Không gian văn hóa xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
=====================
NGÔ THANH MAI
KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ VĨNH HÀO,
HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học

Hà Nội - 2012

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
======================


MỤC LỤC
Mục lục…………………………………………………………………… 1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt……………………………………… …….3
Danh mục bảng…………………………………………………………….……… 4
Danh mục biểu đồ ……………………………………………………………….….5
Danh mục bản đồ………………………………………………………………… 6
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………… …….7
1.Lý do chọn đề tài………………………………………………………………… 7
2. Đôi nét về nguồn tư liệu liên quan……………………………………………… 9
3. Lịch sử vấn đề…………………………………………………………… 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……………………………… ….13
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
6. Phương pháp nghiên cứu 14
7. Ý nghĩa của đề tài 15
8. Kết cấu của đề tài 15
CHƢƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 17
1.1. Khái niệm về văn hóa và các khái niệm có liên quan 17
1.1.1. Các khái niệm về văn hóa 17
1.1.2. Khái niệm văn hóa dân gian 22
1.1.3. Khái niệm văn hóa làng và di sản văn hóa 24
1.1.4. Đại cương về không gian văn hóa 24
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của các làng xã Vĩnh Hào 22
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 22
1.2.1.1 .Vị trí địa lý …………………………………………… 22
1.2.1.2. Địa hình……………………………………………………… ………… 23
1.2.1.3. Khí hậu……………………………………………………….….……… 23
1.2.1.4. Thủy văn……………………………………… …… ………… 24
1.2.1.5. Tài nguyên thiên nhiên…………………………………………… … 24
1.2.2. Điều kiện kinh tế, xã hội…………………………………………………….28

3.1. Các công trình kiến trúc tôn giáo làng Si (Vĩnh Lại) 71
3.1.1. Đình làng Si 71
3.1.2. Đền Thánh Hai 73
7

3.1.3. Đền đức Thánh Cả 74
3.2. Các công trình kiến trúc tôn giáo làng Hồ Sen 74
3.3. Các công trình kiến trúc làng Cựu Hào 76
3.4. Các công trình kiến trúc làng Tiên Hào 80
3.5. Các công trình kiến trúc làng Đại Lại 82
Tiểu kết chƣơng 3 84
CHƢƠNG 4 : NHỮNG ĐẶC TRƢNG VỀ VĂN HÓA TINH THẦN CỦA XÃ
VĨNH HÀO, HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH 86
4.1. Vùng đất có nhiều ngƣời đi học 86
4.2. Các tín ngƣỡng dân gian 93
4.2.1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 94
4.2.1.1. Thờ cúng tổ tiên trong phạm vi gia đình………………………………… 95
4.2.1.2. Thờ cúng tổ tiên trong phạm vi dòng họ………………………………… 95
4.2.1.3. Thờ cúng tổ tiên ở các làng……………………………………………… 97
4.2.2. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng 99
4.2.3. Tín ngưỡng thờ những người có công khai phá lập làng và tổ sư các nghề . 100
4.2.4. Đạo Nho 102
4.2.5. Tín ngưỡng mang màu sắc Đạo giáo 103
4.2.6. Tín ngưỡng Phật giáo 104
4.2.7. Tín ngưỡng Thiên chúa giáo dòng Tên (Jesuste)………………………… 106
4.3. Lễ tiết trong một năm 109
4.3.1. Lễ tiết trong phạm vi gia đình 109
4.3.2. Lễ tiết chung làng xã 110
4.3.3. Lễ tiết riêng ở một số làng 119
4.4. Nghi lễ vòng đời ngƣời 121
8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 139

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
TCN Thủ công nghiệp
HTX Hợp tác xã
NXB Nhà xuất bản
GS Giáo sư
TSKH Tiến sĩ khoa học
KHXH Khoa học xã hộị
Tp Thành phố
VHTT Văn hóa thông tin
Tr Trang
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
NTM Nông thôn mới
Ha Héc ta
ĐCS Đảng cộng sản
VH - TT – DL Văn hóa – thể thao – du lịch


10

Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 1.1: Số lao động làm việc trong các ngành nghề xã Vĩnh Hào năm 2010
Biểu đồ 1.2: Tỉ lệ lao động làm việc trong các ngành nghề xã Vĩnh Hào năm 2010
Biểu đồ 2.1: Năng suất lúa bình quân qua các năm 2006, 2007, 2008, 2009 xã Vĩnh
Hào
Biểu đồ 2.2: Tổng sản lượng lúa năm 2006, 2007, 2008, 2009 xã Vĩnh Hào
Biểu đồ 2.3: Diện tích cây màu vụ đông qua các năm 2006, 2007, 2008, 2009 xã
Vĩnh Hào
Biểu đồ 2.4: Kết quả ngành chăn nuôi giai đoạn 2006 – 2010 xã Vĩnh Hào
Biểu đồ 2.5: Kết quả nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2006 -2010 xã Vĩnh Hào
Biểu đồ 2.6: Giá trị sản xuất các loại cá giai đoạn 2006 – 2010 xã Vĩnh Hào
Biểu đồ 2.7: Tổng thu nhập từ các ngành nghề thủ công cổ truyền năm 1990, 1992,
1993


12

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Làng xã Việt Nam được các nhà nghiên cứu coi là một thực thể xã hội – một
đối tượng khoa học được rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm
hàng trăm năm trở lại đây. Mặc dù các nhà nghiên cứu có mục đích, những quan
niệm và những phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng những công trình nghiên
cứu về làng xã đã để lại nhiều thành tựu, cung cấp được nhiều tư liệu mới, những
nhận định mới cho khoa học lịch sử, nâng cao tầm nhận thức về thực thể làng xã và
xã hội Việt Nam.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay còn hàng trăm làng xã vẫn chưa được nghiên
cứu một cách đầy đủ và cụ thể do nguồn tư liệu đã bị mất mát, nhiều công trình kiến
trúc bị tàn phá do chiến tranh nên việc dựng lại diện mạo của các làng xã này là

tôn giáo trong các làng xã Vĩnh Hào hiện nay không còn quy mô to đẹp như trước
đây do chiến tranh, do thời gian nhưng nó cũng để lại dấu ấn khá đậm nét về sự đan
xen văn hóa, sự dung hòa trong tiếp nhận các tôn giáo và thể hiện môt đời sống tinh
thần vô cùng phong phú của nhân dân nơi đây. Đặt trong tương quan với bối cảnh
văn hóa của toàn huyện, vùng trũng này vừa có những nét tương đồng vừa có những
điểm khác biệt. Chính điều này đã tạo nên sức lôi cuốn đối với người viết đề tài
này.
Nghiên cứu các làng cổ ở Vĩnh Hào theo hướng liên ngành như: khảo cổ,
kiến trúc, mỹ thuật, bảo tồn mới chỉ giúp chúng ta nhận biết được những nét độc
đáo ở từng khía cạnh mà chưa chỉ ra được sự tác động qua lại giữa điều kiện tự
nhiên và xã hội để hình thành nên những đặc trưng của các làng vùng chiêm trũng
Vĩnh Hào. Việc chỉ ra những đặc trưng trội của các làng xã này trong tương quan
với các làng xã khác của huyện Vụ Bản, cùng với quá trình biến đổi về xã hội và
văn hóa hiện nay không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn là một đề tài có tính thực
tiễn cấp thiết.
Cùng với dòng chảy của thời gian, đặc biệt là từ khi thực hiện chính sách cải
cách mở cửa đến nay, trước những đổi thay hàng ngày đang diễn ra ở khắp các làng
xã trong cả nước do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cũng như quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa, những nét đẹp truyền thống ở các làng quê đang ngày càng
bị mai một đi. Chính vì lẽ đó mà tác giả luận văn muốn nghiên cứu một cách toàn
diện các làng xã ở cực nam của huyện này. Trên cơ sở kết quả đạt được, đưa ra
những kiến nghị góp phần gìn giữ những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của quê
14

hương. Qua công trình nghiên cứu, chúng tôi cũng chỉ ra những biến đổi của các
làng xã phía nam từ truyền thống đến hiện đại, trong không gian văn hóa chung của
toàn huyện. Từ đó sẽ gởi mở cho chính quyền Vĩnh Hào có những giải pháp để các
làng xã này phát triển, vừa có thể theo kịp thời đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa
truyền thống địa phương, trên tinh thần hòa nhập nhưng không hòa tan trước xu thế
toàn cầu hóa.

có nguồn tư liệu vật chất bao gồm các di tích, di vật được sản sinh ra trong cuộc
sống làng quê, bao gồm đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ, và các di tích hoạt động tín
ngưỡng chung. Những làng không có đình, chùa thì có nhà thờ. Các dòng họ ngoài
nhà thờ Tổ, nhà thờ chung của cả dòng họ còn có nhà thờ các chi phái. Trong làng,
những nhà cửa, đường sá, cầu cống, công cụ sản xuất, nghề nghiệp chợ búa, các đồ
gia bảo hay đồ dùng vật dụng hàng ngày từ xưa cho đến nay đều là đều là những
chứng tích vật chất của làng quê. [17, tr .34]. Trong đề tài mà người viết lựa chọn,
các tài liệu như trên tương đối phong phú. Chúng tôi đã ghi lại được 5 thần phả ở các
làng xã Vĩnh Hào: Ngọc phả Bạch Đẳng Nhà Nuôi và Cao Lôi – hai tướng của Bà
Trưng, Ngọc phả tướng quân Đinh Lôi thời Lý Nam Đế, Ngọc phả Đông Hải Đại
vương thời Lý Đoàn Thượng và Đức ông Mạc triều công thần ký, Đức ông Lương
Kiệt Bá tướng quân tôn thần. (phần này được ghi ở phần phụ lục). Qua các thần phả
này, chúng tôi nhận thấy, những làng xã ở Vĩnh Hào đã được hình thành từ rất sớm
và các làng xã này được coi là những vùng đất tương đối thuận lợi nên được ban làm
trang ấp cho các vị tướng sau khi hoàn thành nhiệm vụ giết giặc. Mặc dù vậy, người
dân nơi đây sống bằng làm nông nghiệp là chính, những nghề thủ công sau này mới
xuất hiện.
Nguồn tài liệu truyền miệng bao gồm các truyện liên quan đến sự tích các
ngôi chùa, đền, tên các làng… Những tài liệu này cũng góp phần làm phong phú hơn
mảng văn hóa dân gian của các làng xã Vĩnh Hào.
Thêm vào đó, chúng tôi còn được cung cấp các tào liệu về hiện trạng kinh tế
của các làng xã Vĩnh Hào. Qua đó, so sánh các ngành nghề kinh tế của địa phương
trước đây để thấy được sự biến đổi của các làng xã trên các phương diện kinh tế, xã
hội và văn hóa, đưa ra những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với phong trào xây
dựng nông thôn mới hiện nay.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu khu vực học là vấn đề được ngành nghiên cứu Việt Nam học gần
đây đặc biệt quan tâm, do đó cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu theo
16


và các cơ quan nghiên cứu của nước ta. Năm 2003, Giáo sư Yumio Sakurai, tác giả
17

của chương trình được trường Đại học Quốc gia Hà Nội trao bằng Tiến sĩ khoa học
danh dự về chương trình nghiên cứu Bách Cốc.
Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều
tài liệu, dấu vết của các giai đoạn lịch sử từ thời Hùng Vương đến các triều đại
phong kiến Việt Nam. Hệ thống các di vật phong phú, các loại hình di sản văn hoá
độc đáo như lăng mộ, bia chân dung, văn bia, trống đồng, đồ đá, đạo sắc phong…
Bên cạnh đó còn có không ít những công trình khảo cứu và biên soạn của
một số tác giả địa phương như cuốn “Vụ Bản đất và người” do Phòng giáo dục
huyện Vụ Bản phối hợp với Nhà xuất bản Lao động Xã hội xuất bản năm 2008. Đây
là cuốn sách viết về lịch sử, văn hóa và các mặt kinh tế của toàn huyện nhưng
không đề cập sâu về đặc trưng văn hóa của vùng trũng cuối huyện này. Ngoài ra
còn có các cuốn sách như “Thiên Bản lục kỳ - huyền thoại đất Sơn Nam”, “Phủ Dầy
và tín ngưỡng thờ mẫu Liễu Hạnh”, “Tục thờ thần nông nghiệp – nét đẹp văn hóa”,
“Văn hóa làng trên đất Thiên Bản vùng Đồng bằng sông Hồng”… do tác giả Nhà
giáo sử học Bùi Văn Tam, người địa phương khảo cứu và biên soạn, nhưng các
công trình này chỉ nghiên cứu về các câu chuyện, tín ngưỡng và các đặc trưng văn
hóa của vùng Thiên Bản. Trong các công trình này có nhắc tới một số khía cạnh về
tôn giáo, tín ngưỡng, các công trình kiến trúc, lễ hội của vùng trũng phía cuối huyện
nhưng chỉ đề cập một cách sơ lược mà thôi. Đặc biệt phải kể đến Hội thảo khoa học
tháng 7 năm 1983 tại thành phố Nam Định với nhan đề “Chế độ điền trang thời
Trần”. Trong những báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu có liên quan đến khu
vực học, đất nước con người và danh nhân của tỉnh Nam Định, phải nói đến báo cáo
của nhà giáo, nhà sử học Bùi Văn Tam, có sự hỗ trợ phiên dịch các tư liệu Hán nôm
hữu quan của Phạm Ngọc Hàm. Báo cáo tham luận đã đề cập khá sâu sắc đến lịch
sử hình thành của huyện Vụ Bản, nhất là vùng trũng phía nam với quá trình quai đê
lấn biển, tạo dựng bãi bồi và công đức của các nhân vật lịch sử có công khai phá và
xây dựng nên miền đất này.

Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).
Chỉ ra những đặc trưng văn hóa chung và riêng ở 5 làng xã Vĩnh Hào về văn
hóa sản xuất, văn hóa vật thể và văn hóa tinh thần trong tương quan với các làng xã
xung quanh.
Qua các nguồn tài liệu (sách, báo, tạp chí, các tài liệu do Hợp tác xã Vĩnh
Hào, Ban văn hóa xã, các tài liệu do các bậc cao niên trong xã cung cấp, quá trình đi
thực tế …) cũng chỉ ra được những chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp, các
19

ngành nghề thủ công truyền thống… trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong tương quan với các làng xã khác ở vùng châu thổ sông Hồng hiện nay. Tuy
nhiên cũng đặt ra nhiều vấn đề đối với chính quyền địa phương để xây dựng các
làng xã này theo hướng phát triển bền vững.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các đặc trưng văn hóa chung của xã như văn hóa
vật chất, văn hóa tinh thần, phong tục tập quán… của 5 làng cổ gồm Kẻ Đại (Đại
Lại), Kẻ Si (Cổ Sư- làng Si còn gọi là Vĩnh Lại), Kẻ Tiên (Tiên Hào), Kẻ Sặt (Cựu
Hào) và Ấp Sến (Hồ Sen).
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các đặc trưng văn hóa của vùng từ khi
có các làng xã đến nay, nhằm tìm ra được những ưu thế để định hướng phát triển cho
vùng trong thời gian tới.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với một ngành khoa học còn non trẻ như Việt Nam học, việc dụng phương
pháp nghiên cứu nào vẫn đang còn là vấn đề tiếp tục tranh luận. Hiện nay, các nhà
nghiên cứu Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Khoa học môi trường… hay nhắc
tới phương pháp liên ngành nhưng đối tượng để áp dụng không giống nhau. Đề tài
nghiên cứu về làng xã về cơ bản là một đề tài xã hội học dân tộc. Khi nghiên cứu nó
như một đề tài lịch sử học nghĩa là biến nó thành một đề tài xã hội học lịch sử. [17,
41]. Một đề tài xã hội học lịch sử, ngoài những tài liệu quan sát trực tiếp không thể
không đặc biệt quan tâm đến những tài liệu lịch đại. Do vậy, người ta hay sử dụng

này về văn hóa sản xuất, văn hóa vật chất, văn hóa tâm linh, tinh thần của cư dân các
làng cổ xã Vĩnh Hào.
Trên cơ sở đó góp vào tìm hiểu một nét rất nổi bật của văn hóa vùng chiêm
trũng của châu thổ sông Hồng - nét đặc trưng. Qua đó cũng chỉ ra những biến đổi
tích cực và tiêu cực của vùng quê này.
Kết quả này phần nào giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để
đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn những phong tục tập quán, lối sống cộng đồng
và những nghề thủ công truyền thống của cư dân nông nghiệp cổ ven sông Hồng.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo ra, đề tài gồm 4
chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Những đặc trưng về văn hóa sản xuất của cư dân xã Vĩnh Hào
21

Chương 3: Những công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của cư dân xã
Vĩnh Hào
Chương 4: Những đặc trưng về văn hóa tinh thần của cư dân xã Vĩnh Hào
Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TSKH Nguyễn Hải
Kế. Nhân dịp hoàn thành, người viết luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Phó giáo sư về sự giúp đỡ tận tình quý báu đó.

Ở Việt Nam, văn hóa được dùng cùng với các khái niệm như văn hiến, văn
vậy. Văn hiến được dùng để chỉ truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Văn vật
được hiểu là truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và
nhiều di tích lịch sử. Sinh thời Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích cảu cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa.”[ 47 , tr.21].
GS. TSKH Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau
: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người
với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.
Tóm lại văn hóa có thể tạm quy về hai loại: Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng
như lối sống, suy nghĩ, lối ứng xử. Văn hóa theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ,
học vấn… và tùy theo từng trường hợp mà có những cách định nghĩa khác nhau.
Văn hóa cùng tồn tại với sự phát triển của con người, xã hội loài người và nó biểu
hiện khác nhau ở từng khu vực địa lý và từng vùng dân cư.
1.1.2. Khái niệm văn hóa dân gian
23

Thuật ngữ quốc tế ”folklore” - Văn hóa dân gian, được W J.Thom sử dụng
đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục
ngữ… của người thời trước”. Từ đó đến nay, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời
và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái folklore Anh – Mỹ chịu ảnh hưởng
nhân học, trường phái folklore Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp
– Italia) và trường phái folklore Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “folklore” đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi
thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là “văn học dân gian”, “văn nghệ dân gian” và nay là
“văn hóa dân gian”. Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác
nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng

với tư cách là ”nền tảng tinh thần của xã hội”, là “động lực và mục tiêu của sự phát
triển xã hội”.
1.1.3. Khái niệm văn hóa làng và di sản văn hóa
Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp,
một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp, tự túc, và là mẫu hình xã
hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia
trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy. Làng được
hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và nguyên lý
cùng chỗ. [ 47,tr. 45].
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian;
nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống;
nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian.
Về khái niệm xã: Xã là đơn vị hành chính cơ sở từ thời Lê Sơ đến thời
Nguyễn dưới cấp tổng. Hiện nay người ta vẫn gọi chung là làng xã [50, tr.398]. Có
những xã chỉ có một làng, có xã có nhiều làng. Trong luận văn này, chúng tôi dùng
khái niệm không gian văn hóa xã để chỉ những đặc trưng văn hóa của 5 làng của xã
Vĩnh Hào như một sự khoanh vùng cụ thể để nghiên cứu.
Di sản vật thể bao gồm: di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. (trích Nghị định số 98/2010/NĐ-CP)
1.1.4. Đại cương về không gian văn hóa
Trong sự phát triển của bất kỳ một dân tộc nào, một nền văn hóa nào đều có
sự tác động của điều kiện tự nhiên và xã hội dù ít hay nhiều. Tuy nhiên, điều kiện tự
nhiên và lịch sử, xã hội của mỗi vùng không giống nhau. Sự khác nhau về điều kiện
tự nhiên cũng sẽ dẫn đến sự phát triển về văn hóa có những điểm không giống nhau.
25

Tìm hiểu nét tương đồng và sự khác biệt về văn hóa cũng như sự biến đổi của một
hiện tượng văn hóa trong một không gian trên cơ sở ấy mà làm rõ cái chung và nét
riêng của từng không gian văn hóa là khá phức tạp.
Trong tâm thức dân gian Việt Nam đã có sự phân biệt giữa cái chung và cái

tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên
trong vùng đã hình thành nên những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa
khác”. [38, tr. 99].
Đặc trưng văn hóa vùng đồng thời cũng là tiêu chí quan trọng nhất để phân
vùng văn hóa. Thực chất phân vùng thuộc tư duy phân loại loại hình, mà mỗi loại
hình như vậy thường tồn tại trong một vùng nhất định. Trong phân loại loại hình
học, người ta phải lựa chọn một tập hợp các yếu tố đặc trưng còn gọi là tiêu chí phân
loại hay phân vùng. Về phương diện loại hình học và phân loại loại hình thì trong
một tập hợp các yếu tố càng nhiều và càng đặc trưng thì việc phân loại càng chính
xác. Các tiêu chí phân loại không phải là bất kỳ và ngẫu nhiên, mà chúng có mối liên
hệ hữu cơ với nhau, tạo nên thể thống nhất phản ánh bản chất của hiện tượng. Tuy
nhiên, trong tập hợp tiêu chí phân loại ấy, không phải mọi tiêu chí đều có giá trị phân
loại ngang nhau, tức là nó mang những thông tin loại hình như nhau, có một số tiêu
chí mang tính loại hình đặc trưng hơn các tiêu chí khác.
Những biểu hiện của vùng văn hóa mang tính đa dạng và thể hiện trên toàn
bộ các mặt của đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, tuy nhiên
trong đó đặc trưng hơn cả là lối sống, nếp sống của cư dân, như nếp làm, nếp ăn
mặc, đi lại giao tiếp, nếp vui chơi giải trí, phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng, lễ hội, qua
các hoạt động văn hóa – nghệ thuật, nhất là văn nghệ dân gian, văn học dân gian, âm
nhạc, dân ca, kiến trúc, trang trí dân gian, diễn xướng, sân khấu dân gian và ở chừng
mực nào đó còn thấy cả ở tâm lý và phong cách của con người.
Tuy nhiên, theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh thì những đặc trưng văn hóa vùng
kể trên không phải bao giờ cũng biểu hiện như nhau ở tất cả các vùng văn hóa khác
nhau. Trong một tập hợp những đặc trưng của mỗi vùng cụ thể có những đặc trưng
“trội”, tạo nên cái hồn, cái “tính cách” riêng của vùng đó. Người nghiên cứu phải
phát hiện được các đặc trưng “trội”, nắm bắt được cái “tính cách” ấy.
Ở một tiểu vùng chiêm trũng, không được phù sa bồi đắp thường xuyên của
sông Hồng nên các làng xã Vĩnh Hào nên đất đai vùng chiêm trũng này chỉ có thể
canh tác lúa, ít có khả năng mở rộng đất trồng các loại cây khác. Và vì như vậy nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status