Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phát triển Thủ đô - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
TÓM LƯỢC
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và sự khủng hoảng kinh tế mấy
năm gần đây, việc duy trì và khẳng định vị thế trên thương trường là một việc
không hề đơn giản với mỗi doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì một
yếu tố không thể thiếu được đó là phải có vốn. Nguồn vốn của doanh nghiệp bao
gồm nguồn vốn được huy động từ các tổ chức hoặc các cá nhân bên ngoài doanh
nghiệp (vốn đi vay) và nguồn vốn tự có (vốn chủ sở hữu). Với tình hình kinh tế khó
khăn như hiện nay, việc huy động vốn gặp đôi chút khó khăn. Vậy quản trị và điều
hành về tỷ lệ giữa hai loại vốn này như thế nào là hợp lý, như thế nào là hiệu quả?
Ngoài ra, vấn đề là làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh
nghiệp Việt Nam đang là vấn đề bức xúc mà các nhà quản lý doanh nghiệp quan
tâm. Một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển là doanh nghiệp phải có được cái
nhìn toàn diện về ưu nhược điểm và vị thế của mình trên thị trường. Do đó, phân
tích kinh tế nói chung và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đang là vấn đề
được rất nhiều doanh nghiệp quan tâm.
Dựa trên những yêu cầu đó, em đã nghiên cứu và hoàn thành khóa luận với
đề tài “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phát
triển Thủ đô”. Khóa luận trình bày những lý luận chung nhất về phân tích hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh, đưa ra các chỉ tiêu và phân tích sự biến động của các chỉ
tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Qua đó rút ra kết luận về kết quả đã
đạt được cũng như những mặt còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của sự biến
động. Đồng thời, khóa luận cũng đưa ra một số giải pháp và kiến nghị với riêng
công ty và với nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại các
doanh nghiệp nói chung và tại công ty CP Phát triển Thủ đô nói riêng.
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tại Công ty CP Phát triển Thủ đô, được sự tạo điều
kiện của lãnh đạo công ty, sự giúp đỡ của cán bộ nhân viên phòng Kế toán cùng với
sự hướng dẫn tận tình của Th.s Đặng Thị Thư, em đã vận dụng những kiến thức

2 Bảng 2.1
Bảng 2.1: Kết quả SXKD của công ty CP Phát triển
Thủ đô trong 2 năm 2011-2012
Phụ lục
số 02
3 Bảng 2.2 Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả điều tra trắc nghiệm
4 Bảng 2.3
Bảng 2.3:Phân tích cơ cấu và sự biến động tổng vốn
kinh doanh năm 2011-2012
5 Bảng 2.4
Bảng 2.4:Phân tích cơ cấu và sự biến động tổng vốn
kinh doanh năm 2011-2012
6 Bảng 2.5
Bảng 2.5:Phân tích cơ cấu và sự biến động vốn cố định
năm 2011 -2012
7 Bảng 2.6
Bảng 2.6: Phân tích cơ cấu và sự biến động vốn lưu
động năm 2011 – 2012
8 Bảng 2.7
Bảng 2.7: Phân tích hiệu quả sử dụng tổng vốn kinh doanh
năm 2011-2012
9 Bảng 2.8
Bảng 2.8: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động
năm 2011-2012
10 Bảng 2.9
Bảng 2.9: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định của
công ty năm 2011-2012
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

doanh nào, vốn luôn là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện các hoạt động
SXKD của DN. Việc huy động vốn và sử dụng vốn có ảnh hưởng trực tiếp tới quy
mô SXKD và từ đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động SXKD và việc tái tạo vốn cho
những chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu mà mọi DN luôn hướng tới là tối đa
hóa giá trị doanh nghiệp. Nhưng để đạt được mục tiêu đó, DN phải vượt qua nhiều
thách thức từ điều kiện tự nhiên và những sức ép từ thị trường. Đối với các DNTM,
tình hình sản xuất kinh doanh bị phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường. Khi đó các
doanh nghiệp cần phải có nguồn vốn đủ mạnh nhưng quan trọng hơn là phải có
chiến lược sử dụng vốn phù hợp để vượt qua thách thức từ thị trường. Tuy nhiên có
vốn mới chỉ là điều kiện cần chưa phải là điều kiện đủ để DN đạt được mục tiêu tăng
trưởng. Vấn đề cốt yếu ở đây là DN cần sử dụng vốn như thế nào để đạt được hiệu
quả mong muốn. Do vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một yêu cầu
khách quan đối với quá trình SXKD của DN.
Về góc độ thực tế
Sau thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Phát triển Thủ đô, em nhận thấy,
công ty chưa thực sự chú trọng tới vấn đề phân tích hiệu quả SD VKD. Mặc dù,
trong các kế hoạch, định hướng phát triển của mình hàng năm, công ty đã dành một
nội dung nghiên cứu các giải pháp nhắm nâng cao hiệu quả SD VKD trong các kỳ
kinh doanh. Tuy nhiên, các kế hoạch của công ty chưa mang tính khả thi, hiệu quả
chưa rõ rệt, còn mang tính chung chung, qua loa. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là
đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và hiệu quả SD
VKD, giúp công ty vượt qua thời kỳ kinh tế khó khăn như hiện nay.
• Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
Hiệu quả SD VKD trong doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng của hoạt động
kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh phải đảm bảo cho việc thúc đẩy quá trình
bán ra, tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tăng doanh thu bán hàng, thực hiện tốt chỉ tiêu kế

2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
- Số liệu trong đề tài do đơn vị thực tập cung cấp, đó là nguồn số liệu về tình
hình thực tiễn kinh doanh và hiệu quả SD VKD của công ty trong hai năm 2011 và
năm 2012.
4. Phương pháp thực hiện đề tài
• Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu là bước đầu tiên không thể thiếu ở bất kỳ cuộc điều tra,
nghiên cứu nào. Để thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, đề tài này đã sử
dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng nhằm điều tra chuyên sâu hơn về vấn đề tình
hình sử dụng vốn tại Công ty CP Phát triển Thủ đô. Kết quả phỏng vấn trực tiếp còn
cho ta thấy quan điểm cá nhân của người được phỏng vấn về vấn đề tình hình SD
VKD của đơn vị, tiềm năng và định hướng trong tương lai, tầm nhìn chiến lược của
cấp lãnh đạo Công ty trong thời gian tới.
Các bước tiến hành phỏng vấn:
Xác định đối tượng cần phỏng vấn: Phó Giám đốc và Kế toán trưởng Công
ty.
- Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn: Các câu hỏi đưa ra trong phiếu điều tra
xoay quanh các vấn đề về VKD của công ty nhằm tìm ra nguồn vốn nào có ảnh
hưởng lớn nhất, môi trường có ảnh hưởng như thế nào đến nguồn vốn của công ty
cũng như những nguyên nhân và giải pháp mà công ty áp dụng.
- Tiến hành phỏng vấn và ghi chép lại các câu trả lời để làm tài liệu phục vụ
cho đề tài nghiên cứu.
- Tổng hợp và xử lý các thông tin thu thập được từ buổi phỏng vấn.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Ngoài việc thu thập dữ liệu từ việc phát phiếu điều tra và phỏng vấn trực
tiếp, em còn thu thập các số liệu trong 3 năm 2010 - 2012 cần thiết từ các tài liệu
sau:

Phương pháp bảng biểu được khóa luận sử dụng trong hầu hết các nội dung
phân tích. Từ phân tích cơ cấu và sự biến động cho đến phân tích hiệu quả SD
VKD. Các số liệu thu thập sẽ được đưa vào các dòng, các cột tương ứng trong mỗi
bảng để tính ra các chỉ tiêu mới. Từ các bảng biểu đã lập, khóa luận sẽ tiến hành
phân tích, nhận xét ngay phía bên dưới mỗi bảng để người đọc có cái nhìn tổng
quan về thực trạng các chỉ tiêu, thấy rõ sự biến động tăng, giảm của các chỉ tiêu
phân tích trong thời gian khác nhau.
5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục sơ đồ, bảng biểu, danh
mục từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Khóa luận bao gồm các nội
dung chính sau:
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương I: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh.
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
Chương II: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty
CP Phát triển Thủ đô.
Chương III: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh tại Công ty CP Phát triển Thủ đô.
PHẦN KẾT LUẬN
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh

hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. “Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá
đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá
và tiền mặt của doanh nghiệp”. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của
doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.
Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ
lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện
các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm
TSCĐ, nguyên vật liệu Vốn đưa vào SXKD có nhiều hình thái vật chất khác nhau
để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số tiền mà doanh
nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được các chi phí bỏ
ra, đồng thời phải có lãi. Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và
phát triển của DN.
Hiện nay khái niệm VKD được sử dụng phổ biến là: “Vốn kinh doanh là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Căn cứ vào các định nghĩa nêu trên có thể thấy VKD có các đặc trưng sau:
Thứ nhất, VKD phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể. Điều
này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô
hình như nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu, chất xám, thông tin, vị trí địa lý kinh
doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sáng chế,…
Thứ hai, VKD có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ngày hôm nay có giá
trị cao hơn một đồng vốn trong tương lai, bởi vì có thể đầu tư tiền của ngày hôm
nay để thu được những khoản thu nhập trong tương lai. Tỷ lệ lãi suất là sự đo lường
thời giá của tiền tệ, nó phản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn phải bỏ ra để
thu lợi nhuận. Điều này có nghĩa quan trọng trong đánh giá chính xác hiệu quả đầu
tư.
Thứ ba, VKD phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý
chặt chẽ. Nếu không xác định được chủ sở hữu thì việc sử dụng vốn và tài sản sẽ
gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.
Thứ tư, VKD của DN phải đạt tới mục tiêu sinh lời và luôn thay đổi hình thái

quan trọng để DN sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương lai về sức
lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở
rộng lưu thông hàng hoá.
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong sản suất kinh doanh, VKD bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
để DN tính toán hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Nó cũng là chất
keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệ kinh tế.
- VKD của DNTM là yếu tố giá trị. Nó chỉ phát huy được tác dụng khi bảo
tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn không được bảo
toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng
mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến DN mất khả năng thanh toán sẽ làm cho DN bị
phá sản, tức là VKD đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả.
1.1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh
VKD được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
• Phân loại theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này, VKD của DN được chia làm 2 loại: Vốn chủ sở
hữu và vốn vay.
- Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vố thuộc sở hữu của DN. Vốn chủ sở hữu của DN
bao gồm các khoản sau đây:
Vốn tự có: Đối với Doanh nghiệp nhà nước thì vốn tự có do NSNN cấp ban
đầu và cấp bổ sung, đối với Doanh nghiệp tư nhân thì vốn tự có do chủ doanh nghiệp
bỏ ra khi thành lập DN, các công ty liên doanh hoặc công ty cổ phần thì do các chủ
đầu tư hoặc các cổ đông đóng góp. Vốn tự có bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh.
Các quỹ hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh (Quỹ đầu tư phát
triển, Quỹ Dự phòng tài chính, Nguồn vốn xây dựng cơ bản…).
- Vốn vay: Là các khoản vốn mà DN khai thác trên cơ sở chế độ, chính sách
của nhà nước như vay ngân hàng hay các tổ chức tín dụng… Đối với khoản vốn

xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn
chủ sở hữu và nguồn vốn vay (trừ nợ dài hạn), trung hạn (trừ vay và nợ quá hạn).
Nguồn vốn này được dành cho việc đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ
tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của DN.
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn mà DN tạm thời sử dụng vào hoạt động
SXKD trong khoảng thời gian ngắn. Nguồn vốn tạm thời bao gồm các khoản vay ngắn
hạn, nợ ngắn hạn, các khoản chiếm dụng của người bán, người mua, người lao động
trong công ty.
Phân loại vốn theo cách này có ý nghĩa quan trong giúp cho DN lựa chọn nguồn
vốn phù hợp cho từng tài sản cần tài trợ.
• Phân loại theo phạm vi huy động vốn
Theo cách phân loại này, VKD được chia thành 2 loại:
- Nguồn vốn bên trong: Là nguồn vốn được huy động từ nội bộ DN, bao gồm
tiền khấu hao hàng năm, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng, các khoản thanh lý,
nhượng bán TSCĐ…Nguồn vốn này có tính chất quyết định trong hoạt động của
DN.
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
- Nguồn vốn bên ngoài: Là nguồn vốn có thể huy động từ bên ngoài DN để đáp
ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động SXKD của mình như: Vốn vay ngân hàng và các tổ
chức tín dụng, các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước…
Với cách phân loại này giúp các DN xem xét, lựa chọn trong việc sử dụng
nguồn vốn sao cho hợp lý nhằm đem lại hiêu quả cao, linh hoạt hơn và tránh được
rủi ro khi sử dụng vốn, đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
DN có vốn mới chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để DN đạt được mục
đích kinh doanh của mình. Vấn đề đạt ra có ý nghĩa tiếp theo là phải sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn huy động được. Sử dụng có hiệu quả trước hết là để DN đảm


Trong đó: - : Hệ số doanh thu trên vốn kinh doanh bình quân
- M : Tổng doanh thu thuần đạt được trong kỳ
-
: Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất, khả năng tạo ra doanh thu của đồng vốn,
cho biết một đồng VKD bình quân trong kỳ được sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu. Hệ số doanh thu trên VKD bình quân càng lớn càng tốt. Để thấy được sự
thay đổi của hệ số doanh thu trên VKD ta dùng phương pháp so sánh giữa chỉ tiêu
này của năm báo cáo với năm trước, chỉ tiêu này tăng qua các năm là tốt.
- Hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân
rong đó: - : Hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân
- P : Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ
- : Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh sức sinh lời của đồng vốn, cho biết một đồng VKD
bình quân trong kỳ được sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng LNKD.
Từ công thức trên, ta có thể viết thành công thức sau để phân tích mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố như sau:
Trong đó: -
- : Vốn kinh doanh đầu kỳ, cuối kỳ
- Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân
Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân =
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho chủ sở hữu.
• Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Hệ số doanh thu trên vốn lưu động bình quân
Trong đó: - : Hệ số doanh thu trên vốn lưu động bình quân

mô không đáng kể.
Công thức tính như sau:
Trong đó: V
tk
: Mức tiết kiệm (lãng phí)vốn lưu động
K
0
: Số ngày một vòng quay vốn lưu động kỳ gốc
K
1
: Số ngày một vòng quay vốn lưu động kỳ báo cáo
M
1
: Tổng doanh thu thuần kỳ báo cáo
Mức tiết kiệm VLĐ càng lớn cho thấy hiệu suất SD VKD càng cao và ngược
lại.
• Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Hệ số doanh thu trên vốn cố định bình quân
Trong đó: - : Hệ số doanh thu trên vốn cố định bình quân
- M : Tổng doanh thu thuần đạt được trong kỳ
- : Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh mỗi đồng VCĐ tham gia hoạt
động SXKD mang lại bao nhiêu đồng doanh thu cho DN.
- Hệ số lợi nhuận trên vốn cố định bình quân
Trong đó: - : Hệ số lợi nhuận trên vốn cố định bình quân
- P : Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ
- : Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng VCĐ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Hai chỉ tiêu này lớn và tăng qua các năm là tốt. Để phân tích chỉ tiêu này

tiêu “Tồng tài sản” tăng phản ánh khả năng sản xuất cũng như quy mô hoạt động
của doanh nghiệp tăng và ngược lại, chỉ tiêu này giảm chứng tỏ năng lực sản xuất
cũng như quy mô hoạt động của doanh nghiệp bị thu hẹp. Khi đánh giá sự biến
động của các chỉ tiêu, sự ảnh hưởng của các nhân tố quản lý, sử dụng VKD đến kết
quả kinh doanh cần phải phân tích tình tăng giảm của tổng VKD có liên hệ đến tỷ lệ
tăng giảm các chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng” và “Lợi nhuận kinh doanh”.
1.2.1.2. Phân tích tình hình biến động và cơ cấu vốn cố định
Mục đích phân tích: Đánh giá được tình hình tăng giảm và nguyên nhân
tăng, giảm, qua đó thấy được sự tác động, ảnh hưởng của VCĐ đến tình hình thực
hiện các chỉ tiêu kế hoạch DTBH.
Nguồn tài liệu: Số liệu trên Bảng cân đối kế toán của các khoản mục “Tài sản
cố định”, “Bất động sản đầu tư”, “Các khoản đầu tư tài chính dài hạn” và “Tài sản dài
hạn khác”, chỉ tiêu “Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ” và chỉ tiêu “Lợi
nhuận sau thuế” trên Báo cáo kết quả kinh doanh.
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
Phương pháp và trình tự phân tích: Phương pháp phân tích tình hình TSDH
được thực hiện trên cơ sở so sánh giữa Số cuối năm với Số đầu năm để thấy được
tình hình tăng giảm và nguyên nhân tăng giảm. Lập biểu 8 cột để tính toán, so sánh
tỷ trọng các khoản mục trên tổng số TSDH để đánh giá tình hình phân bổ TSDH, so
sánh tỷ trọng của từng khoản mục trên tổng vốn dài hạn. Phân tích sự biến động của
các khoản mục thuộc TSDH cũng giống như khi phân tích sự biến động của tổng VKD.
Ngoài phân tích sự biến động của từng khoản mục riêng rẽ còn liên hệ với tỷ lệ tăng
giảm của chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng” và “Lợi nhuận kinh doanh”. Từ đó thấy được
tình hình phân bổ, sự tác động, ảnh hưởng của VCĐ đến tình hình thực hiện chỉ tiêu kế
hoạch DTBH.
1.2.1.3. Phân tích tình hình biến động và cơ cấu vốn lưu động
Mục đích phân tích: Đánh giá tình hình tăng giảm và nguyên nhân tăng giảm
giá trị của VLĐ, qua đó thấy được việc phân bổ VLĐ của DN có hợp lý hay không

Mục đích phân tích: Phân tích hiệu quả VCĐ giúp DN đánh giá được những
kết quả đạt được có được coi là sử dụng VCĐ có hiệu quả hay không. TSCĐ luôn
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng VCĐ. Vì vậy thông qua việc phân tích hiệu quả sử dụng
VCĐ cũng giúp cho DN có thể đánh giá tình hình quản lý TSCĐ đã hợp lý hay
chưa.
Nguồn tài liệu: Số liệu các khoản mục “Tài sản dài hạn”, “Tài sản cố định”
trên Bảng cân đối kế toán, số liệu các khoản mục “Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ”, “Lợi nhuận sau thuế” trên Báo cáo kết quả kinh doanh trong các năm
2010 – 2012.
Phương pháp phân tích: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định dựa vào
việc phân tích các chỉ tiêu: Hệ số doanh thu trên VCĐ, Hệ số lợi nhuận trên VCĐ
và hàm lượng vố cố định của DN. Phương pháp phân tích là dựa trên việc so sánh
lập biểu 5 cột để so sánh giữa Số đầu năm với Số cuối năm của các chỉ tiêu ảnh
hưởng đến VCĐ của DN, từ đó làm cơ sở để đưa ra những đánh giá về hiệu quả sử
dụng VCĐ của DN.
1.2.2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Mục đích nghiên cứu: Phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ nhằm đánh giá đúng
đắn các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng VLĐ như: Hệ số doanh thu trên VLĐ, Hệ số
lợi nhuận trên VLĐ, Hệ số vòng quay VLĐ, Số ngày chu chuyển VLĐ, Hệ số vòng
quay HTK và Số ngày chu chuyển hàng tồn kho. Từ đó phân tích, đánh giá được
những nguyên nhân ảnh hưởng tăng giảm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng VLĐ.
Nguồn tài liệu: Số liệu khoản mục “Tài sản ngắn hạn”, “Hàng tồn kho”,
“Các khoản phải thu ngắn hạn”, “Nợ ngắn hạn” trên bảng cân đố kế toán, số liệu
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
các khoản mục “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, “Giá vốn hàng bán”,
“Lợi nhuận sau thuế” trên Báo cáo kết quả kinh doanh trong các năm 2010 – 2012.
Phương pháp phân tích: Phương pháp so sánh giữa Số đầu năm và Số cuối

 In và các dịch vụ liên quan đến in.
 Kinh doanh vật tư thiết bị phục vụ cho quảng cáo.
 Xây dựng, sửa chữa các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thủy
lợi, hạ tầng kỹ thuật…
 Lắp ráp, mua bán, bảo hành, bảo dưỡng và cho thuê các sản phẩm, dịch vụ,
thiết bị phục vụ ngành công nghệ thông tin, điện tử, phát thanh truyền hình,
thiết bị bưu chính viễn thông, thiết bị văn phòng .
 Kinh doanh trong một số lĩnh vực khác.
• Quá trình hình thành và phát triển của công ty
- Công ty CP Phát triển Thủ đô được thành lập tháng năm 1996. Hiện có trụ sở
chính và văn phòng giao dịch tại Hà Nội.
SV: Nguyễn Thị Thủy Lớp: K45D4
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đặng Thị Thư
- Công ty CP Phát triển Thủ đô từ khi thành lập đến nay đã và đang phát triển
không ngừng về vật chất, năng lực tài chính, không ngừng nâng cao năng lực phục
vụ khách hàng, chất lượng cuộc sống của cán bộ nhân viên, khả năng sinh lợi cho
doanh nghiệp và sự phát triển của cộng đồng. Công ty luôn hành động vì lợi ích của
khách hàng, không ngừng sáng tạo, cải cách phong cách, quy trình làm việc làm sao
cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
2.1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
• Chức năng
- Thực hiện các dịch vụ quảng cáo, phát triển thương hiệu, dàn dựng quảng
cáo;
- Trang trí nội thất, ngoại thất công trình;
- Môi giới thương mại, môi giới tiêu thụ hang hóa;
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa;
- Buôn bán: đồ điện, điện tử, điện lạnh, thiết bị văn phòng, thiết bị thu hình;
- In và các dịch vụ liên quan đến in;
- Tổ chức sự kiện, hội trợ, hội thảo, hội nghị, triển lãm;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status