LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi
lời cảm ơn tới:
- Phòng Quản lý Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Phòng
Đào tạo và các Phòng ban liên quan của Học viện Quản lý giáo dục cùng
toàn thể các thầy cô giáo đồng thời là các nhà khoa học giàu kinh nghiệm sư
phạm đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và góp ý kiến cho tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
- Lãnh đạo, Ban chấp hành Công đoàn và các chuyên viên Cục Đào tạo
với nước ngoài – Bộ Giáo dục và Đào tạo đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
- Gia đình và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, ủng hộ về
vật chất và tinh thần trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Phúc
Châu đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa
học này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian có hạn và bản thân còn
những hạn chế nhất định trong kinh nghiệm quản lý giáo dục nên luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong nhận được những ý kiến
chỉ bảo của thầy cô giáo và góp ý của đồng nghiệp để các công trình khoa
học tiếp theo của mình có chất lượng hơn.
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Tâm
1
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CNH: công nghiệp hóa
CNXH: chủ nghĩa xã hội
ĐH: đại học
ĐSQ: đại sứ quán
ĐTVNN: Đào tạo với nước ngoài
học tại nước ngoài
35
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: Thực trạng quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước
ngoài bằng ngân sách Nhà nước của Cục Đào tạo với nước ngoài –
Bộ Giáo dục và Đào tạo
40
2.1. Khái quát chung về công tác quản lý sinh viên du học tại nước
ngoài của Việt Nam
40
2.2. Kinh nghiệm quản lý sinh viên du học của một số nước trong khu
vực
47
2.3. Thực trạng quản lý quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước
ngoài của Cục Đào tạo với nước ngoài bằng NSNN
50
2.4. Nhận định chung về thực trạng quản lý sinh viên Việt Nam du học
tại nước ngoài bằng NSNN
62
Tiểu kết chương 2 70
3
Chương 3: Biện pháp quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước
ngoài bằng ngân sách Nhà nước trong giai đoạn hiện nay 72
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 72
3.2. Các biện pháp quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước ngoài
bằng ngân sách Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
75
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.4. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
Tiểu kết chương 3 97
cũng không nằm ngoài xu thế chuyển đổi đó, đang phát triển KT-XH trong
bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
Một trong những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế đã
được nêu rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Cộng sản Việt Nam “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và
đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức”. Để đạt được mục
tiêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã xác định điều kiện tiên quyết là chúng ta
phải có nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá
(CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước.
Hiện nay, nhân lực của nước ta vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng đầy đủ và có
hiệu quả các yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) và chủ động trong hội nhập quốc tế, thực thi cam kết với
WTO, chúng ta phải chấp nhận cơ chế thị trường trong một số lĩnh vực như
giáo dục đại học (ĐH), giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, trong
đó, có vấn đề liên kết hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài (NN), nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhân lực cho đất nước.
6
Trong thời kỳ trước năm 1990, việc gửi sinh viên và cán bộ đi học ở
nước ngoài chủ yếu dựa trên nguồn ngân sách do Liên Xô (cũ) các nước
XHCN viện trợ. Sau năm 1990, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu
sụp đổ, việc gửi sinh viên và cán bộ ra NN học tập gặp nhiều khó khăn, số
lượng sinh viên Việt Nam đi học NN bị giảm đột ngột.
Thời kỳ những năm 1990 – 2000, nhờ mở rộng quan hệ hợp tác với
nhiều nước, số lượng sinh viên và cán bộ được cử đi đào tạo tại NN đã tăng
dần, nhưng còn quá ít. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở NN còn bị động,
phụ thuộc vào nguồn tài trợ của các nước, các quỹ học bổng, các tổ chức
Chính phủ, phi Chính phủ và các dự án hợp tác song phương. Số lượng và cơ
cấu ngành nghề chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.
đi học ở nước ngoài. Hiện nay, tôi đang học cao học chuyên ngành quản lý
giáo dục, với mong muốn của bản thân là được góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác quản lý LHS Việt
Nam đang học tập tại NN. Chính vì thế, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Biện
pháp quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước ngoài bằng ngân sách
Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của công tác quản lý sinh viên Việt
Nam du học tại nước ngoài bằng NSNN; đồng thời đề xuất các biện pháp
quản lý của Cục Đào tạo với nước ngoài thuộc Bộ GD&ĐT nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý sinh viên Việt Nam du học tại NN bằng NSNN
trong giai đoạn hiện nay.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
8
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước ngoài bằng NSNN
của Cục Đào tạo với nước ngoài - Bộ GD&ĐT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý của Cục Đào tạo với nước ngoài (ĐTVNN) - Bộ
GD&ĐT đối với sinh viên Việt Nam du học tại nước ngoài bằng NSNN .
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trong thời gian vừa qua công tác quản lý sinh viên Việt Nam du học tại
nước ngoài của Cục ĐTVNN đã đạt được một số thành tựu nhất định; tuy
nhiên, công tác quản lý sinh viên Việt Nam du học bằng NSNN còn có những
hạn chế do thiếu sự chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành chức
năng, các cơ quan quản lý sinh viên Việt Nam học tập tại nước ngoài chưa
hoàn thiện và hệ thống văn bản, chế tài xử lý chưa đầy đủ.
Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp quản lý phù hợp với lý luận
và thực tiễn quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước ngoài bằng NSNN
thì hiệu quả của việc gửi sinh viên đi học ở NN sẽ được nâng cao.
ngoài bằng NSNN của Cục ĐTVNN - Bộ GD&ĐT; đồng thời nhằm nhận biết
mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý.
8. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn này có bố cục gồm các phần và mục sau:
- Mở đầu: 06 trang, từ trang 6 đến trang 11
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên Việt Nam du học tại
nước ngoài: 28 trang, từ trang 12 đến trang 39
- Chương 2: Thực trạng quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước
ngoài bằng NSNN của Cục Đào tạo với nước ngoài – Bộ Giáo dục và Đào
tạo: 32 trang từ trang 40 đến trang 71
10
- Chương 3: Biện pháp quản lý sinh viên Việt Nam du học tại nước
ngoài bằng ngân sách Nhà nước trong giai đoạn hiện nay: 27 trang từ trang 72
đến trang 98
- Kết luận và khuyến nghị: 6 trang, từ trang 99 đến trang 104
- Tài liệu tham khảo: 4 trang, từ trang 105 đến trang 108
- Phụ lục: 6 trang, từ trang 109 đến trang 114
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN VIỆT NAM
DU HỌC TẠI NƯỚC NGOÀI
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển như
vũ bão của công nghệ thông tin trong vài thập niên vừa qua đã đưa loài người
chuyển từ nền văn minh hậu công nghiệp sang nền văn minh trí tuệ. Xu
hướng đó ngày càng được thể hiện rõ nét trong những năm đầu của Thế kỷ
XXI, biến Thế kỷ XXI trở thành thế kỷ của “xã hội học tập”, trong đó đặc
trưng nổi bật nhất là nền kinh tế tri thức gắn liền với quá trình toàn cầu hóa.
Mỗi đất nước, mỗi khu vực đều có sự khác nhau về nguồn tài nguyên thiên
nhiên, nguồn nhân lực, tài lực và vật lực vì thế họ phải tìm con đường trao đổi
Những trường này, sau khi có vị thế vững mạnh, tiến hành liên kết, hợp tác
với các trường ĐH danh tiếng trên thế giới để thành lập các cơ sở nghiên cứu
và đào tạo nhằm nhân rộng các chương trình chất lượng cao của mình.
Đối với Việt Nam, thực hiện chiến lược phát triển KT -XH 2001-2010,
Đảng ta đã phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc,
tạo động lực và nguồn lực phát triển nhanh, bền vững và coi trọng việc “Nâng
cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và phát huy nguồn lực to lớn của con người
Việt Nam” là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá
(CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước. Để nhanh chóng xây dựng đội ngũ trí
thức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH cùng với việc mở rộng quy
mô và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ trong nước phải chú trọng đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ cao, cán bộ quản lý kinh doanh giỏi và công nhân
kỹ thuật lành nghề ở các nước có nền công nghiệp tiên tiến và giáo dục hiện
đại. Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ “Nhà nước dành một khoản
13
ngân sách thích đáng để cử người có đức có tài đi đào tạo những ngành nghề
thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ tiên tiến, khuyến khích và tạo điều kiện
cho cán bộ khoa học kỹ thuật, nhất là cán bộ trẻ được đi bồi dưỡng và trao đổi
khoa học ở nước ngoài”
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam trong điều kiện
NSNN còn nhiều khó khăn đòi hỏi phải có biện pháp quản lý hiệu quả nguồn
vốn ngân sách đầu tư cho giáo dục, đặc biệt trong việc gửi cán bộ đi đào tạo ở
nước ngoài.
Tính cho đến thời điểm hiện tại, đã có một số công trình nghiên cứu về
quản lý đào tạo ở các trường ĐH, đơn vị sự nghiệp hoặc quản lý hợp tác đầu
tư. Một số đề tài nghiên cứu về vấn đề hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào
tạo, quản lý LHS ở nước ngoài, quản lý và đào tạo nguồn nhân lực trình độ
cao tại nước ngoài như:
Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ “Biện pháp quản lý tài chính
của Ban điều hành các Đề án đào tạo tại nước ngoài (nay là Cục Đào tạo với
và sinh viên du học nói riêng sau khi kết thúc khoá học quay trở về Việt Nam
để phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.2.1. Lưu học sinh
Lưu học sinh được hiểu là công dân Việt Nam đang sống và học tập ở
nước ngoài, đang được đào tạo ở nước ngoài, bao gồm học sinh, sinh viên,
học viên sau ĐH, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, tu nghiệp sinh và học viên
dự các khóa học bồi dưỡng ngắn hạn, không phân biệt nguồn kinh phí sử
dụng cho việc đào tạo ở nước ngoài.
15
1.2.2. Ngân sách Nhà nước
Theo Điều 1, Luật NSNN mà Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 9 đã xác
đinh: “NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã
được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.
Xét về bản chất, NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và
Xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài
chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành
kinh tế – xã hội của mình. NSNN là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất
trong hệ thống tài chính quốc gia, là tiềm lực tài chính, sức mạnh tài chính
của Nhà nước. Quản lý và điều hành NSNN có tác dụng chi phối trực tiếp đến
các hoạt động tài chính khác trong nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Quản lý
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên xô 1977, quản lý là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật),
nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện
những chương trình, mục đích hoạt động.
Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm quản lý được định nghĩa là “trông
coi và giữ gìn, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu
nhất định [36, tr 540].
thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[33, tr 24].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và các cộng sự trong cuốn “Khoa học tổ
chức và quản lý” cho rằng hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận
động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới. Các tác giả
chia tách thuật ngữ “Quản lý” thành hai quá trình đó là quá trình ‘Quản” và
quá trình “Lý”. Quản: là giữ gìn, duy trì ổn định, là coi sóc; Lý: là sửa sang,
sắp xếp, là đổi mới – phát triển [1, tr 176].
17
Dưới góc độ điều khiển học: “Quản lý là sự sắp xếp tối ưu nhất các phần
tử trong tổ chức sao cho hệ thống ấy có trật tự tối ưu”. Dưới góc độ chính trị
xã hội: “Quản lý là tổ hợp những cách thức, những phương pháp tác động vào
đối tượng quản lý để phát huy hết tiềm năng của đối tượng nhằm đạt tới mục
tiêu mong muốn”.
Từ các định nghĩa trên, ta thấy quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định trong điều kiện của môi trường.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra thông qua các chức năng quản lý để
phối hợp nỗ lực của con người “mọi công việc hoạt động QL thực chất đều là
sự quản lý con người và cách QL con người có hiệu quả là tạo điều kiện thúc
đẩy họ phát huy hết khả năng của mình vì mục tiêu chung của tổ chức”.
Chức năng của quản lý là chức năng kế hoạch hóa nghĩa là phải xác định
mục tiêu, mục đích, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó.
Từ những phân tích trên có thể hiểu “Quản lý là một quá trình chủ thể
quản lý tác động vào khách thể quản lý với động cơ, mục đích, thao tác,
phương tiện, kỹ năng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu và trạng thái đã định.”
1.2.4. Quản lý giáo dục
Tác giả M.I.Kônđacốp đã định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tập hợp các
biện pháp (tổ chức, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính ) nhằm đảm
bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục (GD),
sẽ là cơ sở lý luận cần thiết để đề ra những biện pháp cụ thể trong quản lý
giáo dục.
1.2.5. Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối
tượng nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
19
Đối tượng quản lý chủ yếu là con người nên thực chất phương pháp quản
lý là những cách thức tác động đến người dưới quyền làm cho họ tích cực lao
động để đạt được kết quả mong muốn.
Vì phương pháp quản lý là một bộ phận của cơ chế quản lý nên mỗi cơ
chế quản lý sẽ định ra những phương pháp quản lý đặc thù. Các đặc điểm của
phương pháp quản lý: Phải dựa trên cơ sở là các quy luật, nguyên tắc quản lý
như quy luật kinh tế, tổ chức, tâm lý và các nguyên tắc quản lý; phải phụ
thuộc vào trình độ, khả năng của chủ thể quản lý và đặc điểm của đối tượng
quản lý; phải có sự linh hoạt dựa trên cơ sở hiểu đúng, đánh giá đúng con
người của các nhà quản lý.
1.2.6. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Theo lý thuyết phát triển, khái niệm nguồn nhân lực có thể hiểu theo
nghĩa rộng là nguồn lực con người của một quốc gia có thể huy động, tổ chức
để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội [38, tr 36]. Nguồn nhân lực
là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một
vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả
năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước hoặc một
vùng, một địa phương cụ thể [38, tr 11].
Theo các cách tiếp cận trên thì nguồn nhân lực là một trong các thành tố
của nguồn lực (gồm nguồn lực tài chính, vật chất, nguồn nhân lực) có thể
được huy động để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Theo nghĩa
hẹp, nguồn nhân lực là nguồn lao động. Ở nước ta, nguồn lao động là những
người trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm và cả những người
trong độ tuổi lao động nhưng chưa có việc làm, còn gọi chung là lực lượng
vào quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện đạo đức, nhân cách của
các học viên nhằm đạt mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ tri thức làm nòng cốt
trong tương lai cho các ngành kinh tế quốc dân.
21
Mục tiêu cơ bản của quản lý công tác đào tạo nhân lực trình độ cao của
nước ta nói chung được Hội nghị TW II Khoá VIII xác định là đào tạo những
con người có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, gìn giữ và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có
sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH).
1.3. QUAN ĐIỂM LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO Ở NN.
1.3.1. Quan điểm chỉ đạo và chính sách của Nhà nước về đào tạo
nhân lực.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta dựa trên tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, danh nhân văn hoá thế giới đã tiếp thu tinh hoa phương Đông, phương
Tây, tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Lênin và nhân loại, đã nói “Vì lợi ích mười
năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Ngay sau ngày tuyên ngôn độc
lập thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á được một
ngày, tại phiên họp Chính phủ đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo “nạn
dốt là một phương pháp độc ác của bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta, một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu, vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống giặc dốt”.
Từ đó, sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng gắn
liền với những trang lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc ta.
Hội nghị Trung ương khoá 7, tháng 3/1955 đã đề ra nhiệm vụ củng cố giáo
dục phổ thông, đẩy mạnh thanh toán mù chữ, chấn chỉnh lại ngành ĐH chuyên
nghiệp, thống nhất hai hệ thống giáo dục, gửi học sinh đi học ở nước ngoài.
Tại Đại hội lần thứ III (năm 1960), Đảng ta đã xác định lấy việc phát huy
nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
23
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững” [26, tr 108].
Muốn thực hiện được mục tiêu chiến lược 10 năm 2001 – 2010, Đảng đã
xác định rõ phải tăng cường nguồn lực con người, năng lực khoa học và công
nghệ và nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta…
Khi xác định nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 –
2005, Đảng ta đã chủ trương “tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc
sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo
dục và đào tạo” [26, tr 292].
Tại khoản 2 Điều 108 của Luật Giáo dục 2005 “Nhà nước khuyến khích
và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam ra nước ngoài giảng dạy, học tập,
nghiên cứu, trao đổi học thuật theo các hình thức tự túc hoặc bằng kinh phí do
tổ chức, cá nhân nước ngoài tài trợ”, khoản 3 Điều 108 “Nhà nước dành ngân
sách cử người có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức trình độ đi học tập,
nghiên cứu ở nước ngoài về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt để phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và khoản 1 Điều 109 “Tổ
chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được nhà nước Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện để giảng dạy, học
tập, đầu tư, tài trợ, hợp tác, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ về
giáo dục ở Việt Nam…” [ 8].
Từ các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đào tạo nhân lực ở trên, có
thể kết luận rằng do thừa kế và tiếp thu được tinh hoa thế giới và văn minh nhân
loại, Đảng và Nhà nước luôn nhận thức đúng đắn về vị trí nguồn nhân lực là một
trong những nguồn vốn quý nhất để phát triển KT-XH, từ đó có những chủ
trương sáng suốt và nhất quán để chăm lo phát triển nguồn lực này.
24
1.3.2. Định hướng chung về phát triển giáo dục và đào tạo trong giai
đoạn hiện nay