1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM DUY PHƢƠNG
QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN GIA LỘC,
TỈNH HẢI DƢƠNG
QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN GIA LỘC,
TỈNH HẢI DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÍ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Ngô Quang Sơn
HÀ NỘI - 2013
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI, toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát
thông tin nhằm tích cực hoá quá trình nhận thức, kích thích hứng thú học tập,
phát triển trí tuệ, kĩ năng thực hành của HS góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học. TBDH còn góp phần đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học,
mở rộng khả năng tiếp cận với các sự vật và hiện tượng, cho phép HS có điều
kiện tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và khả năng tự học.
Thời gian qua, quản lí việc trang bị, bảo quản, sử dụng TBDH ở các
trường THCS của huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đã được quan tâm hơn, góp
phần quan trọng trong việc giữ vững, nâng cao chất lượng giáo dục của huyện.
Từ năm 2002 các trường THCS đã được trang bị TBDH theo Danh mục thiết
bị dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Từ đó đến nay quản
lí việc trang bị, bảo quản, sử dụng TBDH đã dần đi vào nền nếp. Hằng năm
các trường đều đã được cấp kinh phí và đã có kế hoạch để trang bị bổ sung
TBDH. Hầu hết các trường đã có cán bộ chuyên trách phụ trách TBDH; có
phòng chứa thiết bị, hệ thống tủ giá dần được bổ sung; phòng thí nghiệm,
phòng học bộ môn ngày càng được xây dựng nhiều; có hệ thống hồ sơ sổ quản
lí TBDH được thiết lập; công tác kiểm kê thanh lọc TBDH định kì cũng được
quan tâm. Phong trào đổi mới phương pháp dạy học làm cho CBQL, GV quan
tâm hơn đến việc sử dụng TBDH. Các biện pháp quản lí có tác động tích cực
làm cho nhiều tiết học GV đã sử dụng TBDH như một phần không thể thiếu
của tiết học giúp chất lượng các tiết học ngày càng được nâng cao đáp ứng yêu
cầu của ĐMPPDH. CBQL, GV, NV phụ trách TBDH ngày càng nghiêm túc
hơn trong quản lí TBDH. Tuy vậy, thực tế hoạt động quản lí TBDH vẫn bộc lộ
nhiều hạn chế: Công tác quản lí TBDH ở các trường còn mang tính hành chính,
chưa hiệu quả. Việc trang bị chưa có kế hoạch tổng thể và chi tiết; việc mua
sắm TBDH chưa đảm bảo về số lượng, thiếu đồng bộ (có loại thừa, có loại
thiếu), chất lượng hạn chế (độ bền, độ chính xác chưa đảm bảo, có loại mới
5
mua đã không sử dụng được); công tác bảo quản còn nhiều bất cập; thiếu cán
bộ chuyên trách; thiếu kho chứa hoặc kho chưa đủ diện tích; thiếu hệ thống tủ,
TBDH chưa cao.
Nếu chọn lựa, đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lí việc trang
bị, bảo quản và sử dụng TBDH phù hợp với thực tiễn thì sẽ góp phần
ĐMPPDH và nâng cao chất lượng giáo dục.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống cơ sở lí luận về quản lí TBDH.
5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng quản lí việc trang bị, bảo quản và sử dụng
TBDH của các trường THCS trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lí việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH
của các trường THCS trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và khả năng có hạn, tác giả chỉ tập trung nghiên
cứu và tiến hành khảo sát công tác quản lí việc trang bị, bảo quản và sử dụng
TBDH ở 15 trường trên tổng số 24 trường THCS của huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Để có cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tăng cường công tác quản lí
TBDH ở các trường THCS của huyện Gia Lộc trong giai đoạn hiện nay, đề tài
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu lí luận bao gồm: Phân tích, tổng hợp,
hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lí luận cơ bản liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
Tìm hiểu các khái niệm thuật ngữ có liên quan.
Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà nước,
Quốc hội, của ngành Giáo dục và Đào tạo về công tác quản lí TBDH.
Nghiên cứu cơ sở lí luận về trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH.
Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7
8
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí TBDH ở các trường THCS.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lí TBDH ở các trường THCS trên địa bàn
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lí TBDH ở các trường THCS trên
địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ngoài nước
Từ xưa đến nay, giáo dục luôn là một lĩnh vực khoa học mà ở bất cứ
thời đại nào, quốc gia nào cũng dành được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của
các nhà khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu các vấn đề trong giáo dục không
phải là điều dễ dàng, bởi lẽ những vấn đề đó luôn luôn có sự gắn kết, ràng
buộc với những lĩnh vực khác trong xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá xã
hội chính vì vậy nghiên cứu các biện pháp quản lí việc trang bị, bảo quản và
sử dụng TBDH của Hiệu trưởng nhằm nâng cao kết quả học tập và đổi mới
phương pháp là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Để nâng cao chất lượng
giáo dục thì trước tiên phải nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường
trong đó sử dụng hiệu quả TBDH như là một giải pháp lớn. Để sử dụng có
hiệu quả TBDH, vai trò của các biện pháp quản lí là hết sức quan trọng. Các
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu thực tiễn quản lí nhà
trường để tìm ra các biện pháp quản lí hiệu quả nhất.
Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1984
cũng như nhiều hội nghị về TBDH ở các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng định
Giáp, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức, Ngô Quang Sơn… Các tác giả này cho
ta thấy được những vấn đề chung về TBDH như vai trò của TBDH trong hoạt
động dạy học và những yêu cầu sư phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH.
Năm 2005, Chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề
tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung
tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng” mã số: B 2004 - 53 -17; tác giả
đã khẳng định vai trò quan trọng của TBDH trong các hoạt động giảng dạy,
giáo dục và học tập, đó là: “….TBDH là một bộ phận, là một thành tố không
thể thiếu được của quá trình dạy, học tích cực. TBDH vừa là một thành tố,
11
vừa là một phương tiện, một phương hướng, vừa hàm chứa nội dung của quá
trình dạy học, đồng thời tạo hứng thú nhận thức cho học viên. TBDH là một
trong những điều kiện giúp GV và học viên thực hiện tốt phương châm dạy
học phát huy tính tích cực của học viên, tích cực hoá quá trình nhận thức, quá
trình tư duy của học viên …”, đồng thời tác giả đã đưa ra hệ thống 8 giải pháp
quản lí nhằm nâng cao hiệu quả của việc trang bị, sử dụng và bảo quản
TBDH.
Như vậy, có thể nói rằng công tác quản lí TBDH có vai trò to lớn trong
việc nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác TBDH ở mỗi nhà trường. Bởi
vì, nó giúp các nhà quản lí có cái nhìn tổng quan về trình độ, tốc độ phát triển
TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở trong nước, khu
vực và trên thế giới. Đánh giá được thực trạng của TBDH, quá trình đầu tư,
trang bị, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác TBDH ở nhà trường, từ
đó hoạch định chiến lược phát triển TBDH một cách lâu dài là việc làm hết
sức cần thiết, cấp bách đối với CBQL ở các nhà trường.
Cho đến nay việc nghiên cứu quản lí TBDH ở các trường THCS huyện
Gia Lộc tỉnh Hải Dương thì chưa được đề tài nào đề cập đến. Đây là lí do để
tác giả nghiên cứu một số biện pháp quản lí việc trang bị, bảo quản và sử
từ sự vận động những tổng quan độc lập của nó. Như vậy Mác đã lột tả được
bản chất quản lí là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng
quan trọng trong quá trình phát triển của loài người. [20, tr.52]
Đề cập đến vấn đề quản lí, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế
Ngữ cho rằng. "Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu,
quản lí một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định".[30, tr.29]
Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm. "Quản lí là một hệ thống xã hội, là
khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những
phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố
của hệ". [26, tr.44]
Những quan niệm về quản lí trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau,
nhưng tác giả nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung, đó là:
13
- Quản lí là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân, đảm bảo hoàn thành các công việc và là phương thức tốt nhất để đạt
được mục tiêu chung của tập thể.
- Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể
quản lí lên đối tượng quản lí thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có
hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ
thống ổn định phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Như vậy, quản lí là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lí bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm các
thành phần:
+ Chủ thể quản lí (Người quản lí, tổ chức quản lí) đề ra mục tiêu dẫn
dắt điều khiển các đối tượng quản lí để đạt tới mục tiêu định sẵn.
+ Khách thể quản lí (đối tượng quản lí): Con người (được tổ chức thành
một tập thể, một xã hội), thế giới vô sinh (các trang thiết bị kĩ thuật ) thế giới
hữu sinh (vật nuôi, cây trồng).
- Chức năng chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể quản lí nhằm
điều hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã
đề ra và đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỉ cương
nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
- Chức năng kiểm tra đánh giá: là những hoạt động của chủ thể quản lí
tác động đến khách thể quản lí nhằm đánh giá và xử lí các kết quả vận hành
của tổ chức.
Các chức năng quản lí tạo thành một chu trình quản lí, chúng có mối
quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại, làm tiền đề cho nhau, khi thực
hiện hoạt động quản lí trong quá trình quản lí thì yếu tố thông tin luôn có mặt
trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để
tạo điều kiện cho chủ thể quản lí thực hiện các chức năng quản lí và đưa ra
các quyết định quản lí.
15
1.2.2. Quản lí giáo dục
Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất,
nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử, xã hội của loài người.
Mỗi xã hội, mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể bao giờ cũng có một nền giáo
dục tương ứng, trong đó mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và hình
thức tổ chức giáo dục phản ánh quy định của hoàn cảnh lịch sử, của toàn xã
hội đối với giáo dục. Những tinh hoa văn hóa của loài người, của dân tộc đều
được giáo dục chuyển tải tới thế hệ trẻ nhằm giúp họ khả năng tham gia mọi
hoạt động xã hội, góp phần cải tiến và phát triển xã hội. Chủ tịch Hồ Chí
Minh khi bàn về giáo dục đã chỉ rõ: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì
không nói gì đến kinh tế, văn hóa” [9, tr.22]. Giáo dục là một hoạt động xã
hội rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi
người dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội, là động lực phát triển và là nhân tố
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn quan niệm: "QLGD là tập hợp những biện pháp
tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm
bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo
sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất
lượng". 44, tr. 29
Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở mọi cấp khác nhau đến
tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình
thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự
phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em”. [21, tr. 341]
Những định nghĩa nêu trên về QLGD tuy có những cách diễn đạt khác
nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung, đó là.
QLGD là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích
của chủ thể quản lí lên đối tượng bị quản lí.
17
QLGD là sự tác động lên tập thể GV, HS và các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham
gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục tiêu đã đề ra.
Từ những vấn đề trên có thể khái quát như sau:
QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD trong
việc vận dụng nguyên lí, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt
được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động
khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học có
kế hoạch quá trình dạy học theo mục tiêu đào tạo.
QLGD có thể xem là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng
dẫn các quá trình giáo dục, những hoạt động của cán bộ, GV và HS, HS, huy
động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của nhà QLGD và
phù hợp với quy luật khách quan.
1.2.3. Quản lí nhà trường
trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ.
1.2.3.2. Quản lí nhà trường
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí nhà trường.
Trong cuốn "Cơ sở lí luận của khoa học QLGD", tác giả M.I.Kônđacốp
đã viết " Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lí nhà
trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt,
hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích
của chủ thể quản lí đến tất cả các mặt của nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận
hành tối ưu về mặt kinh tế xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và
giáo dục thế hệ đang lớn lên". [25, tr. 316]
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: "Việc quản lí nhà trường phổ thông
(có thể mở rộng ra là việc QLGD nói chung) là quản lí hoạt động dạy, học tức
là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến
tới mục tiêu giáo dục". [15, tr. 71]
Cũng theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lí nhà trường thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận
19
hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS". [15, tr. 71]
Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS”. 21, tr. 29
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: "Quản lí nhà trường là quản
lí hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này
sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục" [36, tr. 34].
Giáo trình QLGD và đào tạo của Trường Cán bộ QLGD Trung ương 2
nêu rằng, quản lí nhà trường bao gồm hai loại tác động: Tác động của những
chủ thể quản lí bên trong và bên ngoài nhà trường (là những tác động quản lí
Người ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ
thống gồm các thành tố và được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
M: Mục tiêu dạy học
N: Nội dung dạy học
P: Phương pháp dạy học
Th: Thầy
Tr: Trò
ĐK: Điều kiện
QL: Quản lí Sơ đồ 1.1. Quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học:
1.2.4. Quản lí hoạt động dạy học
Chúng ta đã biết, quản lí giáo dục là hoạt động có ý thức của nhà quản
lí nhằm đạt tới mục tiêu quản lí. Nhà quản lí cùng với đông đảo đội ngũ GV,
HS, các lực lượng xã hội… bằng hành động của mình biến mục tiêu đó thành
hiện thực. Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động
trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà
trường đều hướng vào tiêu điểm này. Vì vậy quản lí nhà trường thực chất là
QL
M
P
Tr
ĐK
Th
N
22
1.2.7. Đổi mới phương pháp dạy học
PPDH là khái niệm cơ bản của lí luận dạy học, nhưng đến nay vẫn còn
nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và thống nhất trong cách định
nghĩa, phân loại cũng như xác định mô hình cấu trúc của PPDH. Khái niệm
PPDH có thể hiểu theo nghĩa rộng là những hình thức và cách thức hoạt động
của GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục
tiêu dạy học.
PPDH là một khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện
khác nhau Có thể nêu ra một số đặc trưng của PPDH như sau: PPDH định
hướng mục tiêu dạy học; PPDH là sự thống nhất của PP dạy và PP học;
PPDH thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục; PPDH là sự thống
nhất của lôgic nội dung dạy học và lôgic tâm lí nhận thức; PPDH có mặt bên
ngoài và mặt bên trong, mặt khách quan và mặt chủ quan; PPDH là sự thống
nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học.
Do tính phức hợp của khái niệm PPDH nên việc phân loại và mô tả cấu
trúc của khái niệm PPDH rất khác nhau và theo nhiều bình diện khác nhau
như mô hình cấu trúc 2 mặt của PPDH, mô hình 3, 4 thành tố cơ bản,
Trong luận văn này, chỉ xin trình bày mô hình 3 thành tố: Quan điểm dạy học
(QĐDH) – Phương pháp dạy học (PPDH) – Kĩ thuật dạy học (KTDH).
Quan điểm dạy học: là những định hướng tổng thể cho các hành động
PP, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ
sở lí thuyết của của LLDH đại cương hay chuyên ngành, những điều kiện dạy
học và tổ chức cũng như những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có
tính cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH. Tuy nhiên các quan điểm dạy
học chưa đưa ra những mô hình hành động cũng như những hình thức xã hội cụ
thể của PP.
Phương pháp dạy học: Khái niệm PPDH ở đây được hiểu với nghĩa
hẹp, đó là các PPDH, các mô hình hành động cụ thể. PPDH cụ thể là những
tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
24
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. [29, tr. 8]
Có thể nói cốt lõi của ĐMPPDH ở trường THCS là hướng tới giúp HS
học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi
nhớ máy móc. Cụ thể là:
Đổi mới tính chất và nội dung hoạt động của GV và HS, chuyển từ dạy
học truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để
đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng hình
thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của GV.
Đổi mới các hình thức tương tác xã hội trong dạy học, chuyển từ dạy
học đồng loạt cả lớp đối diện với GV, học tập đơn phương sang tổ chức dạy
học theo các hình thức tương tác: học cá nhân, học theo nhóm
Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học:
+ Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học sinh
động, lí thú, tránh nhàm chán, đơn điệu, từ đó có thể khắc phục điểm yếu,
phát huy điểm mạnh của các hình thức tổ chức dạy học khác nhau
+ Làm cho việc học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm
sống của cá nhân HS, tạo điều kiện tổ chức học tập với hình thức điều tra,
nghiên cứu trong thực tiễn cuộc sống,
1.2.8. Hiệu quả
Trong kinh tế học, hiệu quả được hiểu là chi phí bỏ ra thấp nhất mà thu
được lợi nhuận cao nhất.
Hiệu quả trong giáo dục là sự đầu tư kinh tế trong giáo dục và kết quả
mang lại cho sự phát triển giáo dục, kinh tế - xã hội, trong đó bao gồm cả sự
đầu tư TBDH.
- Hiệu suất trong thể hiện ở một số quá trình và hoạt động sau:
1. Quản lí và tổ chức việc sử dụng, kể cả giám sát và đánh giá.
thuật. Tính đa dạng và phong phú của hệ thống tạo ra không ít trở ngại trong
quản lí và sử dụng.