Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ LOAN CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƢỜNG CÁN BỘ HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Hà Nội - 2008 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục mở đầu
1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật ƣu đãi xã hội

Giai đoạn từ 1986 đến 1994
24
1.4.5.
Giai đoạn từ 1995 đến nay
25

Chương 2: Quy định pháp luật ƣu đãi xã hội ở Việt nam và thực
trạng áp dụng
28
2.1.
Đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội
29
2.1.1.
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
29
2.1.2.
Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước Tổng khởi
nghĩa 19 tháng Tám năm 1945
29
2.1.3.
Liệt sĩ
29 2.1.4.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
31
2.1.5.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động
31

2.2.1.2.
Đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945
đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 và thân nhân của họ
39
2.2.1.3.
Chế độ ưu đãi đối với liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ
40
2.2.1.4.
Chế độ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng
41
2.2.1.5.
Chế độ đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động
41
2.2.1.6.
Chế độ đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương
binh, thương binh loại B (gọi chung là thương binh)
42
2.2.1.7.
Chế độ đối với bệnh binh
43
2.2.1.8.
Chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa
học
45
2.2.1.9.
Chế độ đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng
chiến bị địch bắt, tù đày
45
2.2.1.10.
Chế độ đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo

ở Việt Nam
60
3.1.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội
60
3.1.1.
Pháp luật ưu đãi xã hội phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội
của đất nước
60
3.1.2.
Pháp luật ưu đãi xã hội phải đảm bảo tính toàn diện
63
3.1.3.
Pháp luật ưu đãi xã hội phải đảm bảo tính thực tiễn
64
3.1.4.
Xã hội hóa hoạt động ưu đãi xã hội, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ
giữa ba chủ thể Nhà nước, đối tượng được hưởng ưu đãi và cộng
đồng, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
65
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội
67
3.2.1.
Về đối tượng hưởng ưu đãi xã hội
67
3.2.2.
Về các chế độ trợ cấp ưu đãi
69
3.2.3.

chất, thì ngày nay lại tập trung chủ yếu vào yếu tố thời gian, không gian và tri
thức con người. Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của
giáo dục trong việc duy trì và phát triển nguồn cung cấp các tài sản trí tuệ.
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục, nên Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn để phát triển giáo dục.
Quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” được đề ra trong Đại hội Đảng
khóa VIII, được ghi vào Hiến pháp 1992 (Điều 35). Nội dung của quan điểm
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu” đã thể hiện: giáo dục là nhân tố cơ bản quyết
định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, giáo dục là bộ phận quan
trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đối với từng địa phương,
từng khu vực và cả nước, phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-
xã hội. Hiện nay, trên đất nước ta, sự nghiệp đổi mới tiếp tục được phát triển cả
chiều rộng lẫn chiều sâu; công cuộc CNH-HĐH đất nước được đẩy mạnh nhằm
thực hiện mục tiêu chiến lược đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó,
công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ (ĐNCB) của Đảng, trong đó cán bộ
các đoàn thể nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng, là một trong những khâu có ý
nghĩa quyết định. Lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo phong trào quần chúng, đưa chủ
trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, Đảng không những phải đào
tạo, bồi đưỡng ĐNCB làm công tác Đảng, công tác chính quyền, còn phải đào
tạo, bồi dưỡng ĐNCB làm tốt công tác vận động quần chúng và chất lượng
ĐNCB là yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả công tác vận động nông dân.
Với tư cách là một Trường của một đoàn thể chính trị-xã hội, Trường Cán bộ
Hội Nông dân Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ Hội các cấp từ T.Ư đến cơ sở đảm bảo nâng cao trình độ chuyên môn và năng
lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp.
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH-

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác phát triển đội ngũ giảng viên của
Trường Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam, đề xuất các biện pháp phát triển đội
ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Trường trong giai đoạn hiện
nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
3.2. Nghiên cứu thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giảng viên của Trường
Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam. 3.3. Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cán bộ Hội
Nông dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giảng viên của Trường Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ Hội Nông dân
Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh,
phân loại…
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát thực tiễn,
phương pháp xin ý kiến chuyên gia, phương pháp phỏng vấn, phương pháp
nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp xử lý số liệu thống kê để hỗ trợ,
bổ sung việc xử lý kết quả.
6. Giả thuyết khoa học
Đưa ra được các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cán
bộ Hội Nông dân Việt Nam phù hợp, khả thi góp phần mở rộng quy mô, nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường.

Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
1.1. Một số khái niệm công cụ
1.1.1. Đội ngũ giảng viên
1.1.1.1. Giảng viên
Theo Luật Giáo dục năm 2005 thì giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ
giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các trường cao đẳng, đại học và sau
đại học.
Giảng viên (nhà giáo) là nhân tố ảnh hưởng chính và quyết định đến chất
lượng của giáo dục. Lao động của họ tạo ra sản phẩm là con người được giáo
dục, đào tạo về kiến thức cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng lao động
đáp ứng nhu cầu của kinh tế-xã hội. Trong công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập
của đất nước ta hiện nay, lao động của nhà giáo trực tiếp đáp ứng nhu cầu về
nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước. Lao động của nhà giáo đồng thời hình
thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Với nguồn nhân lực hùng hậu được đào tạo sẽ góp phần vào
việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài mà Đảng và Nhà
nước đang hướng tới.
Không chỉ ý nghĩa xã hội kể trên, lao động của nhà giáo còn có ý nghĩa kinh
tế quan trọng. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghệ tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất vật chất và tinh thần khiến người


- Về trình độ chuyên môn: Phải có bằng cấp đạt chuẩn, trình độ của thầy
phải tương ứng với nhiệm vụ đào tạo được giao, có chuyên môn sâu trong lĩnh
vực mình phụ trách, có khả năng truyền đạt và xử lý tình huống. Luôn luôn trau
dồi, đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung, chương trình nhằm
đạt được mục tiêu đào tạo. Đồng thời, giảng viên phải có nghiệp vụ sư phạm, thể
hiện sự độc đáo không chỉ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả việc xử lý
những tình huống khó đòi hỏi có tính tâm lý giáo dục, nhân cách phát triển phù
hợp với các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp. Muốn có chất lượng dạy học tốt thì
nhà giáo phải có trình độ sư phạm tốt, phải có hệ thống tri thức giỏi về chuyên
môn, phải nắm được một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, phải rèn luyện
được những phẩm chất, nhân cách đặc trưng cho nghề dạy học. Điều kiện để
hình thành trình độ sư phạm là nhà giáo phải biết tích luỹ kiến thức khoa học ở
trình độ cao, phải biết nghiên cứu hoa học, phải tích cực tham gia vào các hoạt
động dạy học để tích luỹ thêm kinh nghiệm và phát huy sáng tạo trong việc giải
quyết các nhiệm vụ giảng dạy.
* Nhiệm vụ giảng viên:
- Phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật Nhà nước, thực hiện các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều lệ
trường cao đẳng và quy chế tổ chức và hoạt động nhà trường.
- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào
tạo và nhà trường đã quy định: viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng
dạy, học tập theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn.
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương
pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học.
- Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển
giao công nghệ theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn. - Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của

cao chất lượng đào tạo của cơ sở đào tạo. Để xác định được chất lượng giảng
viên cần tiến hành đánh giá giảng viên nói chung và hoạt động giảng dạy của
giảng viên nói riêng. Vậy, cần phải có tiêu chí nào để đánh giá chất lượng giảng
viên? Đây là vấn đề không phải dễ, bởi cho đến nay, chưa có thước đo chi tiết,
mang tính chuẩn chung cho tất cả các trường cao đẳng, đại học để tiến hành đánh
giá các mặt về phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm của
người giảng viên.
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, để đánh giá giảng viên, trước hết cần dựa
vào chức trách, vai trò của người giảng viên. Tuy nhiên, theo thời gian, chức
trách, vai trò của người giảng viên cũng thay đổi cho phù hợp với thực tế xã hội.
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu có chung quan điểm về cách xác định các
công việc thuộc chức trách giảng viên:
- Giảng dạy
- Nghiên cứu khoa học
- Phục vụ cộng đồng
- Bổn phận công dân với tư cách là nhà khoa học
Để đánh giá chất lượng giảng viên, có thể thông qua các kênh thông tin
khác nhau như căn cứ vào kết quả học tập và phát triển nhân cách của sinh viên,
kết quả đánh giá cán bộ định kỳ của nhà trường, của đồng nghiệp hoặc có thể
thông qua phiếu thăm dò ý kiến của sinh viên Vấn đề đặt ra là muốn đánh giá
chính xác, khách quan và công bằng cần xây dựng các tiêu chí chuẩn, phù hợp và
một quy trình đánh giá tốt.
1.1.1.3. Đội ngũ giảng viên Hiện tại có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “Đội ngũ”. Các khái
niệm về đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: đội
ngũ cán bộ công chức; đội ngũ những người tình nguyện… tất cả đều xuất phát
từ cách hiểu theo thuật ngữ “đội ngũ” thường được dùng trong lĩnh vực quân sự.
Tuy nhiên ở một nghĩa chung nhất ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp số đông người,

trường ĐH, CĐ là rất cao: thường phải tốt nghiệp ĐH loại khá giỏi và đòi hỏi
phải qua quá trình đào tạo ở mức độ cao hơn (thạc sĩ, tiến sĩ), có năng lực giảng
dạy, nghiên cứu khoa học và có phẩm chất đạo đức tốt. Bất kỳ GV nào không đủ
những điều kiện ấy trước sau gì cũng bị đào thải khỏi đội ngũ giảng dạy đại học,
cao đẳng. Quá trình giảng dạy ĐH, CĐ là quá trình sàng lọc khách quan nghiêm
ngặt ĐNGV.
1.1.1.4. Phát triển đội ngũ giảng viên
- Phát triển :
Theo từ điển Tiếng Việt-Viện ngôn ngữ học thì “phát triển” có nghĩa là
“Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, là sự vận động từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp”, theo đó cái mới, tiến bộ sẽ hình thành
và thay thế cho cái cũ, cái lạc hậu. Nét đặc trưng của phát triển là hình thức xoáy
trôn ốc và theo các chu kỳ. Việc hoàn thành một chu kỳ phát triển lại là cố hữu,
nền tảng cho một chu kỳ mới, chu kỳ mới có sự lặp lại một số đặc điểm của chu
kỳ trước đó.
Theo từ điển Anh-Việt, Viện Ngôn ngữ học thì “phát triển” (develop)
nghĩa là: Làm cho ai/cái gì tăng trưởng dần dần, trở lên hoặc làm cho trưởng
thành hơn, tiến triển hơn hoặc có tổ chức hơn”. Ngày nay khái niệm phát triển được sử dụng để chỉ cả 3 mục tiêu cơ bản
của nhân loại: phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, tạo hòa bình và
ổn định chính trị.
Mọi sự vật hiện tượng trong xã hội đều luôn luôn vận động, biến đổi và phát
triển không ngừng. Sự biến đổi đó hoặc do sự vận động nội tại trong chính bản
thân sự vật hiện tượng, hoặc dưới tác động của các tác nhân bên ngoài làm cho
sự vật hiện tượng biến đổi tăng tiến về số lượng và chất lượng. Tất cả những sự
tăng tiến này đều được coi là phát triển. Theo David C. Korten, nhà hoạt động xã
hội nổi tiếng người Mỹ: “Phát triển là một tiến trình qua đó các thành viên của
xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động

thức sáng tạo, tích cực nắm bắt và làm chủ tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ
tiên tiến… ứng dụng tạo thành kỹ năng nghề nghiệp giỏi của ĐNGV.
Công tác phát triển ĐNGV là phải tăng số lượng, không ngừng nâng cao
chất lượng, và có cơ cấu hợp lý đồng bộ, để ĐNGV đủ sức thực hiện có hiệu quả
mục tiêu ĐT của nhà trường. Phát triển ĐNGV thực hiện được tốt khi gắn kết
việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý với yếu tố chính sách đãi ngộ vật chất,
tinh thần cho người GV; tạo động lực điều kiện môi trường sư phạm để người
GV đóng góp, gắn bó lâu dài với nhà trường.
Phát triển ĐNGV thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong GD - ĐT cho
các trường cao đẳng và đại học. Trong nhà trường, quản lý phát triển ĐNGV
chính là xây dựng ĐNGV có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên
môn và năng lực sư phạm, gắn bó với nhau trong một tập thể sư phạm đoàn kết thống nhất hỗ trợ nhau để đảm bảo thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ trong
giảng dạy và NCKH.
1.1.2. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý đội ngũ
1.1.2.1. Quản lý
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: QL khi là động từ mang ý nghĩa:
- “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định
- “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình
liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ
gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp,
đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là
chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến
việc “lý” thì tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền
tảng của sự ổn định, thì hệ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản”
phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ
cân bằng động. Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương

Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả
các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi;
Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý);
Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ
quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý); và từ đó chúng ta có thể đưa ra
định nghĩa:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà
hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định
trong điều kiện biến động của môi trường.
Như vậy, quản lý là hệ thống gồm bốn chức năng:
(1) Kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý.
(2) Tổ chức: Sự chuyển hoá các ý tưởng trong kế hoạch thành hiện thực.
(3) Chỉ đạo: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích
hợp với hai chức năng trên
(4) Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý.
Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên
tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu
trình này sang chu trình theo hướng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố
xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ
sở cho việc ra quyết định trong quản lý.
1.1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ nối tiếp nhau phát triển,
tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không
ngừng tiến lên. Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ
thống, Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và

- Quản lý hành chính (sử dụng nguồn nhân lực tài chính, con người và vật
chất).
- Quản lý sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá trình
giáo dục, thành tích và quá trình học tập). Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần vì nó
được gắn với quá trình phát triển xã hội. Việc đi học của mỗi người phải là: “học
thường xuyên, học suốt đời”. Do vậy, giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ
mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lý giáo dục cũng có thể hiểu là: sự
điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản
lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra. Quản lý giáo dục từ cấp vĩ mô đến tầm
vi mô đều hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo dục để
đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất.
Đặc điểm của quản lý giáo dục:
Hệ thống giáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội, do đó quản lý giáo
dục chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, các tác động của quản lý xã hội
biểu hiện ở một số đặc điểm sau:
- Quản lý giáo dục gắn liền với việc quản lý con người, đặc biệt là lao động
sư phạm của người giáo viên. Đặc thù lao động của người giáo viên mà đối
tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi
hết sức phức tạp. Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ
thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản
thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của ngành học. Đây chính là điểm
khác biệt của lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung. Mặt khác
phương tiện lao động của giáo viên chủ yếu là phương tiện tinh thần bằng lời,
bằng tấm gương, thái độ, bằng “điểm tựa”, bằng cảm hoá… Thời gian lao động

Trích đoạn Đánh giá chung về thực trạng công tác phát triển giảng viên Trƣờng Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam. Biện pháp 2: Đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, sử dụng ĐNG Biện pháp 3: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Biện pháp 4: Tạo môi trường thuận lợi và động lực để giảng viên không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng giảng dạy Biện pháp 5: Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá ĐNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status