4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ĐH-CĐ : Đại học - Cao đẳng
ĐHTĐ : Đại học Thành Đô
ĐNGV : Đội ngũ giảng viên
GD - ĐT : Giáo dục - Đào tạo
GV : Giảng viên
GVCH : Giảng viên cơ hữu
GVTG : Giảng viên thỉnh giảng
HS - SV : Học sinh - Sinh viên
NCKH : Nghiên cứu khoa học
XHCN : Chủ nghĩa xã hội 5
MỤC LỤC
9
1.4.1. Giảng viên, đội ngũ giảng viên
9
1.4.2. Bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
13
1.4.3. Quản lý và cơ sở pháp lý của quản lý công tác bồi dưỡng ĐNGV
14
1.5. Vai trò của đội ngũ giảng viên trong trƣờng đại học
22
1.5.1. Đội ngũ giảng viên quyết định chất lượng đào tạo
22
1.5.2. Nhà giáo đồng thời là nhà khoa học
23
1.5.3. Định hướng nhân cách, đạo đức cho sinh viên
24
1.6. Nội dung quản lý công tác bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên ở
trƣờng đại học
25
1.6.1. Quy hoạch đội ngũ giảng viên và yêu cầu đối với quản lý công
tác bồi dưỡng
25
6
1.6.2. Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
28
1.6.2.1. Quản lý công tác bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp
28
1.6.2.2. Quản lý công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn
DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC
THÀNH ĐÔ
35
2.1 Vài nét về trƣờng Đại học Thành Đô
35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
35
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
36
2.1.3 Mục tiêu đào tạo
40
2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học Thành Đô
40
2.2.1 Quy trình tuyển dụng
40
2.2.2 Số lượng đội ngũ giảng viên
43
2.2.3 Cơ cấu giảng viên
45
7
2.2.4 Chất lượng giảng viên
51
2.2.5 Nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
52
2.3 Thực trạng quản lý công tác bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên tại
trƣờng Đại học Thành Đô
53
2.4.1 Điểm mạnh
63
2.4.2 Điểm yếu
67
Kết luận chương 2
69
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN
LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
71
3.1 Một số định hƣớng phát triển cơ bản của trƣờng Đại học
Thành Đô
71
3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
76
8
3.2.1 Đảm bảo tính đồng bộ của biện pháp
77
3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa của biện pháp
77
3.2.3 Đảm bảo tính cấp thiết của biện pháp
77
3.2.4 Đảm bảo tính khả thi của biện pháp
78
3.3 C¸c biện pháp nâng cao chất lƣợng quản lý công tác bồi dƣỡng
đội ngũ giảng viên
95
PHỤ LỤC
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm
của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực
lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng.
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng đã chỉ rõ: “xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm,
tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý, phát triển sự nghiệp giáo dục
đúng định hướng và có hiệu quả để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”.
Trường Đại học Thành Đô được thành lập theo Quyết định số 679/QĐ
– TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập trường
Đại học trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Công nghệ Thành Đô. Với chức
năng, nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng
cao ở trình độ Cao đẳng, Đại học và nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học
để phát triển ĐNGV trường Đại học Thành Đô trong giai đoạn Trường đang
phấn đấu trở thành trường Đại học có uy tín trong và ngoài nước.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn việc đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng ĐNGV tại
trường Đại học Thành Đô từ khi nâng cấp lên đại học (2009) và đưa ra biện
pháp để thực hiện trong 5 năm tới (2010-2015) tại trường.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến quản lý công tác bồi dưỡng
đội ngũ giảng viên.
- Phân tích thực trạng về quản lý công tác bồi dưỡng ĐNGV tại trường
Đại học Thành Đô
11
- Đề xuất các biện pháp nhằm quản lý công tác bồi dưỡng ĐNGV đáp
ứng yêu cầu phát triển của Nhà trường trong giai đoạn 2010 - 2015.
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể: Công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trường Đại học
Thành Đô
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý công tác bồi dưỡng ĐNGV trường
Đại học Thành Đô.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện tốt các biện pháp bồi dưỡng ĐNGV, đặc biệt là khai
thác, phát triển tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này thì sẽ giúp cho Trường xây
dựng được ĐNGV chất lượng cao, đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo đồng thời
từng bước đưa trường Đại học Thành Đô thành trường đào tạo đa ngành đạt
trình độ tiên tiến trong nước và khu vực.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong quá trình triển khai:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp và phân tích tài liệu.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi,
sự khác biệt của mình và giải quyết những xung đột giữa họ bên trong tổ
chức.
Khi các cá nhân bắt đầu xây dựng một tổ chức: “Nó còn tồn tại và kéo
dài chừng nào nó được sự quan tâm của nhiều người và họ muốn duy trì nó
tồn tại”.
Một người quản lý yếu kém có thể noi theo một người quản lý giỏi hơn,
nhưng không một người quản lý yếu kém nào lại có thể duy trì được uy tín
của mình.
Một người quản lý tìm kiếm sự thay đổi một tổ chức đã được hình
thành sẽ phải giữ lại chí ít cái bóng của thói quen cũ.
Nhà xã hội không tưởng người Anh là Robert OWen (1771 – 1858 ), là
một trong những người tiên phong trong việc nhận ra tầm quan trọng hàng
đầu của nguồn nhân lực.
13
Các quan điểm truyền thống đã ra đời hơn một thế kỷ nay, nhưng ý
nghĩa lý luận cũng như giá trị thực tiễn của chúng vẫn còn nóng hổi bởi lẽ các
học thuyết ấy ra đời trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp đã phát triển và
vẫn tồn tại. Cho đến ngày nay vấn đề vẫn phải nghiên cứu để vận dụng được
các học thuyết và quan điểm đó trong bối cảnh hiện nay.
Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trong
cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of Scientific
Management) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm
1911. F.W. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, với các
nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học là:
Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác
định phương pháp tốt nhất để hình thành yếu tố đó.
Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành
nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình
thành;
trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương tây về quản lý giáo dục,
trong số đó có các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (Organnization
Behavior in Education) của Robert J. Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lý
thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory,
Resarch and Practice) của Wayne.K Hoy, Cecil G. Míkel (1996)
Trong hơn một thế kỉ qua, giáo dục toàn cầu đã có những bước tiến vượt
bậc. Giáo dục cơ bản đã được quan niệm như một kết cấu hạ tầng xã hội, như
một động lực phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Chưa
bao giờ giáo dục được quan tâm như hiện nay. Hội nghị cấp cao toàn cầu về
“Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem - Thái Lan (tháng 3 năm 1990) đã khẳng
định vai trò của giáo dục và đề ra “chương trình hành động” trên toàn thế giới
về giáo dục cơ bản cho mọi người. Như vậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã
song hành thúc đẩy để “Quản lý giáo dục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một
sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu của “Thực tiễn quản lý giáo dục”
15
1.3. Khái quát những nghiên cứu về quản lý giáo dục ở Việt Nam
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm ở mức độ cao, sâu sắc,
toàn diện đến thực tiễn quản lý giáo dục.
Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 2/11/2005 của chính phủ về đổi
mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã
nêu:
“Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng giảng viên
và cán bộ quản lý; xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và
cán bộ quản lý giáo dục Đại học. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình
và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục
đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của
giảng viên, tầm nhìn chiến lược, nâng cao sáng tạo và tính chuyên nghiệp của
cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách
quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế hợp
được quan tâm đặc biệt; trong đó có những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về
“Công tác quản lý chất lượng giáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về
“Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt
Nam” (2005); Nguyễn Công Ngọ về “Thực trạng công tác quy hoạch đội ngũ
cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Bắc Ninh” (2005). Đặc biệt nhiều nghiên
cứu về lý luận cơ bản ở trên đã trở thành cơ sở lý luận để các học viên cao
học và nghiên cứu sinh thực hiện thành công những luận văn thạc sĩ và luận
án tiến sĩ thuộc chuyên ngành quản lý giáo dục. Khái quát trên về những công
trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đối tượng nghiên cứu
của luận văn cho thấy nhiều nghiên cứu đã đi sâu giải quyết những vấn đề lý
luận cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực, nhưng
những nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng
viên của một trường đại học ngoài công lập trong điều kiện Việt Nam hiện
nay còn ít và chưa hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản
17
lý công tác bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học Thành Đô giai
đoạn 2010 - 2015” không những góp phần nâng cao lý luận trong quản lý
giáo dục ngoài công lập mà còn là sự tổng kết thực tiễn giúp nhà trường nâng
cao hơn nữa hiệu quả quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên để hoàn
thành cho được yêu cầu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
1. 4. Các khái niệm cơ bản
1.4.1. Giảng viên, đội ngũ giảng viên
1.4.1.1. Giảng viên
Trong bối cảnh của giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
hiện nay, lao động của nhà giáo trực tiếp đáp ứng nhu cầu về nhân lực, nhân
tài và dân trí cho xã hội. Lao động của nhà giáo không chỉ có ý nghĩa xã hội
sâu sắc mà còn chứa đựng ý nghĩa kinh tế lớn lao. Vì vậy, có thể khẳng định
những vấn đề kinh tế - xã hội và chính trị của quốc gia sẽ không giải quyết
được nếu không phát triển giáo dục, phát triển nhà trường mà hạt nhân của nó
tiêu chuẩn ngạch giảng viên trong tiêu chuẩn chung các ngạch công chức
chuyên ngành giáo dục và đào tạo ban hành kèm theo quyết định số
202/TCCP-VC ngày 08/06/1994 của ban tổ chức - cán bộ Chính phủ. Trong
đó giảng viên được phân chia thành 3 ngạch: giảng viên, giảng viên chính và
giảng viên cao cấp. Mỗi ngạch lại có những tiêu chuẩn và yêu cầu về trình độ
riêng.
Giảng viên
Đối với giảng viên, viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy
và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của
trường Đại học hoặc Cao đẳng, yêu cầu về trình độ bao gồm:
- Có bằng cử nhân trở lên
19
- Đã qua thời gian tập sự giảng viên theo quy định hiện hành
- Có ít nhất hai chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học: chương trình chính
trị, triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học, chứng chỉ những vấn
đề cơ bản về tâm lý học và lý luận dạy học ở bậc đại học.
- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ B
Giảng viên chính
Giảng viên chính là viên chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt
trong giảng dạy và đào tạo bậc đại học và sau đại học thuộc một chuyên
ngành đào tạo của trường đại học. Tiêu chuẩn để công nhận là một giảng viên
chính bao gồm:
- Có bằng thạc sỹ trở lên
- Có thâm niên ở ngạch giảng viên ít nhất là 9 năm
- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ C
- Có đề án hoặc công trình sáng tạo được cấp khoa và trường công nhận
và được áp dụng có kết quả trong công việc.
Giảng viên cao cấp
Giảng viên cao cấp là viên chức có chuyên môn cao nhất đảm nhiệm
Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Đội ngũ giảng viên là tập thể
những nhà giáo đƣợc tổ chức thành một lực lƣợng có cùng chung nhiệm
vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho tập thể ngƣời đó.
ĐNGV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quý nhất của
trường đại học, cao đẳng. Với tri thức, tài nghệ và kinh nghiệm, sự hiểu biết
sâu sắc, ĐNGV là nhân vật trung tâm trong nhà trường, quyết định chất lượng
21
và hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trường. Vì vậy, đầu tư cho nguồn lực
mà nòng cốt là ĐNGV là điều kiện cốt yếu, cần thiết cho việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả đào tạo trong nhà trường.
1.4.2. Bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
1.4.2.1. Bồi dưỡng
Khái niệm bồi dưỡng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu
và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.
Trong từ điển Giáo dục từ bồi dưỡng được hiểu theo nhiều nghĩa:
- Nghĩa rộng: Là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân
cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích
đã chọn (ví dụ: bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng các đức tính: cần, kiệm, liêm,
chính…)
- Nghĩa hẹp: Là trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích
nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể (ví dụ:
bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm…)
Theo định nghĩa của Unesco: “Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ
nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu
nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm
đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”.
Từ những định nghĩa nêu trên, bồi dưỡng có thể được hiểu là quá trình
bổ sung kiến thức, kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp để nâng cao trình độ
trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định giúp chủ thể bồi dưỡng
hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay
quản lý không những là một hoạt động cụ thể mà còn là một khoa học, một
nghệ thuật và là một trong những nghề phức tạp nhất trong xã hội. Các khái
niệm về quản lý cũng ngày càng phong phú, mở rộng và phát triển. Dưới đây
là một số định nghĩa khái niệm về quản lý.
23
Đề cập đến vấn đề quản lý C. Mác viêt: “ Tất cả mọi lao động trực tiếp
hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần
đến một sự chỉ đạo để tiến hành các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận
động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình
điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[ 22 ].
Theo tác giả người Mỹ Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của
nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người
có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất với sự
bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với
kiến thức thì quản lý là một khoa học” [15].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động
quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[5]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là
khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [30]
Thuật ngữ “quản lý” tiếng Việt gốc Hán gồm hai quá trình tích hợp vào
nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì ở trạng thái ổn định và
quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế phát triển. Nếu
người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản”, tức là chỉ lo được một vế và
nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động
và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả; Tổ chức là một công
cụ của quản lý.
Chức năng lãnh đạo
Để tổ chức hoạt động có hiệu quả, người quản lý cần thực hiện chức
năng lãnh đạo, chỉ đạo. Lãnh đạo là quá trình tác động điều hành, điều khiển
25
con người làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục
tiêu của tổ chức. Người quản lý phải ra quyết định, có hướng dẫn, thông báo
để động viên mọi thành viên trong tập thể hăng hái làm việc.
Chức năng kiểm tra, đánh giá
Đây là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra những mặt ưu
điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chình và xử lý những kết quả của
quá trình vận hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lý được hiện thực hóa
một cách đúng hướng và có hiệu quả. Trên thực tế các chức năng trên diễn ra
tuần hoàn theo một chu trình với tính logic chặt chẽ và có liên quan mật thiết
với nhau.
Hình 1.1: Quy trình Quản lý Các chức năng trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn bó, đan xen
nhau, thúc đẩy, tạo điều kiện và làm tiền đề cho nhau phát triển.
Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cho rằng: để hoạt động quản
lý đạt được hiệu quả cao thì quá trình quản lý không thể thiếu các cách thức,
tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Cách thức
đó được hiểu là phương pháp của quản lý. KẾ HOẠCH
của người lao động.
Nhóm phương pháp giáo dục
Đây là cách thức mà chủ thể quản lý dùng các biện pháp đặc thù của
giáo dục như: quán triệt tinh thần, nghị quyết, học tập chính trị, đối thoại và
27
thông qua những biện pháp này tác động trực tiếp hay gián tiếp đến nhận
thức, thái độ, hành vi của đối tượng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn
thành nhiệm vụ của tổ chức.
Phương pháp này dựa vào quy luật tâm lý, chức năng tâm lý của con
người để kích thích sự say mê, củng cố niềm tin, tinh thần tự giác của các
thành viên trong tổ chức.
Nhóm phương pháp tâm lý - xã hội
Đây là cách thức tạo ra những tác động đến đối tượng quản lý bằng các
quy luật tâm lý xá hội nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo đề ra
thành nghĩa vụ tự giác bên trong và nhu cầu của người thực hiện.
Đặc điểm của phương pháp này là sự khích lệ đối tượng quản lý để họ
toàn tâm, toàn ý cho công việc và coi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý của
tổ chức là những mục tiêu công việc của chính họ để từ đó họ tự giác học tập,
tích lũy kinh nghiệm và đoàn kết giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Tác
động của phương pháp này là nâng cao đạo đức, tình cảm nghề nghiệp, xây
dựng bầu không khí đoàn kết, tin trưởng, yên tâm gắn bó với tập thể lao động
của mình, trong đó mỗi người được phát huy năng lực, sở trường của mình,
được tập thể tin yêu, tôn trọng, được biểu dương khen thưởng kịp thời, đúng
mức. Trên thực tế, việc nâng cao đời sống cho cán bộ giảng viên và học sinh
của nhà trường, giải tỏa hợp tình, hợp lý các xung đột, xây dựng tốt các mối
quan hệ trong tập thể người lao động, tạo bầu không khí tâm lý lành mạnh,
cởi mở, thân thiện, tạo nếp sống văn hóa, giữ gìn truyền thống tốt đẹp, là
thước đo hiệu quả của phương pháp tâm lý xã hội.
Mỗi phương pháp quản lý có sự tác động riêng tới từng mặt của người
Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục.
Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng và Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán