1
Công an các cấp, các đồng nghiệp trong và ngoài
trường. Và với sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn,
đến nay tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của
mình, tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ
quý báu ấy.
Tôi xin được bày tỏ sự kính trọng và lòng biết
ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo, đặc biệt là Tiến
sỹ: Nguyễn Trọng Hậu - Người thầy đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu,
thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin được gửi lời cản ơn chân thành 2 NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN: BP : Biện pháp.
CBQL : Cán bộ quản lý.
CĐ : Cao đẳng.
CNH : Công nghiệp hoá.
CNXH : Chủ nghĩa xã hội.
DN : Dạy nghề.
ĐH : Đại học
ĐHSP : Đại học Sư phạm.
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo.
GD&TĐ: Giáo dục và Thời đại.
GS : Giáo sư.
Mục đích nghiên cứu.
9
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
9
4.
Giả thuyết khoa học.
9
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
9
6.
Phương pháp nghiên cứu.
10
7.
Phạm vi nghiên cứu.
11
8.
Đóng góp mới của đề tài.
11
Chương 1
Cơ sở khoa học của công tác quản lý SV ngoại trú ở trường
ĐH hồng đức. 12
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
32
Chương 2
Thực trạng quản lý Sinh viên ngoại trú của trường ĐH
Hồng Đức trên địa bàn thành phố thanh hoá. 35 4 2.1.
Khái quát về quản lý công tác hoạt động chung của SV
ngoại trú trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn T.P. Thanh
Hoá.
35
2.1.1.
Điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Thanh Hoá.
35
2.1.2.
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - xã hội của TP Thanh
Hoá.
38
2.1.3.
Đặc điểm của các Phường Trường ĐH Hồng Đức cư
trú.
40
Đức trên địa bàn TP Thanh hoá.
60
3.1.
Cơ sở xuất phát của việc đề ra một số biện pháp quản lý
SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP.
Thanh Hoá.
60
3.1.1
Xuất phát từ mục tiêu GD&ĐT nói chung và mục tiêu
GD ĐH nói riêng.
60 5 3.1.2
Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của trường
ĐH Hồng Đức.
61
3.1.3
Xuất phát từ điều kiện địa lý, kinh tế, văn hoá, xã hội
củaTP Thanh Hoá, đặc biệt là vùng dân cư xung quanh
nơi trường đóng.
62
3.1.4
Xuất phát từ những kinh nghiệm tổ chức quản lý SV
ngoại trú của trường ĐH Hồng Đứctừ khi thành lập đến
nay.
ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá.
72
3.3.
Thử nghiệm một số biện pháp đã áp dụng ở trường ĐH
Hồng Đức.
75
3.4.
Khảo sát tính khả thi của các nhóm biện pháp đề xuất.
77 6 3.5
Nhn thc v ỏnh giỏ ca cỏn b khi ph (thụn),
v mc thc hin cỏc bin phỏp qun lý SV ngoi
trỳ ca trng H Hng c.
80
Kt lun & kin ngh
83
1.
Kt lun
83
2.
Kin ngh.
84
danh mc cỏc ti liu tham kho
7 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa
học -công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất phát triển mang tính bùng nổ,
trong đó tri thức khoa học, công nghệ và thông tin ngày càng đóng vai trò
quyết định đối với nền sản xuất vật chất trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt,
ngày nay khi mà “chất xám” đã trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực
tiếp, thì sự phát triển kinh tế trong tương lai sẽ chủ yếu phụ thuộc vào nhân
tố tri thức – trí tuệ. Điều đó đặt ra yêu cầu rất cao cho sự nghiệp GD&ĐT
nước ta.
Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX chỉ rõ: “Phát
triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững”. Đại hội chủ trương: “Tiếp tục nâng cao chất lượng
toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp
và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện: Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội
hoá ” (Văn kiện Đại hội Đảng IX). Đổi mới công tác quản lý giáo dục
được xem như một giải pháp quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng
GD&ĐT.
Trong những năm qua, các trường đại học nói chung, trường ĐH
Hồng Đức nói riêng đã đạt được những thành tựu nhất định. Song, nhìn
chung chất lượng và hiệu quả giáo dục còn chưa đáp ứng được yêu cầu của
giai đoạn cách mạng mới. Nguyên nhân đầu tiên của sự yếu kém đó đã
phục bất cập này.
Đề tài này góp phần làm rõ thêm thực trạng về quản lý giáo dục của
nhà trường, gia đình, xã hội và các đoàn thể đối với sinh viên ngoại trú hiện
nay. Từ đó, xác định cách quản lý sao cho phù hợp, nhằm đào tạo sinh viên
góp phần đảm bảo cuộc sống lành mạnh cả về vật chất và tinh thần của sinh
viên. Nhằm phát huy tài năng, trí tuệ của SV trong sự nghiệp xây dựng
Thành phố Thanh Hoá ngày càng văn minh và giầu đẹp. 9 Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tế trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu
là: “Những biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường ĐH Hồng
Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá”. Với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ bé công sức của mình vào việc xác định hệ thống các nhóm biện pháp
quản lý SV, đặc biệt là các nhóm biện pháp quản lý SV ngoại trú của
trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn TP Thanh Hoá.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý SV ngoại trú của
trường ĐH Hồng Đức, từ đó đề xuất một số nhóm biện pháp quản lý SV
ngoại trú, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý SV nói
riêng và chất lượng giáo dục toàn diện nói chung của nhà trường ĐH Hồng
Đức-Thanh Hoá.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý SV trong các trường ĐH.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức
trên địa bàn TP Thanh Hoá.
giáo dục, thông tin QLGD, các tài liệu nghiên cứu, dự báo về SV và liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1. Phương pháp quan sát:
- Quan sát sinh hoạt, tổ chức cuộc sống của SV ngoại trú.
- Đi thực tế, nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý SV ngoại trú của
một số trường ĐH, CĐ khác, có điều kiện tương tự trường ĐH Hồng Đức.
6.2.2. Phương pháp điều tra:
Bằng phiếu theo các biểu mẫu về thực trạng các biện pháp quản
lýSV ngoại trú ở các địa bàn trong phạm vi đề tài nghiên cứu.
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến:
Các cán bộ liên quan đến công tác quản lý SV trong và ngoài trường;
các SV ngoại trú; các gia đình cho SV thuê trọ; chuyên gia có nhiều kinh
nghiệm trong QLGD nói chung và quản lý SV nói riêng.
6.2.4. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm:
Đối với công tác quản lý SV ngoại trú thông qua các hoạt động quản
lý đã thực hiện của trường và địa phương trong thời gian qua.
6.2.5. Phương pháp thực nghiệm:
Tiến hành thử nghiệm một số biện pháp quản lý SV ngoại trú đã đề
xuất ở một vài khu phố, thôn thuộc địa bàn TP Thanh Hoá, trên cơ sở đó
đánh giá so sánh hiệu quả sử dụng các biện pháp mới so với các biện pháp
quản lý cũ.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: 12 Sử dụng toán thống kê để tổng hợp kết qủa điều tra và xử lý dữ liệu,
kết quả điều tra, khảo nghiệm.
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ
SINH VIÊN NGOẠI TRÚ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tất cả các quốc gia trên toàn thế giới đều nhận thức được rằng: Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; vì vậy, không một quốc gia nào,
một dân tộc nào lại không quan tâm đến phát triển giáo dục.
Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 TCN) – một triết gia nổi tiếng,
một nhà giáo dục lỗi lạc Trung Quốc cho rằng: Đất nước muốn yên bình,
phồn vinh người quản lý đất nước cần chú trọng tới ba yếu tố: Thứ (dân
đông); Phú (dân giàu); Giáo (dân được giáo dục). Như vậy, theo Khổng Tử
thì giáo dục là một thành tố không thể thiếu được của mỗi quốc gia. Mặt
khác, Khổng Tử còn cho rằng: Việc giáo dục là cần thiết cho mọi người
“Hữu giáo vô loại”. Trong phương pháp giáo dục, ông coi trọng việc: Tự
học, tự luyện, tu nhân; phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh,
dạy học sát đối tượng, cá biệt hoá đối tượng; kết hợp học với hành, lý
thuyết với thực tiễn, phát triển động cơ, hứng thú, ý chí người học. Nhìn
chung, cho đến ngày nay phương pháp giáo dục theo lý luận của Khổng Tử
vẫn là những bài học lớn, có giá trị cho các nhà trường, cho mỗi người làm
công tác quản lý GD&ĐT.
Ngày nay, có nhiều người cho rằng:“Nhật Bản trả thù phe đồng minh
chính bằng cải cách giáo dục Tiểu học” và từ đó cải cách sâu sắc, toàn diện
toàn bộ nền giáo dục quốc gia. Họ đã thành công! Hàn Quốc giải thích: Sở
dĩ phải có binh lính đi đánh thuê cho Mỹ ở Việt Nam vì đổi lại họ có tiền
để phát triển giáo dục (?). Như vậy, họ chấp nhận phát triển giáo dục với
cái giá phải trả cả bằng máu! để có Hàn Quốc ngày nay; từ một nước
nghèo, không có tài nguyên, sau 25 năm trở thành một nước có nền kinh tế,
kỹ thuật, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân.
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong sự phát triển của
mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Vì thế, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề quản lý nói chung và QLGD nói
riêng như: Nguyễn Minh Đạo, Cơ sở của khoa học quản lý, Nhà xuất bản 15 Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997. Chủ yếu các công trình trên nghiên cứu
về mặt lý luận quản lý, song chúng đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại
hiệu quả nhất định trong việc QLGD, quản lý trường học.
Trong cuốn: “Những bài giảng về quản lý trường học”, tập 3, tác
giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản
lý dạy và học (hiểu theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ trung tâm của nhà
trường”, và nhấn mạnh: “Phải kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và
học các bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm
làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh, trọn vẹn”.
Trước đây, do phần lớn SV học tại các trường ĐH đều có nơi ở trong
ký túc xá, nên những nghiên cứu toàn diện về quản lý SV ngoại trú hầu như
không được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến
việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như:
Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang, Công tác giáo dục
ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học (giáo trình dành cho hệ đại học tại
chức đào tạo giáo viên tiểu học), Trường ĐHSP Hà Nội I, Hà Nội 1995; Hà
Thế Ngữ (chủ biên) và nhiều tác giả: Giáo dục đạo đức và giáo dục công
dân qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, NXB Giáo dục 1996;
Huỳnh Lâm Anh Chương, Nghiên cứu thực trạng một số hoạt động ngoài
giờ lên lớp của sinh viên nội trú trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Luận văn
thuộc tính lịch sử, vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người,
thường xuyên biến đổi, nó là nội tại của mọi quá trình lao động.
Theo quan điểm điều khiển học thì: Quản lý là chức năng của những
hệ thống có tổ chức, với bản chất khác nhau (xã hội, kỹ thuật, sinh học, )
nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là tác động
hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là: “Phương thức
tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy
tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ
thống nhằm duy trì tính trồi hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới
mục tiêu” [16. tr25]
Taylor (1856 - 1915) định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác
điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành 17 công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Đó cũng là tư tưởng cơ bản của
Taylor về quản lý theo khoa học, gồm 4 điểm chính:
- Phát triển khoa học để thay thế những thao tác cũ.
- Lựa chọn công nhân một cách khoa học.
- Gắn công nhân được chọn với tổ chức lao động khoa học.
- Phân đều công việc giữa người quản lý và công nhân, phải có “cách
mạng trí tuệ” cả phía người quản lý lẫn phía công nhân nhằm tạo ra những
sự gắn bó công việc cả hai phía.
Tư tưởng quản lý cốt lõi của Taylor là đối với mỗi loại công việc dù
nhỏ nhặt nhất đều có một “khoa học” để thực hiện nó, Ông đã liên kết các
mặt kỹ thuật và con người trong tổ chức.
Theo C. Mác (C. Mark 1818-1883): Bất cứ lao động xã hội hay cộng
sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường
và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
- PGS, TS Đặng Quốc Bảo, Trường CBQL GD&ĐT cho rằng: “Hoạt
động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân
công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn
trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh
lý, phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối
hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt
được mục tiêu đề ra”.
- Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hoá và
là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học phân loại
kiến thức, giải thích các mối quan hệ - đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể
quản lý và khách thể quản lý.
- Quản lý còn là một nghệ thuật, bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt đòi
hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong những kinh nghiệm đã quan sát
được, những tri thức đã đúc kết được, người quản lý qua đó để áp dụng
những kỹ năng tổ chức con người và công việc. Xôcrat – Nhà triết học cổ Hy
Lạp đã nói: “Những người biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển công
việc hoặc cá nhân một cách sáng suốt. Trong khi những người không biết
cách làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong việc điều hành cả hai công việc này”. 19 Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát
công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu
đã đề ra.
Ngày nay, trước sự phát triển phức tạp của khoa học kỹ thuật và
những biến động không ngừng của nền kinh tế xã hội, công tác quản lý
21 Trong đó:
+ Chức năng kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, hệ thống
các hoạt động và quyết định các biện pháp tốt nhất để thực hiện được mục
tiêu đó.
+ Chức năng tổ chức là quá trình thu nhận, sắp xếp, phân bổ công
việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có
thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. ứng với
những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ
chức có hiệu quả mà người QL có thể phối hợp điều hành tốt hơn nguồn
nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát
huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá
kế hoạch thành hiện thực.
+ Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi và
tháI độ của các thành viên của tổ chức nhằm hiện thực hoá với chất lương
cao. Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập
hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, vì thế trong
quản lý phải bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong
hoạt động của bộ máy.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa
học, có sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng
tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý.
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ
thống tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch
đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các
giải pháp cơ bản để thực hiện. Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông
qua chế độ một thủ trưởng.
Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi
thành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ. Dân chủ được thể hiện ở 23 chỗ: Các chỉ tiêu, kế hoạch hành động đều được tập thể tham gia, bàn bạc,
kiến nghị các biện pháp trước khi quyết định.
Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập
trung và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán. Song, cũng
phải biết sử dụng quyền lực tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải
dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm.
1.2.1. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, Nhà nước XHCN có trách nhiệm
quản lý về mọi mặt hoạt động trong cuộc sống xã hội.
Quản lý giáo dục đối với nhà nước là: Tập hợp những tác động hợp
quy luật, được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý đến tất cả
Như vậy, các định nghĩa trên đều đề cập đến dạy và học. Trong đó,
các định nghĩa của Việt Nam đều đề cập đến đường lối giáo dục của Đảng,
do giáo dục chịu sự chi phối của Đảng, đây là nét đặc trưng của giáo dục
XHCN. Tập trung mục tiêu giáo dục là con người: Tạo điều kiện cho
HSSV phát triển toàn diện và hoàn thiện nhân cách cho mọi công dân.
Quản lý Giáo dục như sau:
+ QLGD là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục
đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý.
+ QLGD là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối
hợp, tác động, tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt
mục đích đã định.
+ Trên cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng: Thực chất của nội dung
QLGD là nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của
người học.
1.2.2. Quản lý trường học
Trường học là đơn vị cơ sở mà ở đó tiến hành quá trình GD&ĐT.
Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến
tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.
Nhà trường tổ chức cho việc kiến tạo xã hội nói trên đạt được các mục tiêu
xã hội và đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một
cách tối ưu theo quan niệm xã hội. 25 Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội,
trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, nó là tế bào cơ sở, là chủ chốt
của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Vì vậy,