Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRẦN THỊ THUÝ NGÂN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SINH VIÊN NGOẠI TRÚ
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HÀ NỘI – 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Phương pháp nghiên cứu
3
7. Phạm vi nghiên cứu
4

1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sinh viên ngoại trú
27
Kết luận chương 1

35 Chương 2: Thùc tr¹ng Sinh Viªn ngo¹i tró vµ
c«ng t¸c qu¶n lý Sinh viªn ngo¹i tró cña
tr-êng §¹i häc Ngo¹i ng÷ - §¹i häc Quèc gia
Hµ Néi
36
2.1. Khái quát về trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
36
2.2. Thực trạng sinh viên ngoại trú trường Đại học Ngoại ngữ - Đại
học Quốc gia Hà Nội
39
2.2.1. Cơ cấu sinh viên
39
2.2.2. Đặc điểm
41
2.2.3. Địa bàn cư trú
41
2.2.4. Hoạt động
42
2.2.5. Lý do và điều kiện ở ngoại trú
46
2.3. Thực trạng công tác quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại
học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
50

66
3.2. Đề xuất một số biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú ở trường
Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
66
3.2.1. Xây dựng những quy định cụ thể về quản lý sinh viên ngoại trú
66
3.2.2. Hình thành bộ phận chuyên trách quản lý sinh viên ngoại trú và
hoàn thiện cơ chế phối hợp các lực lượng trong việc quản lý sinh viên
ngoại trú
69
3.2.3. Lập kế hoạch công tác quản lý sinh viên ngoại trú
72
3.2.4. Tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch quản lý sinh viên ngoại trú
76
3.2.5. Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác quản lý sinh viên ngoại trú
81
3.3. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
90
1. Kết luận
90
2. Khuyến nghị
91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
PHỤ LỤC

Trong hoạt động quản lý của các trƣờng đại học thì quản lý SV giữ vai
trò đặc biệt quan trọng bởi SV là đối tƣợng của quá trình đào tạo. Quản lý
đƣợc đối tƣợng này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà
trƣờng. Trong nội dung quản lý SV có nội dung quản lý SV ngoại trú. Hiện
nay, đây là vấn đề gây bức xúc và đƣợc sự quan tâm, lo lắng của nhà trƣờng,
gia đình và cả xã hội
Môi trƣờng sống phức tạp với không ít các tệ nạn xã hội trong khi đó
SV là đối tƣợng rất dễ bị tác động, lôi kéo. Hơn nữa, an ninh trật tự không tốt,
điều kiện ăn ở thấp, môi trƣờng sống không lành mạnh, SV phải thƣờng
xuyên thay đổi chỗ ở… là những vấn đề nổi cộm trong SV ngoại trú hiện nay.
Những vấn đề này ảnh hƣởng trực tiếp đến công tác đào tạo của nhà trƣờng.
Trong khi đó, theo thống kê ở các trƣờng đại học, trung bình có tới 80% SV
phải ở ngoại trú. Vậy phải làm sao để quản lý đƣợc đối tƣợng này nhằm hạn
chế ở mức thấp nhất những tiêu cực nảy sinh và những khó khăn trong đời 2
sống của SV ngoại trú để SV yên tâm học tập và rèn luyện là vấn đề đang đặt
ra hiện nay.
Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN là một trƣờng đại học đầu
ngành của cả nƣớc về đào tạo ngoại ngữ, có sứ mạng là“Đào tạo và bồi
dưỡng giáo viên ngoại ngữ cho hệ thống giáo dục quốc dân và hầu hết các
lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước; đào tạo cán bộ biên, phiên dịch,
chuyên gia nghiên cứu ngoại ngữ; đồng thời thực hiện đào tạo ngoại ngữ và
tiếng Việt cho người nước ngoài, từ đó định ra các mục tiêu cơ bản để hoàn
thành nhiệm vụ chiến lược mà Đảng, nhà nước, Bộ Giáo dục & Đào tạo và
ĐHQGHN giao phó, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình
hội nhập quốc tế của đất nước”. Để hoàn thành sứ mạng lớn lao đó, lãnh đạo
và toàn thể cán bộ, giảng viên trong trƣờng đang không ngừng nỗ lực để xây
dựng nhà trƣờng.

4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý SV trong các trƣờng đại học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý SV ngoại trú của trƣờng Đại
học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
5. Giả thuyết khoa học
Nếu tìm ra đƣợc những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trƣờng
Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản
lý của nhà trƣờng nhƣ đƣợc xác định trong đề tài thì công tác quản lý SV
ngoại trú của trƣờng sẽ có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lƣợng đào
tạo của nhà trƣờng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phƣơng pháp phân tích lý thuyết
- Phƣơng pháp tổng hợp lý thuyết
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp quan sát
- Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi 4
- Phƣơng pháp phỏng vấn
- Phƣơng pháp chuyên gia
- Phƣơng pháp thống kê toán học
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý SV ngoại trú của
trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN với đối tƣợng là SV hệ chính quy.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo,
luận văn đƣợc trình bày thành ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Nội, Hà Nội 1995; Hà Thế Ngữ (chủ biên) và nhiều tác giả - “Giáo dục đạo
đức và giáo dục công dân qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” –
Nhà xuất bản Giáo dục 1996; Huỳnh Lâm Anh Chƣơng - “Nghiên cứu thực
trạng một số hoạt động ngoài giờ lên lớp của SV nội trú trường Đại học Sư 6
phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội, 1999 …
Những năm gần đây, ở hầu hết các trƣờng Đại học, Cao đẳng, Trung
học Chuyên nghiệp do cơ sở vật chất hạn hẹp, KTX của trƣờng chỉ đủ sức
chứa khoảng 20% tổng số HSSV, còn 80% HSSV phải ở ngoại trú tại gia
đình, tại các nhà trọ. Môi trƣờng sống phức tạp đã làm cho tình hình SV ngoại
trú có nhiều vấn đề nổi cộm. Năm 2002 Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Quy
chế Công tác HSSV ngoại trú trong các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp. Đây thực sự là một bƣớc đột phá trong việc tạo hành lang
pháp lý cho công tác quản lý SV ngoại trú và cũng là cái mốc đƣa vấn đề
quản lý SV ngoại trú thành một vấn đề cần phải nghiên cứu.
Xung quanh vấn đề này đã có một vài tác giả chọn làm nội dung nghiên
cứu nhƣ: “Các giải pháp quản lý lối sống SV ngoại trú các trường Đại học,
cao đẳng tại Hà Nội”; Đặng Nam Thắng, Luận văn Thạc sỹ Trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội, 2006; “Một số biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả
rèn luyện của SV trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam”, Nguyễn Thị Kim
Thoa, Luận văn thạc sỹ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2006… Tuy nhiên,
những nghiên cứu này mới dừng lại ở một khía cạnh nhỏ của công tác quản lý
SV ngoại trú.
Vài năm lại đây, đã xuất hiện một số tác giả chọn vấn đề quản lý SV
ngoại trú làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình nhƣ: “Những biện
pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Hồng Đức trên địa bàn thành
phố Thanh Hóa” của tác giả Hà Ngọc Hòa - Luận văn thạc sỹ quản lý giáo

hệ giữa con ngƣời với chính bản thân mình. Trong quá trình đó đã xuất hiện
một số ngƣời có năng lực chi phối đƣợc ngƣời khác, cũng nhƣ điều khiển mọi
hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung. Những ngƣời đó đã
đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về
quản lý. Nhƣ vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm nhƣ một yếu tố cần 8
thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hƣớng tới những mục tiêu chung và
nó tồn tại, phát triển đến ngày nay.
Nói đến hoạt động quản lý, ngƣời ta thƣờng nhắc đến ý tƣởng sâu sắc
của C.Mác: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hoà sự hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những
khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng" [9, tr.480].
Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trƣờng mà trong đó con
ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [17, tr.33].
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau
cũng đã đƣa ra những khái niệm quản lý:
Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc
Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu
của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra” [11, tr.1].
Một xu hƣớng nghiên cứu phƣơng pháp luận quản lý ở Việt Nam trong
cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo,

Nhƣ vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi
một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý
nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nƣớc, các nhà điều
khiển học thiên về quan điểm hệ thống. Cho nên khi đƣa các định nghĩa về
quản lý, các tác giả thƣờng gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc
nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Nhƣng, bất cứ một tổ
chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một 10
doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp đến một tập thể nhỏ nhƣ tổ
chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Ngƣời quản lý và đối
tƣợng đƣợc quản lý. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất
cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt
một mục tiêu chung. Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh
hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và
tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt đƣợc hiệu quả quản lý cao nhất.
 Các chức năng quản lý
- Chức năng kế hoạch hóa:
Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành
tựu tƣơng lai của tổ chức và các con đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc
mục tiêu, mục đích đó. Chức năng kế hoạch hoá có ba nội dung cơ bản là:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức;
+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các
nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc các mục tiêu này.
+Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc các
mục tiêu, xác định các hoạt động ƣu tiên.
- Chức năng tổ chức.
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các
nguồn nhân lực để thực hiện hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách

một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham
gia của hai yếu tố quan trọng là thông tin và quyết định. Trong đó thông tin có
vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một
quá trình quản lý tiếp theo.
 Phương pháp quản lý
Phƣơng pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích đặt ra. Trong quản lý hiện đại,
phƣơng pháp quản lý đƣợc đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học
xã hội và khoa học hành vi. Phƣơng pháp quản lý rất phong phú, đa dạng và 12
tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phƣơng pháp khác nhau hoặc
kết hợp các phƣơng pháp với nhau.
- Phƣơng pháp thuyết phục là phƣơng pháp dùng lý lẽ để tác động đến
nhận thức của con ngƣời.
- Phƣơng pháp kinh tế: là sự tác động của chủ thể đến đối tƣợng thông
qua các lợi ích kinh tế.
- Phƣơng pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ thể
tới đối tƣợng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính.
- Phƣơng pháp tâm lý, giáo dục: đây là cách thức tác động đến đối
tƣợng thông qua tâm lý, tình cảm, tƣ tƣởng.
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1. Quản lý giáo dục
QLGD là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý mọi hoạt động
giáo dục trong xã hội.
Theo tác giả M.Rađacốp thì: “QLGD là tập hợp các biện pháp tổ chức
cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình
thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở
rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng” [28, tr.22].

của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên,
học sinh và các lực lƣợng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo
dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trƣờng” [32, tr.205].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “quản lý nhà trƣờng là quản lý hoạt
động dạy và học tức là làm sao đƣa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng
thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [26, tr.34].
Quản lý nhà trƣờng thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt;
các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trƣờng. Đó
là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của 14
chủ thể quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành
giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc.
Quản lý nhà trƣờng gồm:
- Quản lý chƣơng trình dạy-học và giáo dục của nhà trƣờng;
- Quản lý HS (quản lý các hoạt động của HS);
- Quản lý giáo viên, phát triển nghề nghiệp của ngƣời thày;
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thƣ viện của nhà trƣờng, đảm
bảo cho nhà trƣờng hoạt động để đạt đƣợc mục tiêu giáo dục đề ra.
1.2.3. Biện pháp quản lý
Biện pháp tiếng Anh gọi là “measure”: hành động để thực hiện một
mục đích.
Theo từ điển Tiếng Việt, biện pháp đƣợc hiểu là cách làm, cách giải
quyết một vấn đề cụ thể (33, tr.64) .
Biện pháp là một bộ phận của phƣơng pháp, điều đó có nghĩa là để sử
dụng một phƣơng pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau.
Biện pháp quản lý (managerial measure) là cách quản lý, cách giải
quyết những vấn đề liên quan đến quản lý. Vì đối tƣợng quản lý phức tạp nên
đòi hỏi các biện pháp quản lý phải đa dạng, phong phú, linh hoạt, phù hợp với

Luật giáo dục đã thống nhất cách gọi đối với SV nhƣ sau:
Sinh viên là ngƣời đang học tại các trƣờng cao đẳng, trƣờng đại học
[4, tr.73].
Nhƣ vậy, tất cả những ngƣời học ở bậc cao đẳng và đại học đều đƣợc
gọi là sinh viên.
Ngày nay, “học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội
và học tập là công việc suốt đời. Các trƣờng cao đẳng và đại học mở rộng cửa
cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi,
giới tính, giàu nghèo…đều có thể học bằng nhiều con đƣờng, hình thức khác 16
nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2… Do đó, với khái niệm SV nhƣ trên thì
ngoại diên của nó rất rộng.
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tƣợng là
SV hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này nhƣ sau:
- Đó là những ngƣời đã tốt nghiệp trung học phổ thông
- Họ đã vƣợt qua kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và đỗ vào trƣờng
- Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi.
- Họ chƣa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ thuộc gia
đình về kinh tế.
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các
tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị
nghề nghiệp chuyên môn để bƣớc vào một nhóm xã hội mới là tầng
lớp tri thức trẻ.

1.2.4.2. Sinh viên ngoại trú
Theo Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trƣờng Đại học, Cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số
43/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 10 năm 2002 của Bộ trƣởng Bộ Giáo


Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp,
khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hƣớng hoạt động của đối tƣợng quản lý vào
mục tiêu đã đƣợc xác định trƣớc thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ
quản lý.
Nhƣ vậy, xét cho cùng thì biện pháp quản lý SV ngoại trú chính là một
loại công cụ quản lý HSSV ngoại trú, nhằm từng bƣớc đƣa HSSV ngoại trú đi
đến mục tiêu của công tác HSSV ngoại trú. Bởi vì công cụ quản lý là những
phƣơng tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hƣớng, dẫn dắt,
khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con ngƣời và cộng đồng trong việc
đạt mục tiêu đề ra.
1.3. Công tác quản lý sinh viên trong các trƣờng đại học
1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong trường đại học
Trong số những ngƣời đƣợc giáo dục - đào tạo để có thể đủ sức làm
chủ nền khoa học, công nghệ hiện đại của nƣớc nhà sau này thì SV là ngƣời
tiêu biểu, là những ngƣời đang đƣợc đầu tƣ, đang đƣợc đào tạo ở giai đoạn
cuối cùng trong nhà trƣờng một cách có hệ thống. Đó là nguồn lực con ngƣời
lao động có chất lƣợng và trình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lƣợng ƣu tú
Chủ thể quản lý
Xác định
Đối tƣợng quản lý
Mục tiêu quản lý

Thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status