ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM PHẠM ĐỒNG THỤY Các biện pháp huy động cộng đồng tham gia quản lý
giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố
Thái Bình trong giai đoạn hiện nay
luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Ngọc Hùng Hµ néi - 2007
3
MC LC Trang
M U
6
Chng 1: C s lý lun ca vn nghiờn cu
15
1.1. Cỏc khỏi nim c bn ca ti
15
1.1.1. Khỏi nim giỏo dc
15
1.1.2. Khỏi nim qun lý
16
1.1.3. Khỏi nim xó hi hoỏ
17
4
Chương 2: Thực trạng công tác huy động cộng đồng tham gia quản lý
giáo dục THPT trên địa bàn Thành phố Thái Bình
43
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo tỉnh
Thái Bình……………………………………………………
43
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Thái Bình, thành phố Thái Bình
43
2.1.2. Công tác giáo dục - đào tạo ở tỉnh Thái Bình
44
2.1.3. Giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình…………
46
2.2. Thực trạng huy động cộng đồng tham gia quản lí giáo dục THPT
ở Thành phố Thái Bình
47
2.2.1. Nhận thức về huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục
THPT
48
2.2.2. Kết quả của huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục
THPT…………………………………………………………………
54
2.2.3. Thực trạng sử dụng các biện pháp huy động cộng đồng tham gia
quản lý giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình……
3.2.4. Nâng cao vai trò quản lý, tạo ra môi trường giáo dục thực sự
dân chủ và lành mạnh……………………………………………
75
3.2.5. Huy động các nguồn lực cho sự phát triển giáo dục THPT cả về
quy mô và chất lượng
80
3.3. Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất
82
3.3.1 Mục đích
82
3.3.2. Đối tượng
82
3.3.3. Cách tiến hành
82
3.3.4. Nội dung khảo nghiệm yêu cầu
83
3.3.5. Phân tích kết quả khảo nghiệm
83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………………………………………
85
1. Kết luận……………………………………………………………
85
2. Khuyến nghị…………………………………………………………
87
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………
89
PHỤ LỤC
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do thực tiễn
- Hệ thống giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển, quy mô
giáo dục tăng nhanh, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng
lên, chủ trương xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, gia đình và cộng đồng
chăm lo nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục,… đồng thời xã hội cũng đòi hỏi
cao hơn về cơ hội học tập và chất lượng giáo dục. Hợp tác quốc tế về giáo dục
được mở rộng thúc đẩy quá trình hội nhập của giáo dục với khu vực và trên
thế giới.
- Năm 2006 Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới. Sự kiện
này là một trong những động lực lớn thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân ta ra sức
thực hiện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước với mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
- Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ ngày 18/4/2005 đã
khẳng định thực hiện xã hội hoá nhằm mục tiêu phát huy tiềm năng trí tuệ và
vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo
dục, tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người
nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao. Chỉ có
thể thực hiện được mục tiêu trên bằng một cuộc cách mạng giáo dục vì cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng. Giáo dục cũng như các mặt công tác cách
mạng khác, phải huy động bằng được sự tham gia của nhân dân. Nhà trường
phải gắn bó với cha mẹ học sinh, phải gắn bó với cộng đồng, với xã hội, phải
thể hiện được tư tưởng của nhân dân, do dân, vì dân. Chỉ có như vậy, nhân
dân mới chăm lo cho nhà trường và mới huy động được nhân dân đóng góp trí
tuệ, công sức, tiền của để phát triển giáo dục. Khẳng định vai trò của giáo dục
trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) của
7
8
tỉnh đứng thứ 9 trong cả nước về phổ cập THCS và đang phấn đấu tiến tới
phổ cập trình độ THPT.
- Trong số 8 huyện, thành của tỉnh, vấn đề huy động cộng đồng tham
gia quản lý công tác giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình đã phát
huy được thế mạnh.
1.2. Lý do lý luận
- Huy động cộng đồng là thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm dân kiểm
tra. Gần đây đã xuất hiện một số lý thuyết quản lý đề cao vai trò của cộng
đồng trong quản lý các lĩnh vực, tuy nhiên lý thuyết này chưa được nghiên
cứu nhiều trong lĩnh vực quản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục THPT
nói riêng.
- Khoa học quản lý có các khái niệm: Xã hội hoá và quản lý dựa vào
cộng đồng.
- Lý thuyết nghiên cứu về cộng đồng cần được làm sáng tỏ nhờ nghiên
cứu về xã hội hoá. Cần làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa xã hội hoá và
sự tham gia cộng đồng, các biện pháp huy động cộng đồng.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành quản lý giáo dục là: “Các biện pháp huy động cộng đồng tham gia
quản lý giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thái Bình
trong giai đoạn hiện nay ”.
2. Lịch sử vấn đề
Huy động cộng đồng đã có sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo
dục của nhân dân ta suốt chiều dài lịch sử. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã
được kết tinh truyền thống và trở thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt
Nam. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng
xong”(Bác Hồ). Đảng ta đã vận dụng rất sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
10
mỗi kỳ thi đại học, cao đẳng nếu con em ở xã đỗ sẽ được thưởng và được nêu
gương trên đài phát thanh của xã
Gần đây các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo
dục, trên sách báo chúng ta thường gặp thuật ngữ huy động cộng đồng đối với
các hình thức hoạt động như: Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân; Dân số
Kế hoạch hoá gia đình; Thể dục thể thao; Giáo dục và đào tạo … Đại hội đại
biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định xã hội hoá là một
trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội. Ngày
18/4/2005 Chính Phủ đề ra Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về “Đẩy mạnh xã hội
hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao” để đẩy mạnh
hơn nữa quá trình xã hội hoá. Ngày 25/5/2006 Chính phủ lại ban hành Nghị
định số 53/2006/NC-CP về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung
ứng dịch vụ ngoài công lập.
Hiện nay, huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục được nhiều
nhà khoa học và nhà quản lý giáo dục các tổ chức quan tâm nghiên cứu điển
hình như: Xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ
phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục ở nước ta.
Trong cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục” của tập thể Viện Khoa học giáo
dục do Võ Tấn Quang làm chủ biên đã viết: “Xã hội hoá là con đường giải
quyết các mâu thuẫn trong giáo dục hiện nay, mở ra con đường dân chủ hoá
giáo dục, gắn với thực tiễn cuộc sống tăng cường nguồn lực cho giáo dục”
[44, tr.52].
Trong cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục”, Phạm Tất Dong coi xã hội
hoá là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt
Nam qua mỗi giai đoạn. Khái niệm xã hội hoá cũng được tác giả Nguyễn Quí
Thanh đề cập trong cuốn “Xã hội học” do Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng
đồng chủ biên. Các tác giả coi xã hội hoá được dùng với hai nội dung, trong
12
Doãn Thanh, “Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục-
đào tạo ở Hà Nội” của Nguyễn Văn Vĩnh…
Nhìn chung, vấn đề huy động cộng đồng trong giáo dục đã được nghiên
cứu trên một số quan điểm, một số nội dung và biện pháp chung. Các tác giả
thường nghiên cứu về một địa phương cụ thể, tuy nhiên chưa có công trình
nào nghiên cứu về huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục THPT trên
địa bàn Thành phố Thái Bình.
Tất cả những công trình, bài viết kể trên là những gợi ý rất bổ ích đối
với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm mục đích đánh giá thực trạng huy
động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục THPT, các biện pháp huy động
cộng đồng tham gia quản lý giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình
trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các biện pháp huy động cộng đồng
tham gia quản lý giáo dục THPT trên địa bàn thành phố.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo
dục THPT và xã hội hoá công tác giáo dục THPT .
4.2. Khảo sát thực trạng vấn đề cộng đồng tham gia quản lý giáo dục THPT,
xã hội hoá công tác giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình.
4.3. Xây dựng các biện pháp huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục
THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình thực hiện huy động cộng đồng tham
gia quản lý giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình
14
- Chỉ ra thực trạng vấn đề huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo
dục THPT trên địa bàn Thành phố Thái Bình và các biện pháp huy động cộng
đồng tham gia quản lý giáo dục THPT trên địa bàn Thành phố Thái Bình.
- Đề xuất một số biện pháp huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo
dục THPT trên địa bàn Thành phố Thái Bình.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, bản luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2:Thực trạng công tác huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục
THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình
Chương 3: Mục tiêu, nội dung và cách tiến hành các biện pháp huy động cộng
đồng tham gia quản lý giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Thái Bình.
15
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống của loài người. Giáo dục vốn là
một hiện tượng xã hội, một phương thức để tồn tại của xã hội loài người với
đặc trưng của nó là truyền thụ tri thức từ người này cho người khác, từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Có loài người thì phải có giáo dục để thực hiện chuyển
giao kinh nghiệm lịch sử xã hội, trước hết là kinh nghiệm lao động sản xuất từ
thế hệ này sang thế hệ khác để duy trì và phát triển xã hội.
thực, phát triển và nâng cao thể lực con người. Quá trình này được coi là bộ
phận của quá trình giáo dục tổng thể. Giáo dục hiểu theo nghĩa này không bó
hẹp trong môn đạo đức mà phải được hiểu là thực hiện trong tất cả các mặt
trong cuộc sống, trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội.
1.1.2. Khái niệm quản lý
Từ buổi sơ khai, khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực
hiện những mục tiêu, mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân
riêng lẻ thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ
lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung.
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý. Theo
H. Koontz (Mỹ): “Quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp
nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức), mục tiêu của
quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục
đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.”
[47, tr.33]. Theo Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách
thể quản lý) nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến. Còn Trần Kiểm thì cho
17
rằng quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số khái niệm khác nhau về quản
lý như: Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó
thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất; Quản lý là
những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp
với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung;
Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng
như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm
Khái niệm xã hội hoá (Socialization) đã được các nhà xã hội học sử
dụng để mô tả những phương cách, giá trị mà vai trò xã hội đã đề ra tạo cơ sở
cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Thuật ngữ xã hội hoá
hiện nay được dùng với hai nội dung. Nội dung thứ nhất: Khái niệm này chỉ
tăng cường sự chú ý quan tâm của xã hội đến những vấn đề, sự kiện cụ thể
nào đó mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm.
Nói cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề cụ thể đó
mà từ chỗ chỉ một nhóm, hay một cộng đồng, một bộ phận của xã hội quan
tâm, đến nay càng được đông đảo quần chúng quan tâm, đó là quá trình xã hội
hoá các vấn đề, các sự kiện như xã hội hoá giáo dục, xã hội hoá y tế, xã hội
hoá văn hoá, xã hội hoá thể dục thể thao Nội dung thứ hai: Thuật ngữ xã hội
hoá được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình chuyển biến từ chỉnh thể
sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện
của xã hội loài người. Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân.
Tại Đại hội Đảng lần thứ X thì thuật ngữ xã hội hoá trở thành một
trong những quan điểm hoạch định hệ thống các chính sách xã hội. Các vấn
đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá, nhà nước giữ
vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ
chức xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết
những vấn đề xã hội.
19
Thực hiện xã hội hoá tất yếu phải đổi mới cơ chế quản lý theo hướng
dân chủ hoá, dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra. Vì vậy, xã hội hoá và
đổi mới cơ chế quản lý trong lĩnh vực văn hoá, xã hội có liên quan mật thiết
với nhau với ý nghĩa đó có thể hiểu: Xã hội hoá gắn với chủ trương đổi mới
cơ chế quản lý trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội những năm qua chỉ rõ, nơi
nào thực hiện xã hội hoá mà không đổi mới cơ chế quản lý, vi phạm quyền
dân hiểu xã hội hoá đồng nhất với việc thu tiền, làm mất đi sự nhiệt tình thực
hiện xã hội hoá.
Một số địa phương chưa thấy hết tầm quan trọng của sự phối hợp liên
ngành, cách quản lý mang tính quyết định dẫn đến nhiều địa phương tổ chức
phối hợp rất yếu, không đồng bộ và hiệu quả không cao.
Để thực hiện có hiệu quả xã hội hoá năm 2005, Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, trong đó khẳng định thực hiện xã hội hoá
nhằm hai mục tiêu lớn :
- Phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn
xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao.
- Tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách,
người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể
thao ở mức độ ngày càng cao.
Như vậy, xã hội hoá là một chủ trương có nội dung phong phú. Đó là
quá trình vận động quần chúng, nâng cao tính tích cực, ý thức tự giác và sức
mạnh của quần chúng, là sự đổi mới về cơ chế quản lý và xây dựng hành lang
pháp lý để đa dạng hoá các hình thức hoạt động, là sự đổi mới lãnh đạo, quản
lý của Đảng và Nhà nước.
Để khuyến khích xã hội hoá các hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục,
y tế, văn hoá, thể thao, chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2006/NĐ-CP,
khẳng định: Nhà nước và xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối với sản
phẩm và dịch vụ của cơ sở ngoài công lập như các sản phẩm và dịch vụ của
21
cơ sở công lập. Nhà nước áp dụng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp
cho các cơ sở ngoài công lập để khuyến khích đầu tư tăng cường cơ sở vật
chất, nâng cao chất lượng dịch vụ. Các cơ sở ngoài công lập tham gia các dịch
vụ công do nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng,
trong chỉ đạo thực tiễn. Đó là "định nghĩa" tại văn kiện TW 4 khoá VII: " Huy
động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân, góp sức xây
dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”. Đây là một định
nghĩa khá rõ ràng, phản ánh đúng bản chất vấn đề, cô đúc được những ý chí,
những chỉ dẫn rõ ràng về xã hội hoá công tác giáo dục.
Xã hội hoá công tác giáo dục là huy động toàn thể cộng đồng cùng
tham gia vào giáo dục, cụm từ đó thường được dùng ở các nước là
"Community participation in education" (sự tham gia của xã hội vào giáo
dục). Nếu so sánh với tiếng nước ngoài thì nội hàm xã hội hoá công tác giáo
dục như đã bàn không thể dịch là Socilization mang nội hàm khác, thuật ngữ
xã hội hoá của ta tương ứng với những khía cạnh khác nhau trong nội hàm
các thuật ngữ mobiliration, community participation, hoặc nói rộng hơn là
decentralization… đang được dùng ở một số nước trong khu vực và thế giới.
Xã hội hoá tức là làm cho nó mang bản chất xã hội. Câu hỏi này thường
được đặt ra là giáo dục vốn đã mang bản chất xã hội, sao lại phải làm cho nó
mang bản chất xã hội? Giáo dục mang bản chất xã hội, xét từ nguồn gốc ra
đời của giáo dục cũng như lịch sử phát triển của giáo dục. Vấn đề đặt ra ở đây
là chất lượng và trình độ xã hội hoá, và nhất là do còn tồn tại những hạn chế
thiếu sót của hiện trạng.
Quan điểm lý luận cần quán triệt trong nghiên cứu cũng như chỉ đạo
giáo dục là cần phân biệt rõ tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hoá công
tác giáo dục không phải là một. Nghĩa là nếu không có định hướng rõ ràng tự
thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất xã hội nhưng không bao giờ đạt tới
23
trình độ xã hội hoá đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó. Nếu nói
gọn "xã hội hoá giáo dục" dễ gây tới giới hạn là chỉ nói đến tính chất của giáo
dục, tính chất này thuộc bản chất của giáo dục mà hoạt động giáo dục bình
mọi người, tức là xã hội hoá công tác giáo dục phải gồm hai vế: mọi người có
nghĩa vụ chăm lo cho giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người có quyền
đi học, học thường xuyên, học suốt đời, học để biết cách sống trong cộng
đồng và lao động để tồn tại. Hai vế này nêu rõ hai yêu cầu của xã hội hoá
công tác giáo dục là phải xã hội hoá trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối
với giáo dục phải xã hội hoá quyền lợi về giáo dục. Hai yêu cầu này có quan
hệ chặt chẽ với nhau tác động lẫn nhau và thực hiện liên kết hợp đồng với
nhau. Trong đó yêu cầu xã hội hoá quyền lợi về giáo dục là đỉnh cao, là mục
tiêu, cốt lõi của xã hội hoá công tác giáo dục, phải làm cho toàn bộ xã hội
được học, tạo ra một xã hội học tập trong thời đại ngày nay. Nếu chỉ nghiêng
về xã hội hoá trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người với giáo dục là đi chệch
hướng bản chất của một xã hội của dân, do dân, vì dân.
Ở nước ta, Đảng và Chính phủ đã từ lâu xác định rõ quan điểm chiến
lược này, tất nhiên không chỉ trong giáo dục mà trong toàn bộ sự nghiệp cách
mạng, đặc biệt là từ Đại hội lần thứ VIII cho tới nay. Các vấn đề chính sách
xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt,
đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các chức xã hội, các cá
nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội.
Luật giáo dục nước ta chỉ rõ: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều
có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và
môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu
giáo dục. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển sự nghiệp giáo dục,
thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục,
khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát
triển sự nghiệp giáo dục" [10, tr.2].