏng vấn là 49 mẫu, còn lại xã Tân Công Sính chiếm 38,98% nên tương
ứng với số mẫu cần được phỏng vấn là 31 mẫu.
4.2. Phương pháp phân tích định lượng
• Phương pháp thống kê mô tả
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM.Để tiện cho việc phân tích những nhân tố tác động đến lao động - việc làm và
tìm giải pháp giải quyết việc làm cho lao động trong vùng nghiên cứu, trước tiên, cần
có một nền tảng lý thuyết làm cơ sở để nghiên cứu được tiến hành. Chương 1 sẽ trình
bày cơ sở lý thuyết: thống nhất về mặt khái niệm, những đặc thù của lao động nông
thôn vùng lũ và các lý thuyết cơ sở để tiến hành thiết kế nghiên cứu. Kế đến, nghiên
cứu thực nghiệm: tổng hợp những nghiên cứu trước đây về lao động và việc làm nông
thôn ở Việt Nam. Sau đó trình bày kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn của các nước và đưa ra mô hình nghiên cứu.
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Các khái niệm có liên quan
Thực tế có nhiều khái niệm về lao động và việc làm nông thôn, trong đề tài
này chỉ đề cập đến một số khái niệm đã và đang được sử dụng hiện nay để có sự
thống nhất trong toàn bộ nghiên cứu.
Lực lượng lao động hay số người hoạt động kinh tế hiện tại là những người từ
đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và thất nghiệp. (theo ban chỉ đạo điều tra thực trạng
việc làm và thất nghiệp, 2006, tỉnh Đồng Tháp)
Việc làm: khái niệm việc làm có thể hiểu ở hai trạng thái “tĩnh” và “động”. ở
trạng thái “tĩnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật chất kỹ
thuật khác, nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích cho cá nhân, cộng
đồng. Theo cách hiểu này việc làm là khả năng làm tăng của cải xã hội, tăng lợi ích
cho dân cư và cộng đồng, là khả năng sử dụng nguồn nhân lực và là các hoạt động lao
động có ích. Theo nghĩa động thì việc làm là hoạt động của dân cư nhằm tạo ra thu
10
nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng, trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Do đó,
phân chia việc làm thành các loại:
- Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: căn cứ vào số thời gian có việc làm
thường xuyên trong một năm.
- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: căn cứ vào số giờ làm
việc trong một tuần.
- Việc làm chính và việc làm phụ: căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ
thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó.
Căn cứ vào tính chất công việc: có việc làm nông nghiệp hay còn gọi là hoạt
động nông nghiệp, việc làm phi nông nghiệp hay hoạt động phi nông nghiệp. Trong
nghiên cứu này, việc làm nông nghiệp là các công việc liên quan trực tiếp đến cây
trồng, vật nuôi. Việc làm phi nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất khác ngoài
việc làm nông nghiệp. Nhìn chung việc làm phi nông nghiệp liên quan đến các hoạt
động sản xuất công nghiệp, dịch vụ tại các cơ sở kinh tế và hộ gia đình, ví dụ như: các
hoạt động vá xe, bán hàng rong, làm hàng gia công đều được coi là việc làm phi nông
nghiệp.
Làm công ăn lương hay việc làm tự tạo, trong nghiên cứu này, việc làm công
ăn lương liên quan đến các hợp đồng lao động được thoả thuận giữa người lao động
và người sử dụng lao động. Người lao động được nhận lương theo sản phẩm hoặc thời
gian và làm việc dưới sự giám sát của người sử dụng lao động. Việc làm tự tạo là các
việc làm tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hoá và dịch vụ ví dụ: tự
làm bánh và bán, nhận may đồ cho khách tại nhà… đều được coi là việc làm tự tạo.
Lao động địa phương và lao động di cư: lao động địa phương có thể được coi
là lao động tại nhà hay không phải tại nhà nhưng vẫn ở địa phương. Lao động di cư là
lao động đi khỏi huyện làm tại các tỉnh khác hay ở nước khác với thời gian đi khỏi
huyện từ 6 tháng trở lên.
12
Mối kiên kết giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.
thể lợi nhuận thu được từ hoạt động trong khu vực phi nông nghiệp lại là một sức hút
mạnh mẽ cho việc dịch chuyển vốn và lao động giữa hai khu vực. Hay với tư tưởng
tiến bộ hơn của những người nông dân thời nay, họ quyết định dành những khoản tiết
kiệm được từ hoạt động nông nghiệp để đầu tư cho con cháu học hành hay học nghề
mong tìm được việc làm trong khu vực phi nông nghiệp để thoát khỏi lao động mệt
nhọc ngoài đồng. Nhìn chung, sự dịch chuyển của vốn và lao động giữa hai khu vực
luôn có thể xảy ra với bất kỳ một lý do nào. Đây là nền tảng cơ bản để nghiên cứu
của chúng ta có thể thực hiện.
1.1.3. Lý thuyết về các yếu tố “kéo” và đẩy” tham gia hoạt động phi nông
nghiệp của nông dân.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới một mô hình về các
yếu tố tác động tới quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Mô hình này cho rằng
hộ gia đình quyết định tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp là do hai nhóm yếu tố
khác nhau “kéo” và “đẩy” lao động vào hoạt động phi nông nghiệp. Reardon (1997)
đưa ra các nhân tố “đẩy” sau đây: (1) tăng trưởng dân số, (2) tăng sự khan hiếm của
đất có thể sản xuất, (3) giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu, (4) giảm độ màu mỡ
và năng suất của đất, (5) giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản, (6) giảm doanh thu đối
với nông nghiệp, (7) tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, (8) các sự kiện và các cú sốc
xảy ra, (9) thiếu khả năng tiếp cận đối với các thị trường đầu vào cho sản xuất nông
nghiệp, (10) thiếu vắng các thị trường tài chính nông thôn. Hơn nữa, ông cũng gợi ý
14
các nhân tố “kéo” sau đây: (1) doanh thu cao hơn của lao động phi nông nghiệp, (2)
doanh thu cao hơn khi đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp, (3) rủi ro thấp hơn của
khu vực phi nông nghiệp so với khu vực nông nghiệp, (4) tạo ra tiền mặt để đáp ứng
các nhu cầu chi tiêu của gia đình và (5) nhiều cơ hội đầu tư. Tóm lại, nhân tố “kéo”
đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực phi nông nghiệp đối với người nông dân. Nhân
tố đẩy liên quan đến áp lực hoặc các hạn chế của khu vực nông nghiệp buộc nông dân
tìm kiếm thu nhập khác nếu họ muốn cải thiện các điều kiện sống của mình.
Quan hệ “kéo” và “đẩy” đưa ra một khung khổ tương đối toàn diện cho việc
h
) (1.1)
Giới hạn bởi: T
f
, T
h
, T
n
, C
Tổng thời gian : T=T
f
+ T
h
+ T
n
(1.2)
Tiêu dùng : C = g(T
f
, p, Z
f
) + w
n
T
n
+ V (1.3)
Không âm : T
n
≥ 0 (1.4)
Trong đó:
T
G = Hàm thu nhập từ nông nghiệp của hộ
Hàm lợi ích được xác định bởi thời gian ở nhà và tiêu dùng.
Có hai ràng buộc trong mô hình: thứ nhất, hộ gia đình bị hạn chế bởi thời gian
sử dụng; thứ hai, tiêu dùng của hộ bị hạn chế bởi thu nhập từ nông nghiệp, phi nông
16
nghiệp và thu nhập ngoài lao động. Thu nhập nông nghiệp bằng với giá nhân với đầu
ra được thể hiện như một hàm của thời gian lao động nông nghiệp.
Để tối đa hoá hàm lợi ích, ta lập công thức biến đổi Lagragian:
L ≡ U(T
h
, C
h
; Z
h
) + τ (T-T
f
- T
h
- T
n
)+ λ(g(T
f
, p, H
f
, Z
f
) + w
n
T
∂
= λg
1
- τ = 0 (1.8)
n
T
L
∂
∂
= λw
n
+θ -τ = 0 (1.9)
θ
∂
∂L
= T
n
≥ 0, θ
≥ 0,
θ
∂
∂L
.θ =0 (1.10)
Trong đó U
1
, U
2
là đạo hàm bậc nhất của hàm lợi ích theo thời gian ở nhà và
tiêu dùng, tương ứng, g
n1
(có được từ (1.11)) ta có:
17
2
1
U
U
= w
n
(1.12)
Lấy T
n
từ (1.2) và thay vào (1.3) ta có
C+w
n
T
h
= w
n
T+[g(T
f
)-w
n
T
f
] + V (1.13)
Ý nghĩa của phương trình (1.13) là ta có tổng tiêu dùng ở bên trái bằng với
n
T
f
(1.14)Giải phương trình (1.14) ta tìm T
f
*
, thay trở lại vào (1.14) ta có hàm mục tiêu gián
tiếp:
π
*
(w
m
, p, Z
f
) = g
(T
f
*
; p, Z
f
)-w
n
T
f
*
(w
m
, p, Z
f
) + V (1.17)
Phương trình này kết hợp với (1.12) tạo thành điều kiện tối ưu của tiêu dùng.
Khi phương trình (1.12) được xem như là tỷ lệ thay thế biên giữa thời gian ở nhà và
tiêu dùng (U
1
/U
2
) = mức giá, thì hệ phương trình của (1.12) và (1.17) là tương tự với
18
các điều kiện của tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng. Do đó, cầu tiêu dùng C có thể
được viết như các hàm cầu Marshalian:
C=C(1,w
n
, w
n
T+ π
*
(w
n
, p, Z
f
) + V) = C (1,w
n
, k) (1.18)
Như vậy, các quyết định về sản xuất và tiêu dùng của hộ có thể được xác định
.
19
Hình 1.2. Phân bổ thời gian của hộ nông dân với hoạt động phi nông nghiệp.
(
Nguồn: Lê Xuân Bá
và cộng sự (2006))
[1]
Trường hợp 2: hộ nông dân không có hoạt động phi nông nghiệp
Quay trở lại điều kiện tối ưu Kuhn Tucker (1.6)-(1.10), trong trường hợp
không có hoạt động phi nông nghiệp, T
n
= 0, T=T
h
+T
f
và định nghĩa w
0
như τ/λ hệ
phương trình này có thể được sắp xếp lại như sau:
g
1
= w
o
(1.19)
2
1
U
do đó, w
0
là hàm của tất cả các biến ngoại sinh trong hệ phương trình này.
20
w
0
= w
0
(T,V,Z
h
,P,Z
f
) (1.22)
Thời gian lao động nông nghiệp và các quyết định sản xuất
Thời gian lao động nông nghiệp tối ưu T
f
có thể được đạo hàm từ hàm sản xuất
(g). Đạo hàm bậc nhất của (g) theo T
f
được thiết lập bằng với w
0
như trong phương
trình (1.19). Chúng ta cũng biết rằng w
0
bị tác động bởi các biến trong phương trình
(1.22), bởi vậy giải pháp tối ưu cho T
f
*
có thể được thể hiện như sau:
*
)-w
0
T
f
*
Sử dụng bổ đề Hotelling (1932) để đạt được
T
f
=-π
w
*
(w
0
, p, Z
f
) (1.24)
Quyết định tiêu dùng
Thay thế lợi ích tối ưu vào (1.24) ta có thể phân tích các nhân tố quyết định
đến tiêu dùng và thời gian ở nhà.
C+w
0
T
h
= w
0
T+[g(T
f
)-w
21
Hình 1.3. Phân bổ thời gian của hộ nông dân không có hoạt động phi nông nghiệp
(Nguồn: Lê Xuân Bá và cộng sự (2006))
[1]
Trong hình 1.3, độ thoả dụng tối đa nếu đạt được tại A, nơi đường cong của
hàm thu nhập nông nghiệp (g) có cùng độ dốc với đường cong bàng quan I
*
. Giá bóng
của thời gian nghỉ ngơi là độ dốc chung của 2 đường cong tại A. Khi giá bóng được
quyết định, các quyết định kinh tế của hộ có thể được miêu tả như là nghiệm của (1)
bài toán tối đa hoá lợi nhuận và tiếp theo là (2) bài toán tối đa độ thỏa dụng. Trong cả
hai phương trình này giá bóng của thời gian được quyết định một cách nội sinh (w
0
),
là giá kinh tế của lao động nông nghiệp trong phương trình tối đa hoá lợi nhuận và giá
kinh tế của thời gian nghỉ ngơi ở nhà và một trong các nhân tố quyết định đến tổng
thu nhập, nó đóng vai trò giống như W
n
trong hình 1.3.
Giá bóng và quyết định tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp
Điều kiện (1.9) và (1.10) giúp đưa ra quyết định tham gia hoạt động phi nông
nghiệp của hộ. Nếu không có hoạt động phi nông nghiệp
w
n
≤w
0
(1.27)
0
tại điểm tiếp tuyến của chúng là A. Đường cong I
0
tương ứng với
độ thoả dụng tối đa đạt được dưới điều kiện hộ không tham gia vào hoạt động phi
nông nghiệp.Hình 1.4. Nhân tố quyết định của hoạt động phi nông nghiệp.
(Nguồn: Lê Xuân Bá và công sự (2006))
[1]
Nếu độ dốc của đường tiền công phi nông nghiệp, ví dụ đường w
1
nhỏ hơn w
0,
thì độ thỏa dụng của hộ không được cải thiện nếu như hộ tham gia vào hoạt động phi
nông nghiệp. Ngược lại, nếu đường tiền công w
2
vượt quá w
0
khi đó độ thoả dụng có
thể được đẩy lên đến mức I
2
. Ngay cả khi không có sự điều chỉnh thời gian lao động
nông nghiệp thì sự tăng lên của độ thoả dụng vẫn có thể đạt được. Với sự điều chỉnh
này, độ thoả dụng có thể được tăng lên ở mức như đường bàng quan I
2
Thảo luận trên có thể được tóm tắt bằng hệ phương trình dưới đây:
T
=0 nếu i
*
(H
n,
,Z
n
,H
f,
Z
h
,T,V) ≡ w
n
(H
n
, Z
n
)-w
0
(Z
f
,H
f
,p,Z
h
,T,V) ≤ 0
23
Hàm i* thường được gọi là “hàm tham gia phi nông nghiêp”. Ước lượng hàm
này là một trong các mục tiêu chính của nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các hoạt
các yếu tố “kéo” và “đẩy” tham gia hoạt động phi nông nghiệp thì mô hình kinh tế hộ
là một mô hình hoàn chỉnh hơn rất nhiều. Tuy nhiên, nó bỏ sót một số yếu tố như: sự
tăng trưởng dân số, sự khan hiếm của đất sản xuất và sự cạn kiệt độ màu mỡ của đất
và cũng chưa đề cập đến nhóm yếu tố vùng hay môi trường xung quanh của lao động.
Do đó, sự kết hợp của lý thuyết về các yếu tố “kéo” và “đẩy” tham gia vào hoạt động
phi nông nghiệp của lao động và mô hình kinh tế hộ nông dân với hoạt động phi nông
nghiệp trên nền tảng đã được khẳng định rằng có sự dịch chuyển vốn và lao động giữa
hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp là hết sức cần thiết cho nghiên cứu.
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm
1.2.1. Nghiên cứu 1.
Dự án nghiên cứu ADB – M4P: Thị trường lao động nông thôn và vấn đề di
cư. Câu hỏi nghiên cứu chính của dự án là “Những tác động có thể của di cư đối với
24
thị trường lao động nông thôn tại những nơi có dân đi là gì? Và những chính sách nào
có thể tối đa hoá lợi ích của di cư đi đối với sự phát triển nông thôn?” nghiên cứu tập
trung phân tích di cư trên hai cấp độ: những tác động đối với hộ gia đình và những tác
động đối với xã có di dân.
Kết quả nghiên cứu:
- Nghiên cứu nhận ra rằng thị trường lao động nông thôn hiện nay ở Việt Nam
đang thừa lao động, việc làm nông nghiệp là cơ bản, trong khi rất ít việc làm
công ăn lương trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Di cư không có tác động trực tiếp nào đến năng xuất lao động, cả trong nông
nghiệp cũng như phi nông nghiệp.
- Di cư được xem là có tác động đến lĩnh vực lựa chọn của hộ gia đình.
- Di cư ngắn hạn có tác động tiêu cực đến cầu việc làm tự tạo nông nghiệp và
phi nông nghiệp. Một phần trăm tăng lên trong tỷ lệ di cư ngắn hạn có thể giảm
cầu lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đi từ 0.32 % đến 0.51 % ở nông
thôn.
then chốt trong tạo lập việc làm, mở mang ngành nghề dịch vụ. Những nguyên
nhân làm cho các gia đình ở nông thôn trở nên giàu có là: do có vốn chiếm
76.8%, do biết cách làm ăn 75.3%, do có việc làm thêm 78.5%. Cụm ba
nguyên nhân trên chính là các yếu tố thuộc về điều kiện cần và đủ thúc đẩy sự
chuyển dịch ngành nghề.
- Nhân tố thuộc về vốn và tiêu thụ sản phẩm: hầu hết các ngành nghề đều gặp
khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, ngành gặp khó khăn về vốn
và tiêu thụ sản phẩm nhiều nhất là ngành tiểu thủ công nghiệp.
- Nhân tố thuộc về học vấn: ảnh hưởng tăng lên của trình độ học vấn thông qua
tăng tỷ trọng thu nhập phi nông cũng chính là kết quả tác động của tri thức
được vận dụng vào quá trình hoạt động nghề nghiệp. Nhìn chung người có học
vấn cao vẫn có điều kiện tính toán và đánh giá mọi hoạt động nghề nghiệp
cũng như nhận diện xã hội rõ ràng và sát thực hơn.