Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường trung học phổ thông huyện sóc sơn, thành phố hà nội - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN THÀNH

QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUËN V¡N TH¹C Sü QU¶N Lý GI¸O DôC
HÀ NỘI – 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC


dục và Đào tạo Hà Nội đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô, cán bộ thiết bị
và học sinh của các trường Trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố
Hà Nội: trường THPT Xuân Giang, trường THPT Đa phúc, trường THPT Sóc
Sơn, trường THPT Trung Giã, trường THPT Kim Anh, trường THPT Minh Phú
đã tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý TBGD
của các nhà trường và các số liệu rất chân thực khảo sát của đề tài.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm
Văn Thuần đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi chỉ bảo cho tôi hoàn thành xuất
sắc luận văn.
Hơn nữa, tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích
lệ để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cho dù đã cố gắng, nghiêm túc triển khai nghiên cứu đề tài tuy nhiên
luận văn không thể tránh hết được những thiếu sót, tác giả luận văn rất
mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cám ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả Nguyễn Văn Thành

ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CB cán bộ
CBQL cán bộ quản lí
CSVC cơ sở vật chất

Tên bảng
Trang
2.1. So sánh quy mô phát triển các trường THPT huyện Sóc sơn giai
đoạn 2009- 2014
35
2.2. Thống kê chất lượng học lực và hạnh kiểm của học sinh các
trường THPTcông lập huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giai
đoạn 2009-2014
36
2.3. Bảng thống kê về số lượng học sinh khối 12 thi học sinh giỏi được
công nhận học sinh giỏi cấp Thành phố
37
2.4. Thống kê về chất lượng đào tạo chuyên môn, đánh giá xếp loại
theo chuẩn nghề nghiệp đội ngũ giáo viên các trường THPT năm
học 2013 – 2014
39
2.5. Thống kê cán bộ quản lý của các trường THPT huyện Sóc Sơn, Hà Nội 42
2.6. Qui mô TBGD của 06 trường THPT ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội 45
2.7. Chất lượng TBGD ở các trường THPT huyện Sóc Sơn hiện nay 46
2.8. Tính đồng bộ về cơ cấu TBGD ở các trường THPT huyện Sóc Sơn

46
2.9. Sổ tiền đầu tư mua sắm, sử chữa TBGD của các trường THPT
năm học 2013- 2014
49
2.10. Mức độ nhận thức củaCBQL, GV và học sinh về vai trò của TBGD 50
2.11. Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD đối với CBQL 54
2.12. Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD của GV 57
2.13. Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD của học sin 60
3.1: Tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 89
1

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ iv

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 6
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1. Quản lý 8
1.2.2. Quản lý giáo dục 13
1.2.3. Quản lý trường học/nhà trường 15
1.2.4. Thiết bị giáo dục 16
1.2.5. Quản lý thiết bị giáo duc 18
1.3. Vai trò của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học ở trường Trung
học phổ thông 19
1.3.1.Thiết bị giáo dục nâng cao năng lực nhận thức và rèn kỹ năng của học sinh 21

2.2. Thực trạng thiết bị giáo dục ở các trường Trung học phổ thông
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 44
2.2.1. Thực trạng quy mô thiết bị giáo dục 44
2.2.2. Thực trạng chất lượng thiết bị giáo dục 45
2.2.3 Thực trạng cơ cấu thiết bị giáo dục 46
2.2.4.Thực trạng đầu tư kinh phí mua sắm, tu sửa thiết bị giáo dục 48
2.3. Thực trạng quản lý thiết bị giáo dục ở các trường Trung học phổ
thông, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 50

3

2.3.1. Thực trạng việc nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học
sinh về vai trò của thiết bị giáo dục 50
2.3.2. Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý thiết bị giáo dục trong trường 51
2.3.3. Thực trạng về quản lý xây dựng thiết bị giáo dục 52
2.3.4. Thực trạng về quản lý việc sử dụng thiết bị giáo dục 52
2.3.5. Thực trạng về việc duy trì và bảo dưỡng thiết bị giáo dục 61
2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý thiết bị giáo dục của các
trường Trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 63
2.4.1. Mặt mạnh 63
2.4.2. Mặt yếu 64
2.4.3. Nguyên nhân của thực trạng 65
2.4.3.1 Nhóm nguyên nhân thuộc về chủ thể quản lý 65
2.4.3.2. Nhóm nguyên nhân thuộc về đối tượng quản lý 65
2.4.3.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về điều kiện, môi trường quản lý 66
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 69
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 69

Trong tình hình thế giới hiện nay, có rất nhiều tác động của quá trình
toàn cầu hóa, thế giới dần bước sang nền kinh tế tri thức, sự bùng nổ như vũ
bão về công nghệ thông tin và truyền thông làm cho giáo dục có thêm những
vai trò mới. Giáo dục và đào tạo không những là động lực cho việc vận hành
nền kinh tế tri thức mà còn là hạ tầng xã hội cho việc hình thành xã hội tri
thức - đó là nền giáo dục đặt trên cơ sở thích ứng với điều kiện, khả năng và
nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại; đang tạo ra một sức ép cho các hệ
thống giáo dục phải có sự thay đổi trong giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và cung
cấp cho xã hội những con người có khả năng: làm việc theo nhóm, hợp tác
tốt, làm công dân tốt, làm lãnh đạo tốt, năng động và sáng tạo phù hợp với
nhu cầu của xã hội mới.
Ở Việt Nam cũng phải bắt nhịp cùng sự phát triển của thế giới đang
bước vào một thời kỳ lịch sử mới, giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa-hiện
đại hóa để đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp, công nghiệp nghèo nàn
lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại, tiếp cận nền kinh tế tri thức.
Để tiến hành sứ mệnh lịch sử to lớn này Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề
thách thức của chúng ta. Hiện nay, nền giáo dục Việt Nam đang nỗ lực đổi
mới nội dung và phương pháp giáo dục và đào tạo với nhiều mô hình, biện
pháp khác nhau nhằm nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách
toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động,
chống lại thói quen học tập thụ động. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thữ IX đã chỉ rõ: “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động
lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa đất nước, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội
một cách bền vững …”. Và hơn nữa trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, Đảng ta lại tiếp tục có

2

những chỉ đạo cho nền Giáo dục:“ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng


trang bị cơ bản, đảm bảo theo các danh mục thiết bị dạy học tối thiểu trong
nhà trường phổ thông, từ đó đã tạo được động lực nhất định cho đội ngũ giáo
viên nâng cao được chất lượng dạy và học. Tuy nhiên thực trạng về trang bị,
quản lý, sử dụng, đầu tư, bảo quản thiết bị giáo dục trong các trường THPT
huyện Sóc Sơn vẫn còn nhiều bất cập, chưa phát huy được hết vai trò và tầm
quan trọng của thiết bị giáo dục trong các hoạt động giáo dục. Cụ thể: Trang
bị thiết bị dạy học còn thiếu đồng bộ, thiếu chủng loại cho các bộ môn, cho
các phòng thí nghiệm; Công tác chỉ đạo quản lý, sử dụng thiết bị giáo dục của
các nhà trường chưa được coi trọng và chưa quan tâm đúng mức; Kinh phí
cho việc mua sắm, đầu tư, sửa chữa trang thiết bị giáo dục thì hạn chế, chưa
thường xuyên; Việc bảo quản thiết bị dạy học còn nhiều bất cấp, chưa được
quan tâm sát sao dẫn đến thiết bị nhanh xuống cấp và hư hỏng nhiều; Việc sử
dụng thiết bị trong giảng dạy, trong các hoạt động giáo dục chưa được giáo
viên khai thác triệt để, một số giáo viên không sử dụng hoặc ít sử dụng thiết
bị giáo dục với nhiều lí do khác nhau như mất thời gian, mất công, mất sức,
công tác chuẩn bị còn lúng túng, cán bộ phụ trách thiếu nhiệt tình,
Mặt khác công tác quản lý thiết bị giáo dục của các trường THPT
trong huyện Sóc Sơn chưa được quan tâm và chỉ đạo sát sao, chưa có những
biện pháp tích cực trong công tác quản lý thiết bị giáo dục để nâng cao chất
lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý thiết bị
giáo dục ở các trường Trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội" nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quản lý thiết bị giáo dục ở
trường THPT và đưa ra những biện pháp quản lý thiết bị giáo dục góp phần
nâng cao chất lượng dạy học trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các trường THPT
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong
bối cảnh hiện nay.

Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở
các trường THPT công lập huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong bối cảnh
hiện nay.
6.2. Thời gian khảo sát
Thời gian khảo sát trong 5 năm (từ năm 2009 đến năm 2014).

5

6.3 Giới hạn. về khách thể khảo sát
Đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT bao gồm: 6 Hiệu trưởng và 14
Phó hiệu trưởng.
Đội ngũ giáo viên: 300 người ở các trường THPT trên địa bàn huyện.
Khảo sát 500 học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Sóc Sơn
7. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và nghiên cứu trong các văn kiện của Đảng, văn bản chỉ đạo
của Chính phủ, của UBND thành phố Hà Nội, của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội; nghiên cứu trên sách, báo chí, tạp chí, đề
tài, luận văn, luận án và các tài liệu chuyên môn liên quan đến quản lý thiết bị
giáo dục.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý của các hiệu
trưởng, phó hiệu trưởng trường THPT thuộc địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng
và một số giáo viên; khảo sát…
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về công tác quản
lý thiết bị giáo dục và các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục bậc THPT.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử lý số

dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức
được vai trò quan trọng của phương tiện dạy học trực quan. Tính trực quan
trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học
sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ được bản chất của
hiện tượng. Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói
chung và công tác quản lý TBGD nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân
nghiên cứu.
Theo quan điểm của người Ấn Độ đã từng tổng kết: tôi nghe - tôi quên,
tôi nhìn - tôi nhớ, tôi làm - tôi hiểu.
Ở Việt Nam, có câu tục ngữ cho rằng: “Trăm nghe không bằng một
thấy.”
Và hơn hết Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa của Việt Nam và thế giới
đã nói “Học phải đi đôi với hành.”

7

Thiết bị giáo dục là một trong những điều kiện cơ sở vật chất không thể
thiếu trong mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục, đã được Đảng, Nhà nước đưa
vào thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. TBGD là
công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp học sinh dễ hiểu các khái
niệm, dễ lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những kỹ năng thói
quen cần thiết, bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời
sống. Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần II, khóa VIII chỉ rõ:
“ Tất cả các trường phổ thông đều có các thiết bị tối thiểu để thực hiện các
thí nghiệm trong chương trình. Sớm chấm dứt tình trạng dạy chay, học chay
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học”.
Tuy nhiên, trong thực tế công tác sử dụng TBGD của đội đội ngũ nhà
giáo chưa đạt được kết quả như mong muốn do nhận thức về vai trò quan
trọng của TBGD, kỹ năng sử dụng còn hạn chế, thiết bị giáo dục kém chất

chất phục vụ đào tạo của trường đại học theo quan điểm quản lý chất lượng
tổng thể (TQM)”.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý thiết bị giáo dục ở các trường
THPT còn rất ít đề tài đề cập đến, đặc biệt ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội công tác này còn nhiều bất cập và hạn chế. Từ đó, tác giả nghiên cứu đề
tài: “Quản lý thiết bị giáo dục ở các trườngTrung học phổ thông huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội” nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện
pháp quản lý TBGD góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường
THPT huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay là hết sức
cần thiết.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Ngay từ trong xã hội nguyên thủy, con người phải sống theo bầy đàn,
họ phải biến đám đông ô hợp thành tập thể có sức mạnh thống nhất để chống
chọi lại với thiên nhiên và thú dữ vì mục đích sinh tồn chung của xã hội loài
người, từ đó việc tổ chức điều khiển, ra lệnh, chỉ huy đã manh nha như một sự
tất yếu, tự nhiên. Đó là nguồn gốc của của hiện tượng quản lý.

9

Nhu cầu quản lý ngày càng phát triển gắn liền với tiến trình lịch sử của
nhân loại và trở thành các quan điểm tư tưởng quan trọng đối với các nhà triết
học, dưới các chế độ khác nhau ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ trải qua các
phương thức sản xuất và trở thành một khoa học độc lập từ giữa thế kỷ XIX,
có tác động vô cùng to lớn với hiệu quả quản lý hoạt động của tất cả các lĩnh
vực xã hội. Sử gia Daniel A. Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ
như chính con người vậy” [6,tr 23].
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau như kinh tế học, giáo dục học, xã
hội học, … nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những khái niệm

quản lý
Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hoặc tập thể, đưa ra những tác động
có định hướng, có mục đích, hợp quy đến đối tượng quản lý nhằm đạt được
mục tiêu của tổ chức.
Đối tượng quản lý: là con người trong tổ chức và các nguồn lực, là đối
tượng chịu tác động có mục đích của chủ thể quản lý.
Mục tiêu quản lý: là trạng thái mong muốn của tổ chức hướng tới trong
tương lai. Nó là đích cần đạt để tổ chức ổn định và phát triển cao hơn.
Từ đó, theo quan điểm của tác giả, khái niệm quản lý được định nghĩa
như sau: “ Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý bằng các hoạt động kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra lên khách thể quản lý(đối tượng quản lý)
nhằm đạt được trạng thái mong muốn của tổ chức và để từ đó tiếp tục đưa tổ
chức phát triển. Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý
Công cụ
quản lý
Chủ thể
quản lý
Mục tiêu

Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho
phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là
điều kiện của quản lý, đúng như Lênin đã khẳng định: “Chúng ta phải hiểu
rằng muốn quản lý tốt - còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa. Thực chất
của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ
phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức
không tốt sẽ làm triệt tiêu các động lực và giảm sút hiệu quả quản lý”.
Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của thể
quản lý đến hành vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu

12

đã đề ra. Chỉ đạo thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa các chủ thể quản
lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hóa các mục tiêu
đã đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy
động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ
giữa con người với con người và quá trình giải quyết mối quan hệ đó do họ tự
nguyện và nhiệt tình phấn đấu.
Chức năng kiểm tra: Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những
giải pháp tốt nhất để đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức,
chỉ đạo. Để thực hiện hóa các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động
kiểm tra để xác định xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ
đó có những điều chỉnh cần thiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục
tiêu đã xác định.
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản
lý như: Đổi mới công tác kế hoạch hóa, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như
đối với cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và
hiệu quả quản lý.
Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hóa trong các hoạt động quản lý

xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Trên khái niệm về quản lý,
với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái
niệm về quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả Brush T: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác
động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng
quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt
nhằm đạt mục tiêu đề ra”.[23, Tr. 17].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra
là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ
trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác
định” [17].
Kế hoạch
hóa
Kiểm tra Tổ chức
Chỉ đạo
Thông tin
Quản lý

14

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý giáo dục là hệ thồng
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà
tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [27].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”[1, tr. 8].
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác

trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai
nhân tố thầy và trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng
máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [1].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc đã khẳng định: “Quản lý nhà trường hay
nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa
nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu
giáo dục đã xác định” [17, Tr. 16].
Vậy, Quản lý trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp
lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các
lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường hướng vào việc hoàn thành có
chất lượng và hiệu quả.
Quản lý nhà trường cũng như các hoạt động quản lý khác được thực
hiện thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý nhà trường được nhìn nhận từ hai góc độ:
Thứ nhất: Quản lý nhà trường được hiểu là hoạt động của các cơ quan,
các tổ chức có trách nhiệm quản lý giáo như Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng
GD&ĐT và các cấp chính quyền đối với một cơ sở giáo dục (nhà trường) cụ
thể nào đó.
Thứ hai: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của chủ
thể quản lý một cơ sở giáo dục (hiệu trưởng hoặc người có chức vụ tương

Trích đoạn Quản lý sử dụng thiết bị giáo dục Yếu tố chủ quan Cơ sở vật chất kỹ thuật trường học Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục Thực trạng quy mô thiết bị giáo dục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status