MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1
2. Mục đích nghiên cứu.
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3
3.1. Khách thể nghiên cứu:
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu trực tiếp:
3
4. Giả thuyết khoa học.
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
3
6. Phạm vi nghiên cứu.
4
7. Phương pháp nghiên cứu.
4
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
4
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO
TẠO GIÁO DỤC THỂ CHẤT.
5
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý.
27
1.5. Qun lý i ng ging viờn núi chung v ging viờn th dc th thao
núi riờng.
27
1.5.1. c im lao ng ca i ng ging viờn.
28
1.5.2. Lao ng ca ngi ging viờn mang tớnh cht c bit:
29
1.6. V trớ, nhim v chng trỡnh giỏo dc th cht v phõn phi chng
trỡnh o to.
30
1.6.1. V trớ, nhim v ca GDTC trong trng i hc v Cao ng nc
ta.
30
1.6.2. Yu t m bo cho GDTC trong cỏc trng i hc v Cao ng.
32
1.6.3. Tm quan trng ca vic qun lý nhm nõng cao cht lng giỏo dc
th cht.
33
1.6.3.1. Tớnh cp thit ca vic nõng cao cht lng GDTC.
33
1.6.3.2. Tm quan trng ca vic qun lý nhm nõng cao cht lng giỏo dc
th cht.
34
1.6.3.3. Quan nim v cht lng trong lnh vc giỏo dc th cht trng
Cao ng kinh t k thut cụng nghip I.
35
1.6.4. Mt bng cht lng.
36
1.6.4.1. Mc tiờu chung.
49
2.2.3.1. Quản lý chương trình chuẩn.
50
2.2.3.2. Chương trình nội khoá:
50
2.2.3.3. Chương trình ngoại khoá:
52
2.2.3.4. Chương trình khung môn GDTC của Bộ GD&ĐT.
54
2.2.3.5. Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành.
55
2.2.4. Thực trạng công tác quản lý cán bộ trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật
công nghiệp I.
57
2.2.4.1. Tình hình cán bộ giảng dạy.
57
2.2.4.2. Quản lý đội ngũ giảng viên
58
2.2.4.3. Quản lý thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học
59
2.3. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục thể chất.
60
Chương 3: C¸c biÖn ph¸p qu¶n lý ch-¬ng tr×nh gi¸o dôc
thÓ chÊt cho sinh viªn
63
3.1 . Những căn cứ để xây dựng biện pháp.
63
3.2. Các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên.
64
3.2.1. Biện pháp 1: Quản lý của Hiệu trưởng, Bộ môn giáo dục thể chất
3.2.6. Biện pháp 6: Đảm bảo cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ công tác
GDTC.
74
3.2.7. Biện pháp 7: Đưa điểm tổng kết môn học thể dục vào đánh giá kết quả
học tập và xét học bổng.
75
3.3. Tổ chức thực hiện các biện pháp.
75
3.3.1. Tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp và phối hợp giữa các biện
pháp.
75
3.3.2. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của GDTC
76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
78
Kết luận:
78
Khuyến nghị:
79
1. Với Bộ GD&ĐT.
79
2. Với Bộ công thương.
79
3. Với trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp I.
79 4. Với bộ môn GDTC.
80
BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
BGH
:
Ban giám hiệu
CĐKTKTCNI
:
Cao đẳng kinh tế kỹ thuật
công nghiệp I
ĐNGV
:
Đội ngũ giảng viên
CSVC
:
Cơ sở vật chất
GDTC
:
Giáo dục thể chất
GD&ĐT
:
Giáo dục và đào tạo
HSSV
:
Học sinh sinh viên
NQTW
:
Nghị quyết trung ương
QLGD
:
Quản lý giáo dục
lực dồi dào, sung sức, khoẻ mạnh cả về thể chất, tinh thần, và trí tuệ.
Vấn đề này đã được khẳng định từ rất sớm trong các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng và nhà nước ta trong đó đòi hỏi con người Việt Nam “phát
triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức,
phong phú về tinh thần” [50,04].
Một trong những nhiệm vụ quan trọng phải được quan tâm là “đào
tạo thế hệ trẻ nước ta trở thành những con người có đủ bản lĩnh, phẩm
chất và năng lực đảm đương sứ mạnh lịch sử của mình” [115]. Để có
được nguồn nhân lực hùng hậu trong tương lai, điều tất yếu là phải
quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục, vì “đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho tương lai” [4]. và “muốn tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá
thắng lợi phải phát triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn nhân lực
con người, yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững …” [114].
Nghị quyết Trung Ương II khoá VIII của Đảng về Giáo dục -Đào
tạo và khoa học công nghệ cũng đã được khẳng định: “Muốn xây dựng
đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển về trí
tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải là con người cường
tráng về thể chất. Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm
của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể trong đó
có Giáo dục -Đào tạo, Y tế và Thể dục thể thao” [116].
Giáo dục thể chất và thể thao học đường thực sự có vị trí quan
trọng trong việc thực hiện mục tiêu nói trên nhằm góp phần đào tạo thế
hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất 2
để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững
và tăng cường an ninh quốc phòng.
Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ
của thông tin, việc học tập của sinh viên đại học và chuyên nghiệp ngày
nhu cầu phát triển của xã hội.
- Hiệu quả hoạt động môn học giáo dục thể chất chưa cao, tỷ lệ
sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực còn thấp.
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất còn thiếu về
số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu vừa tăng nhanh về
quy mô, vừa đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Công tác quản lý bộ môn giáo dục thể chất còn kém hiệu quả,
chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý.
Căn cứ mục tiêu yêu cầu và thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực và
thực hiện chương trình giáo dục thể chất trong trường. Chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:
“ Các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I”
2. Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học môn giáo dục thể chất, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý chương trình giáo dục thể
chất tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I (Cơ sở lý
luận và thực tiễn)
3.2. Đối tượng nghiên cứu trực tiếp: Quản lý chương trình giáo
dục thể chất trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp I.
4. Giả thuyết khoa học. 4
Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý chương trình giáo dục
thể chất trong trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I có
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO DỤC THỂ CHẤT.
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý.
1.1.1. Khái niệm về quản lý:
Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện các mục
tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ,
thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực
cá nhân, hướng tới một mục tiêu chung.
Các Mác đã nói: “ Tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều
cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực
hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản
xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng” [19,54].
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm - Hoạt động
quản lý đã ra đời như một yếu tố khách quan, mang tính tất yếu trong
quá trình vận động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội.
Có nhiều quan niệm khác nhau về “quản lý”, dựa theo những cách tiếp
cận khác nhau, do đó dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về “quản
lý”. Sau đây là một số quan niệm của các học giả trong và ngoài nước:
*Quan điểm của các tác giả nước ngoài:
- Theo F.W.Taylo (1856- 1915) - người đề xuất thuyết "Quản lý
khoa học" cho rằng: quản lý là biết được điều bạn muốn người khác 6
làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất.
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: "Quản lý là tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người
lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự
kiến" [34,14]
- Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục
đích của cán bộ quản lý đối với tập thể những con người, nhằm làm cho
hệ thống hoạt động bình thường, giải quyết được nhiệm vụ đề ra”.
- Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: “Quản lý là sự tác động có
tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được
mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
- Tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý
là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ
thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”.
- Tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa
học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những
phương pháp thích hợp, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra cho hệ và
từng thành tố của hệ”.
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản
lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý ) trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về
cách tiếp cận nhưng đều toát lên một số quan điểm chung nhất về quản
lý như sau: 8
- Là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định.
- Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
9
- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức
- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý lên
khách thể. Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hoặc phi
ngôn ngữ), quyết định (văn bản hoặc không văn bản), các chính sách,
chương trình, mục tiêu.
- Phương pháp có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể lên
khách thể. Trong quản lý hiện nay, phương pháp quản lý được đúc kết
từ nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt
động và phong cách quản lý trong tổ chức.
1.1.3. Chức năng quản lý: là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ
bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu xác định. Chức năng quản lý chiếm giữ một vị
trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi
cấp. Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến
chưa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chức năng quản lý,
song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch - Tổ
chức - Chỉ đạo - Kiểm tra.
- Kế hoạch: là chức năng trung tâm, được hiểu khái quát là một
chương trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện
trạng ban đầu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, được
hoạch định, lập ra trước khi tiến hành thực hiện một nội dung nào đó để
đạt được mục tiêu đề ra,
- Tổ chức: là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố,
những con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn, biến
tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể toàn vẹn nhằm đảm bảo cho
chúng tương tác với nhau một cách tối ưu.
11
Có thể biểu diễn sự liên kết các chức năng đó bằng sơ đồ sau:
Kế hoạch hoá Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo
Sơ đồ 2: Chu trình quản lý
1.1.4. Các nguyên tắc quản lý: Quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị,
văn hoá, giáo dục) thực chất là quản lý con người hoạt động trong tổ
chức đó - đối tượng đích của quản lý.
Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải đưa ra những
nguyên tắc quản lý nhất định, thường tập trung vào các nguyên tắc cơ
bản sau:
- Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý được xây dựng
trên cơ sở những quy định, luật pháp và các chế tài của pháp luật.
Chẳng hạn, các văn bản dưới luật, các chế tài có liên quan đến giáo
dục, các chỉ thị, nghị định của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về giáo dục, các văn bản chỉ đạo việc thực hiện chương trình. Đây là
hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý,
đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước, dựa trên các chủ
trương, đường lối, chính sách của nhà nước, các văn bản chỉ đạo của
ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản
lý.
nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và đào tạo đề ra, biết dựa trên các vấn đề 13
thực tiễn để phân tích, tổng hợp các dữ kiện một cách khoa học, biện
chứng, trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu trong hoạt động
quản lý.
- Đảm bảo tính Đảng: Ở Việt Nam, Đảng là biểu hiện sức mạnh, ý
chí của nhân dân và là Đảng cầm quyền duy nhất, vì thế trong quản lý,
hơn bao giờ hết phải luôn bám sát, thể hiện rõ và tuân thủ chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý.
1.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1. Quản lý giáo dục: là một khái niệm quản lý chuyên ngành, người
ta nghiên cứu nó trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung. Khái
niệm quản lý cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng ta
chỉ đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một
hệ thống giáo dục chung mà hạt nhân là hệ thống các trường học.
Trước tiên chúng tôi đề cập đến một số quan niệm về quản lý giáo
dục của các tác giả trong và ngoài nước:
*Quan niệm của các tác giả nước ngoài
- Theo M.I.Kônđacôp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp kế hoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan
trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về
số lượng và chất lượng.
- Khuđônminsky trong cuốn “Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn
quận huyện” có viết: “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác
định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích
của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ
thống (từ bộ đến trường, đến các cơ sở giáo dục) nhằm mục đích đảm
bảo việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức
xuất hiện từ lâu. Quản lý là một thuộc tính tất yếu, bất biến và nội tại
của mọi hoạt động trong quá trình lao động xã hội, nó có tầm quan 15
trọng đối với bất cứ hoạt động nào của con người. Quản lý giáo dục có
thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau, tuỳ ta xác định đối tượng quản
lý. Ở đây chúng ta chỉ là quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục
đào tạo, trong đó có quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở khác nhau
của giáo dục.
Quản lý giáo dục còn được hiểu như là một tập hợp những biện
pháp về tổ chức, phương pháp, nội dung giáo dục, kế hoạch hoá, tài
chính, nhằm bảo vệ sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ
thống giáo dục, bảo đảm sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về số
lượng và chất lượng.
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ
trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Một quan điểm nữa về quản lý
giáo dục có thể đưa ra ở đây là: quản lý giáo dục là những tác động có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản
lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo
sự giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển
toàn diện và hài hoà cho họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy
luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật khách
quan của quá trình giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của
thế hệ trẻ. Khi nói đến giáo dục phải nhận thức hệ thống giáo dục là
một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống xã hội. Các quá trình
giáo dục thường được trải ra theo thời gian dài, những phẩm chất,
những nhân cách của học sinh mà giáo dục đang đào tạo ngày nay phải
đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại và của ngày mai khi học sinh
đào tạo các công dân cho tương lai. Với tư cách là một tổ chức giáo
dục cơ sở vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào
tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào
từ trung ương đến địa phương". Tác giả còn cho rằng: "Nhà trường của 17
thế kỷ XXI là nhà trường của nền kinh tế tri thức, của xã hội tri thức, vì
vậy việc tổ chức và quản lý nhà trường phải dựa trên một cơ sở "động",
biết học hỏi để phát triển" [7,37]
Quản lý nhà trường chính là bộ phận của quản lý giáo dục. Theo
tác giả Phạm Minh Hạc: Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý
hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này
sang trạng thái khác dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục. Ông cũng cho
rằng: Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy
học. Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất
của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được
giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường
lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước.
Hoạt động quản lý của nhà quản lý là phải làm thế nào để các thành tố
con người, tinh thần, vật chất vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau đạt đến
kết quả mong muốn. Hiệu trưởng là người quản lý cao nhất của nhà trường.
Quản lý nhà trường theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả các
hoạt động diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục và
đào tạo của nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt
được mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo của cấp học trung học phổ thông
đã định của nhà trường. Theo điều 58 Luật giáo dục (Tr.21) bao gồm:
- Quản lý công tác tuyển sinh
- Quản lý chương trình giáo dục và đào tạo do Bộ quy định
- Quản lý hoạt động dạy và học
Được tiến hành bằng các hình thức dự giờ, thăm lớp, phiếu hỏi,
kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra viết giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ và
cuối năm. Các biện pháp thường tiến hành là kiểm tra xác suất, kiểm tra
định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra có báo trước và kiểm tra toàn diện.
Mục đích của các biện pháp này nhằm phát hiện đúng, đánh giá sát
nhất năng lực thực tế của giáo viên và chất lượng thực của hoạt động 19
dạy, học; đồng thời phát hiện những điểm yếu, những bất cập về chất
lượng do quá trình chỉ đạo và thực hiện có sai lệch hoặc phát sinh từ
thực tế biến động ngoài dự kiến.
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác
giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện. Nó là thành tố cấu thành hệ
thống giáo dục của quốc gia. Nói cách khác, trường học là thành tố
khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục lại vừa là một hệ
thống độc lập tự quản của xã hội.
Chất lượng giáo dục chủ yếu do các trường tạo nên, bởi vậy khi nói
đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với việc
quản lý chung hệ thống giáo dục.
Trong quản lý nhà trường nó có hai loại tác động cơ bản: tác động
của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường và tác
động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường.
Quản lý nhà trường phổ thông là tập hợp những tác động tối ưu của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác,
nhằm tận dụng nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng
góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi
hoạt động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ
trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà
trường tiên lên một trạng thái mới.