Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông Hải An - Thành phố Hải Phòng - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN MINH QUÝ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƢỞNG
NHẰM ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HẢI AN-
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN ANH TUẤN
QLGD
Quản lý giáo dục
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
4
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
1
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
5. Giả thuyết khoa học
2
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3


22
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý công tác giáo viên
chủ nhiệm trong trường trung học phổ thông

24
1.4.1. Các yếu tố khách quan
24
1.4.2. Các yếu tố chủ quan
26

5
Tiểu kết chương 1
28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN
CHỦ NHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HẢI AN
- THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG 29
2.1. Khái quát về giáo dục và đào tạo Hải phòng
29
2.1.1.Giáo dục và đào tạo Hải Phòng trong năm năm gần đây
29
2.1.2. Thực trạng giáo dục của trường THPT Hải An
30
2.2. Thực trạng quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT
Hải An và một số trường trung học phổ thông nội thành Hải Phòng

35

3.2. Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm đổi mới quản lý công tác
giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT Hải An

55
3.2.1. Lập kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm
55
3.2.2. Chuẩn hoá và thống nhất thực hiện quy trình công tác GVCN
(bao gồm cả chuẩn hoá các hồ sơ, biểu mẫu công tác GVCN)

58
3.2.3. Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GVCN vững mạnh
61
3.2.4. Lựa chọn, phân công GVCN, thành lập “tổ giáo viên chủ nhiệm”
và bổ sung “phó chủ nhiệm lớp”

65

6
3.2.5. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với GV bộ
môn và các lực lượng giáo dục khác trong, ngoài nhà trường

69
3.2.6. Tạo động lực cho GVCN và điều kiện thuận lợi cho công tác GVCN
74
3.2.7 . Kiểm tra đánh giá công tác GVCN, tổng kết công tác chủ nhiệm sau
mỗi học kỳ và cuối năm học kết hợp tổ chức “Hội nghị công tác GVCN”

76
3.2.8 . Tham quan, trao đổi sáng kiến- kinh nghiệm GVCN giỏi với các
trường trong cụm, thành phố và tỉnh bạn


7
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Trang
Sơ đồ 1.1: Các chức năng QLGD
10
Bảng 2.1: Tổng số học sinh theo năm học
30
Bảng 2.2: Cơ cấu đội ngũ giáo viên trường THPT Hải An
32
Bảng 2.3: Kết quả xếp loại hạnh kiểm trong năm năm (2007- 2011)
33
Bảng 2.4: Kết quả xếp loại học lực trong năm năm gần đây
33
Bảng 2.5: Kết quả thi học sinh giỏi trong năm năm gần đây
34
Bảng 2.6: Kết quả thi tốt nghiệp và đại học trong năm năm gần đây
34
Bảng 2.7 : Nhận thức về công tác GVCN và quản lý công tác GVCN
37
Bảng 2.8: GVCN tự đánh giá về mức độ nội dung công tác GVCN
39

phần lớn vào kết quả công tác giáo dục toàn diện của từng tập thể lớp trực tiếp
do người GVCN phụ trách.
Trước những ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường hiện nay,
thực tế giáo dục trung học phổ thông (THPT) hiện nay đang đặt ra những yêu
cầu bức thiết, không chỉ về đổi mới chương trình giáo dục, phương pháp giáo
dục - dạy học, mà còn về đổi mới công tác quản lý giáo dục học sinh, trong
đó vai trò trực tiếp của công tác GVCN và của người GVCN.
Qua quan sát thực tế và trải nghiệm nhiều năm trực tiếp làm công tác
GVCN cũng như qua tìm hiểu về công tác này ở các đồng nghiệp, chúng tôi
nhận thấy công tác GVCN ở các trường THPT Hải Phòng hiện nay còn có nhiều
bất cập. Chính vì vậy là người lãnh đạo nhà trường, hiệu trưởng không thể không
quan tâm xem xét và tìm các biện pháp quản lý hữu hiệu để đổi mới công tác
GVCN phù hợp với những yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay.
Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi xin lựa chọn đề tài nghiên
cứu "Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm đổi mới công tác giáo viên
chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông Hải An thành phố Hải Phòng"
làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên các cơ sở lý luận quản lý giáo dục và sự phân tích, đánh giá
thực tiễn quản lí công tác GVCN ở trường THPT Hải An - Hải Phòng, chúng

2
tôi đề xuất một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm đổi mới công tác
GVCN phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục THPT hiện nay góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý công tác GVCN ở trường THPT hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác GVCN ở trường

tác GVCN ở trường THPT Hải An thành phố Hải Phòng trên cơ sở kế thừa,
phát triển những kinh nghiệm quản lý công tác GVCN đã có, kết hợp với
nghiên cứu vận dụng các cơ sở khoa học lý luận quản lý giáo dục hiện đại và
phù hợp với các điều kiện thực tế của nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà trường góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục
toàn diện của nhà trường.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài cần sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp
nghiên cứu:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
– Tiếp cận, đọc và phân tích sách báo, tài liệu nghiên cứu, tạp chí liên quan tới đề
tài phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các nội dung về công tác GVCN, về lí
luận quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý công tác GVCN
– Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên quan
đến công tác GVCN và quản lý công tác GVCN.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Quan sát các hoạt động GVCN và hoạt động quản lý công tác GVCN ở
trường THPT Hải An thành phố Hải Phòng.

4
– Thu thập, phân tích dữ liệu từ thực tiễn công tác GVCN và thực tiễn quản lí
công tác GVCN ở trường THPT Hải An và một số trường THPT nội thành
Hải Phòng.
– Xây dựng các phiếu điều tra (hệ thống câu hỏi) và thực hiện khảo sát các
đối tượng: Lãnh đạo, chuyên viên các phòng ban của Sở GD & ĐT Hải
Phòng, các cán bộ quản lí, GVCN trường THPT Hải An và một số trường
THPT nội thành Hải Phòng về một số vấn đề có liên quan đến nội dung
nghiên cứu.
– Phân tích các dữ liệu khảo sát và tổng hợp, khái quát hoá thành các cơ sở
thực tiễn cho việc xác lập các biện pháp quản lí đổi mới công tác GVCN.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

1.1. Tổng quan các công trình liên quan đề tài nghiên cứu
1. Đề cập đến công tác GVCN đã có nhiều tài liệu và công trình nghiên
cứu. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:
- Giáo dục học (Chương XVI. Người GVCN) của Phạm Viết Vượng.
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội 2004 [36].
- Tổ chức, quản lý trường, lớp và các hoạt động giáo dục (Chương
IV. Công tác GVCN) của Mai Quang Huy, Trần Anh Tuấn và Đinh
Thị Kim Thoa. NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2009 [18].
- Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường
Trung học phổ thông (Hà Nhật Thăng chủ biên). NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, 2004[32].
- Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông (Hà Nhật
Thăng chủ biên). NXB Giáo dục, 2005[31].
2. Một số không nhiều bài báo viết về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp như:
- Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho
sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh [25].
- Một vài kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung
học phổ thông
- http://www.trandangninh.com/index.php?option=com [40].
- Quy định về công tác chủ nhiệm lớp. http://thpttantrao.edu.vn/giao-
vien/k-hoch-nm-hc/190-quy-nh-v-cong-tac-giao-vien-ch-nhim [41].
- Tọa đàm về công tác giáo viên chủ nhiệm. (Báo GD&TĐ)- Hội thảo
quốc gia 2010 của Bộ GD- ĐT [6].

7
3. Trên thực tế, nhiều Sở GD & ĐT và nhiều trường THPT đều coi trọng công

đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[22, tr.480].
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp
cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Từ đó, khái
niệm quản lý cũng được giải trình khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là
khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[28, tr.35].
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc[23], hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)
đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ
chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định
nghĩa trên đều thống nhất:
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều
khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong
một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn đạt
được mục tiêu đề ra.
Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố:
chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị
quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi,
cây trồng. Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản
lý áp đặt hay go yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa
thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Từ đó nảy sinh các mối quan
hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
 Các chức năng cơ bản của quản lý

9

Quá trình quản lý nói chung, quá trình QLGD nói riêng là một thể
thống nhất trọn vẹn. Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương
đối giúp cho người quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình.
Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng, thậm chí có
chức năng diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó. Vì vậy,
có thể biểu diễn sơ đồ đầy đủ về mối quan hệ giữa các chức năng quản lý với
vai trò đặc biệt của thông tin quản lý như sau:
Sơ đồ 1.1. Các chức năng QLGD [dựa theo N.Q. Sơn. 30, tr.13].
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội và là thực hiện
các chức năng quản lý trong lĩnh vực GD&ĐT. Đó là hoạt động chuyên
biệt có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
của giáo dục.
Dưới góc độ xã hội(vĩ mô), quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động
của hệ thống giáo dục trong xã hội, còn dưới góc độ vi mô- giáo dục một hoạt
Kiểm tra,
đánh giá
Tổ chức

Kế hoạch

Thông tin

Chỉ đạo

11
động chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở

quản lý, nhờ đó tạo nên các chuyển biến của đối tượng quản lý phù hợp yêu
cầu của các mục tiêu quản lý cụ thể. Ví dụ, biện pháp “Lập kế hoạch …” và
biện pháp “Kiểm tra, đánh giá…”; hoặc biện pháp “Quy hoạch phát triển đội
ngũ…” thường được sử dụng trong lĩnh vực quản lý các hoạt động GD& ĐT.
1.2.2. Quản lý nhà trường
1.2.2.1. Quản lý nhà trường
Trường học là cơ quan hành chính nhà nước đồng thời là một tổ chức
mang tính xã hội. Nhà trường được tổ chức cho việc kiến tạo xã hội nói trên
đạt được các mục tiêu xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào
sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm xã hội. Trường học là tổ chức
giáo dục cơ sở mang tính nhà nước- xã hội. Trường học là một thành tố khách
thể cơ bản của tất cả các cấp quản lí từ địa phương đến trung ương. Quản lí
nhà trường chính là quản lí giáo dục trong một phạm vi xác định của một đơn
vị giáo dục- đào tạo.
Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lí trường học là hoạt động của các cơ
quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và các
lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[36, tr. 27].
Theo Trần Kiểm:"Quản lí trường học có thể hiểu là một hệ thống
những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập
thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động
của nhà trường hướng tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự
kiến" [19, tr.27].
Tóm lại, quản lí trường học về bản chất là thực hiện hoạt động quản lí
giáo dục tại một cơ sở GD& ĐT, bao gồm: quản lý con người (tập thể cán bộ,
giáo viên và học sinh) và quản lí các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị giáo

13
dục của nhà trường. Có thể hiểu quản lí nhà trường là hoạt động phối hợp

dục…”. Các nhiệm vụ khác cũng là để thực hiện chức năng giáo dục- dạy
học, người học đạt được mục tiêu giáo dục.
1.2.2.3. Quản lý nhà trường trung học phổ thông
Trường THPT là cấp học cuối của hệ thống giáo dục phổ thông, là giai
đoạn quan trọng mà ở đó học sinh cần tích luỹ kiến thức, chuẩn bị để tiếp tục
học lên ĐH, CĐ, THCN hoặc đi vào cuộc sống lao động xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Mục tiêu của giáo dục THPT ở nước ta là giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và
những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học
ĐH, CĐ, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia đào tạo
thế hệ trẻ trở thành người lao động mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước [27, tr.17-18].
Trường THPT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống GD quốc dân,
do đó, là một bộ phận trong quản lý giáo dục.
Quản lí nhà trường THPT là hoạt động điều hành, phối hợp của hiệu
trưởng đối với hoạt động giáo dục - dạy học của giáo viên, học sinh và phát
huy các nguồn lực xã hội (nhân lực, vật lực, tài lực…) liên quan nhằm thực
hiện mục tiêu giáo dục THPT. Do đó quản lí nhà trường nói chung, quản lí
trường THPT nói riêng, phải vận dụng tất cả các nguyên lí chung của quản lí
giáo dục để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo. Theo
Phạm Minh Hạc: "Quản lí nhà trường là quản lý dạy và học, tức là làm sao
đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới
mục tiêu giáo dục " [14; tr. 71].
Trong các quan hệ quản lý của một nhà trường nói chung, của một
trường THPT nói riêng, quản lý ngƣời học và các hoạt động học tập, rèn

15
luyện nhân cách học sinh là một mối quan hệ hàng đầu, đồng thời cũng là
một nội dung quan trọng của quản lý và của chủ thể quản lý (hiệu trưởng ).
1.2.2.4. Vai trò của hiệu trưởng trung học phổ thông trong quản lý nhà trường

hướng mở cửa, hội nhập và trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, công
việc quản lý hoạt động người học của hiệu trưởng càng trở nên quan trọng, có
ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục của mỗi nhà trường.

1.2.3. Công tác quản lý lớp học và người giáo viên chủ nhiệm
1.2.3.1. Công tác quản lý lớp học
Lớp học là hình thức tổ chức dạy học được hình thành từ thế kỉ XVI do
nhà giáo dục Tiệp Khắc Comenxki đề xướng. Từ đó, lớp học là đơn vị cơ bản
được tổ chức để giảng dạy và giáo dục học sinh trong hệ thống tổ chức của
các trường phổ thông hiện nay. Trong Luật giáo dục, và Điều lệ trường THPT
và THCS, công tác quản lý lớp học và loại hình giáo viên chủ nhiệm lớp đã
được chính thức ghi nhận và quy định rõ về trách nhiệm và quyền lợi.
Để thực hiện quản lý lớp học, một số trong những giáo viên đang giảng
dạy được nhà trường cử ra kiêm nhiệm công tác chủ nhiệm lớp, gọi là “giáo
viên chủ nhiệm”. Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai
trò, chức năng của người làm công tác quản lý giáo dục HS trong lớp, còn nói
công tác GVCN là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người
GVCN phải làm, cần làm và nên làm.
Người giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là thành viên của tập thể sư phạm và
hội đồng sư phạm, là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha
mẹ học sinh (CMHS) quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn
diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của
nhà trường ở lớp.

17
Các GVCN được hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm
giáo dục, có uy tín trong học sinh, được hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí
phân công chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục.
1.3.2.2. Vị trí và vai trò của người giáo viên chủ nhiệm
Trong “Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và

nhân cách của HS mỗi lớp học, phối hợp với GV bộ môn, Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh, phụ huynh HS và các lực lượng xã hội
khác để thống nhất các biện pháp giáo dục HS trong lớp;
- GVCN là cấu nối giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục khác với
tập thể và mỗi cá nhân HS.
1.2.3.3. Nội dung cơ bản của công tác giáo viên chủ nhiệm
Công tác giáo viên chủ nhiệm là toàn bộ những nhiệm vụ, nội dung
công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm nhằm đạt được mục
tiêu giáo dục. Theo “Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ
thông và trường phổ thông có nhiều cấp học”, công tác GVCN ở trường
THPT có năm nhiệm vụ chủ yếu (xem ở trên, mục 1.2.3.2.). Từ những nhiệm
vụ trên đây, các nhà nghiên cứu đã xác định các nội dung cơ bản của công tác
GVCN [18].
1. Tìm hiểu, nắm vững, phân loại HS trong lớp;
2. Lập các kế hoạch công tác GVCN;
3. Xây dựng, quản lý lớp học thành một tập thể HS tự quản;
4. Tổ chức hoạt động học tập, nâng cao thành quả học tập của từng HS
và của lớp;
5. Tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức HS và các hoạt động giáo dục
toàn diện khác;

19
6. Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động tập thể;
7. Phối hợp với giáo viên bộ môn và các bộ phận chức năng trong trường;
8. Phối hợp với cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường;
9. Theo dõi và đánh giá quá trình học tập và rèn luyện (đánh giá sự tiến
bộ) của từng học sinh để báo cáo thường xuyên và định kì với Ban
giám hiệu và ghi vào học bạ;
10. Công tác tài chính, hồ sơ sổ sách và các công tác sự vụ khác.
Dựa trên cách phân loại này, chúng tôi xác định sáu nội dung công tác chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status