1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế là sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia
tăng. Môi trường bị ô nhiễm sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của
con người cũng như động vật, phá vỡ các mối cân bằng sinh thái, cảnh quan đô thị.
Để tạo sự cân bằng sinh thái, môi trường sống trong sạch trước tiên phải kể đến môi
trường tự nhiên mà trong đó môi trường không khí đóng vai trò quan trọng nhất.
Ô nhiễm không khí hiện nay đang là một vấn đề đáng quan tâm khi số lượng các
khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng tăng. Ô nhiễm không khí là sự có mặt một
chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không
khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa. Khi tốc
độ đô thị hóa càng nhanh, số lượng các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng
tăng, ngày càng nhiều bệnh tật ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người
liên quan đến vấn đề ô nhiễm không khí. Các căn bệnh về da, mắt, đặc biệt là đường
hô hấp. Vì vậy việc xử lý bụi và khí thải trong sản xuất là bước quan trọng cần phải
có trong các khu công nghiệp, nhà máy để bảo vệ môi trường không khí.
Hiện nay nước ta đang trên đà phát triển, cuộc sống của người dân ngày càng được
nâng cao. Chính vì thế, nhu cầu ăn mặc của bản thân con người ngày càng được trú
trọng hơn, không chỉ mặc để giữ ấm mà còn phải đẹp và hợp thời trang. Để có thể
phục vụ cho nhu cầu này của người dân thì hàng loạt các khu công nghiệp dệt
nhuộm đã đua nhau mọc lên. Trong đó tiêu biểu là Công ty TNHH dệt nhuộm Tân
Đức Khanh thuộc KCN Hải Sơn tỉnh Long An. Bên cạnh những lợi ích nhìn thấy
được từ công ty dệt nhuộm Tân Đức Khanh mang lại thì có một vấn đề cần hết sức
đáng quan tâm, đó chính là quá trình đốt nhiên liệu bằng củi trấu để cấp cho nồi hơi
mà công ty này đang sử dụng. Quá trình này phát sinh ra nhiều bụi và khí thải ảnh
hưởng không chỉ trực tiếp đối với người công nhân trong nhà máy mà còn gây ảnh
hưởng đến khu vực dân cư xung quanh.
2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHÍ THẢI
1.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ DO BỤI
1.1.1. Phương pháp khô
1.1.1.1. Thiết bị thu hồi bụi khô
Thiết bị thu hồi bụi khô hoạt động dựa trên các cơ chế lắng khác nhau: trọng lực
(các buồng lắng bụi), quán tính (lắng bụi nhờ thay đổi hướng chuyển động của dòng
khí hoặc nhờ vào vách ngăn) và ly tâm (các xiclon đơn, nhóm và tổ hợp, các thiết bị
thu hồi bụi xoáy và động).
Các thiết bị thu hồi bụi nêu trên chế tạo và vận hành đơn giản, được áp dụng phổ
biến trong công nghiệp.
Tuy nhiên hiệu quả thu bụi không phải lúc nào cũng đạt yêu cầu nên chúng thường
đóng vai trò xử lý sơ bộ. Một số đặc trưng của thiết bị thu hồi bụi khô:
Bảng 1.1 Các thông số đặc trưng của thiết bị thu hồi bụi khô
Thiết bị Năng
suất tối
đa
(m
3
/h)
Hiệu quả xử
lý
Trở lực
(Pa)
Giới hạn
nhiệt độ
(
0
C)
%90);5( m
750÷ 1.500
350 ÷ 450
Thiết bị lắng
quán tính
127.500
%90);2( m
750÷ 1.500
< 400
Thiết bị thu hồi
bụi động
42.500
%90);2( m
< 400
(Nguồn: Tr.17, Giáo trình Kỹ thuật xử lý ô nhiễm không khí – PGS.TS Đinh Xuân
Thắng)
Buồng lắng bụi
Nguyên lý hoạt động của thiết bị này là lợi dụng trọng lực của các hạt bụi khi dòng
.
Thiết bị lá xách
Các thiết bị này có dãy lá chắn hoặc các vòng chắn. Khí đi qua mạng chắn, đổi
hướng đột ngột, các hạt bụi do quán tính chuyển động theo hướng cũ tách ra khỏi
khí hoặc va đập vào các tấm phẳng nghiêng, lắng trên đó rồi rơi xuống dòng khí
bụi. Kết quả khí được chia thành hai dòng: Dòng chứa bụi nồng độ cao (10% thể
tích) được hút qua xiclon để tiếp tục xử lý, rồi sau đó được trộn với dòng đi qua các
tấm chắn (chiếm 90% thể tích). Vận tốc khí trước mạng chóp phải đủ cao (15m/s)
để đạt hiệu quả tách bụi quán tính). Trở lực của lưới khoảng(100÷500)N/m
2
. Thiết
bị lá xách được sử dụng để thu hồi bụi có kích thước trên 20m.
Yếu điểm của lá xách là sự mài mòn các tấm chắn khi nồng độ bụi cao và có thể tạo
thành trầm tích làm bít kín mặt sàng. Nhiệt độ cho phép của khí thải phụ thuộc vào
vật liệu làm lá chắn, thường không quá 450÷600
0
C.
6
Khí buïi
Khí buïi
Khí saïch
Hình 1.1 Thiết bị lá sách
Xiclon
Thiết bị xiclon được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp có hiệu quả cao khi kích
thước hạt bụi > 5m. Thu hồi bụi trong xiclon diễn ra dưới tác dụng của lực ly tâm.
Nguyên lý hoạt động: Dòng khí nhiễm bụi được đưa vào phần trên của xiclon. Thân
xiclon thường là hình trụ có đáy là chóp cụt. Ống khí bẩn vào thường có dạng khối
chữ nhật, được bố trí theo phương tiếp tuyến với thân xiclon. Khí vào xiclon thực
- Hiệu quả vận hành kém khi bụi có kích thước nhỏ hơn 5 m
- Không thể thu hồi bụi kết dính.
Xiclon đơn
Xiclon đơn là thiết bị hoàn chỉnh hoạt động độc lập và có nhiều dạng khác nhau như
dạng hình trụ, dạng hình côn. Việc sử dụng loại nào là tùy thuộc vào đặc tính của
bụi và yêu cầu xử lý. Dạng hình trụ có năng suất lớn, còn loại hình côn có hiệu suất
lớn.
Xiclon tổ hợp
Xiclon tổ hợp là một thiết bị lọc bụi gồm một số lượng lớn các đơn nguyên xiclon
mắc song song trong một vỏ có chung đường dẫn khí vào, khí ra, thùng chứa bụi.
Trong xiclon tổ hợp, việc tạo nên chuyển động quay của dòng khí trong thiết bị
không phải do dòng khí được đưa vào theo phương tiếp tuyến mà do các dụng cụ
định hướng dạng chong chóng hoặc dạng hóa hồng đặt trong thiết bị. Do vậy kích
thước của xiclon tổ hợp nhỏ hơn kích thước của xiclon đơn có cùng công suất.
8
Nguyên lý làm việc của xiclon tổ hợp: Khi bụi đi vào ống nối và sau đó di vào hộp
phân phối, từ đó đi vào các không gian giữa vỏ đơn nguyên và ống xả. Trong
khoảng không gian này có đặt các dụng cụ định hướng để tạo sự chuyển động xoáy.
Bụi sau khi tách đi qua lỗ tháo bụi và vào thùng chứa.
K hí sa ïc h
K hí b uïi
B uïi
K hí
B uïi
a) Xiclon đơn b) Xiclon nhóm
Hình 1.2 Xiclon
Thiết bị thu hồi bụi xoáy
Cũng giống như xiclon, thiết bị này ứng dụng có chế lắng bụi ly tâm. Điểm khác cơ
Thiết bị lọc vải
Nguyên lý: Khi cho khí qua vách ngăn xốp, các hạt rắn được giữ lại còn khí đi
xuyên qua nó hoàn toàn.
Trong quá trình lọc bụi, các hạt bụi khô tích tụ trong các lỗ xốp hoặc tạo thành lớp
bụi trên bề mặt vách ngăn, do đó chúng trở thành môi trường lọc đối với các hạt bụi
đến sau. Tuy nhiên bụi tích tụ càng nhiều làm cho kích thước lỗ xốp và độ xốp
chung của vách ngăn càng giảm, vì vậy sau một thời gian làm việc nào đó cần phải
phá vỡ và loại lớp bụi ra. Như vậy, quá trình lọc bụi phải kết hợp với quá trình phục
hồi vật liệu lọc.
10
Trong quá trình làm sạch khí, các hạt bụi tiến gần đến các sợi hoặc bề mặt vật liệu
hạt, va chạm với chúng và lắng xuống do tác dụng của lực thẩm thấu, quán tính và
hút tĩnh điện.
Thiết bị lọc được chia làm 3 loại, phụ thuộc vào chức năng và nồng độ bụi vào, ra:
- Thiết bị tinh lọc (Hiệu quả cao): dùng để thu hồi bụi cực nhỏ với hiệu quả rất
cao ( >99% ) với nồng độ đầu vào thấp (<1mg/m
3
) và vận tốc lọc < 10cm/s.
Thiết bị lọc này ứng dụng để thu hồi bụi độc hại đặc biệt, cũng như để siêu lọc
không khí. Vật liệu lọc không được phục hồi.
- Thiết bị lọc không khí: được sử dụng trong hệ thống thông khí và điều hòa
không khí. Chúng được dùng để lọc khí có nồng độ bụi nhỏ hơn 50 mg/m
3
với
vận tốc lọc (2,5÷3) m/s. Vật liệu lọc có thể được phục hồi hoặc không phục
hồi.
- Thiết bị lọc công nghiệp (vải, hạt, sợi thô): được sử dụng để làm sạch khí công
nghiệp có nồng độ bụi đến 60 g/m
3
ở nhiệt độ cao, sợi len trở nên giòn, chúng làm việc đến 90
0
C;
- Vải tổng hợp bền nhiệt và hóa, giá rẻ hơn vải bông và vải len. Trong môi
trường axit độ bền của chúng cao, còn trong môi trường kiềm độ bền giảm;
- Vải thủy tinh bền ở (150÷350)
0
C. Chúng được chế tạo từ thủy tinh nhôm
silicat không kiềm hoặc thủy tinh magezit.
Vải có thể phục hồi bằng hai phương pháp cơ bản:
- Rung vật liệu lọc (cơ học, khí động học);
- Thổi ngược vật liệu lọc bằng khí sạch hoặc không khí.
Ưu điểm: Hiệu suất lọc bụi cao ( 98÷99 )%, phù hợp với các loại bụi có đường kính
nhỏ.
Nhược điểm:
12
- Giá thành và chi phí quản lý cao vì đòi hỏi những thiết bị tái sinh vải lọc, thiết
bị rũ bụi;
- Độ bền nhiệt của thiết bị lọc thấp và thường dao động theo độ ẩm.
Thiết bị lọc hạt
Thành phần lọc của thiết bị lọc dạng này gồm một hoặc nhiều lớp, trong đó có các
sợi vải được phân bố đồng nhất. Trong thiết bị lọc sợi, bụi được thu hồi và tích tụ
theo chiều dày của lớp lọc. vật liệu lọc là các sợi tự nhiên hoặc nhân tạo có chiều
dày từ (0,01 ÷100) m. Chiều dày của lớp lọc có thể từ vài phần ngàn mét đến 2m
(lọc đệm nhiều lớp để sử dụng lâu dài). Các thiết bị lọc này được ứng dụng khi
nồng độ pha phân tán (0,5÷5)mg/m
3
và được phân thành các loại sau :
- Các thiết bị loại xơ mỏng:
dính ướt và loại ra khỏi khí.
Do tiếp xúc với dòng khí nhiễm bụi với chất lỏng hình thành bề mặt tiếp xúc pha.
Bề mặt này bao gồm các bọt khí, tia khí, tia lỏng, giọt lỏng và màng lỏng. Trong đa
số thiết bị thu hồi bụi ướt tồn tại các dạng bề mặt khác nhau, do đó bụi được thu hồi
theo nhiều cơ chế khác nhau. Thiết bị lọc bụi ướt có các ưu điểm và nhược điểm so
với các thiết bị dạng khác như sau:
Ưu điểm:
- Dễ chế tạo, giá thành thấp, hiệu quả thu hồi bụi cao;
- Có thể ứng dụng để thu hồi bụi có kích thước đến 0,1m;
- Có thể sử dụng khi nhiệt độ và độ ẩm cao;
- Nguy hiểm cháy, nổ thấp nhất;
- Cùng với buị có thể thu hồi hơi và khí.
Nhược điểm:
- Bụi thu được ở dạng cặn do đó phải xử lý nước thải, làm tăng giá quá trình xử
lý;
- Các giọt lỏng có khả năng bị cuốn theo khí và cùng với bụi lắng trong ống dẫn
và máy hút;
- Trong trường hợp khí có tính ăn mòn cần phải bảo vệ thiết bị và đường ống
bằng vật liệu chống ăn mòn.
14
Chất lỏng tưới thiết bị thường là nước. Khi kết hợp quá trình thu hồi bụi với xử lý
hóa học, chất lỏng được chọn theo quá trình hấp thụ.
1.1.2.1. Thùng rửa khí rỗng
Các buồng rửa khí được chế tạo bằng kim loại, bêtông và gạch đá.
Trong buồng bố trí các dãy mũi phun để phun nước vào dòng khí chứa bụi chuyển
động qua buồng. Để tăng hiệu suất lọc bụi, trong buồng có thể bố trí các tấm chắn,
các tấm đục lỗ hoặc tưới. Cuối buồng rửa có bộ phận tách nước. Vận tốc chuyển
động của khí trong buồng khoảng 0,6-1,2 m/s. Thời gian lưu khí <3s. Lượng nước
phun 0,2-1,04l/m
thiết bị rửa khí với sự tưới ngang.
Để đảm bảo độ dính ướt của bề mặt lớp đệm, chúng thường được để nghiêng 7÷10
0
về hướng dòng khí, lưu lượng lỏng (0,15÷0,51) l/m
3
. Khi nồng độ bụi ban đầu đến
10-12 g/m
3
, trở lực 160-100 Pa/m đệm, vận tốc khí trong thiết bị ngược chiều
khoảng (1,5÷2,0)m/s, còn lưu lượng nước tưới khoảng (1,3÷2,16)l/m
3
.
Hiệu quả xử lý bụi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: cường độ tưới, nồng độ bụi, độ
phân tán. Hiệu quả thu hồi bụi có kích thước d 2m trên 90%. Thực tế hạt có
kích thước (2÷5)m được thu hồi 70% còn hạt lớn hơn (80÷90)%.
Trở lực tháp đệm phụ thuộc dạng vật liệu đệm và điều kiện làm việc, có thể lên tới
1500N/m
2
.
1.1.2.4. Thiết bị sủi bọt
Phổ biến nhất là thiết bị sủi bọt với đãi chảy sụt và đĩa chảy qua. Đĩa chảy sụt có thể
là đĩa lỗ, đĩa rãnh. Bụi được thu hồi bởi lớp bọt được hình thành do tương tác của
khí và lỏng. Quá trình thu hồi bụi trong thiết bị sủi bọt diễn ra trong các giai đoạn
sau:
- Thu hồi bụi trong không gian dưới lưới do lực quán tính, được hình thành do
dòng khí thay đổi hướng chuyển động khi đi qua đĩa. Hiệu quả của giai đoạn
này chỉ lớn đối với bụi thô đường kính 10m;
- Lắng bụi từ tia khí, hình thành bởi các lỗ hoặc khe hở của đĩa với vận tốc cao
đập vào lớp chất lỏng trên đĩa (cơ chế va đập);
tâm
17
- Thiết bị với ống khí vào theo phương tiếp tuyến. Nước rửa khí chảy qua vòi
phun ở trung tâm và chảy thành màng trên thành thiết bị.
Đặc điểm của thiết bị này là chất lỏng ít bị cuốn theo khí vì lực ly tâm làm lắng các
giọt lỏng trên thành thiết bị.
1.1.3. Thiết bị lọc điện
Trong thiết bị lọc điện, khí được xử lý bụi nhờ tác dụng của lực điện trường.
Nguyên lý hoạt động: Khí thải được thổi qua hai điện cực. Điện cực nối đất được
gọi là điện cực lắng vì bụi chủ yếu được lắng ở điện cực này. Điện cực còn lại được
gọi quầng sáng. Điện cực này được cung cấp dòng điện một chiều có hiệu thế cao,
do điện thế cao nên cường độ điện trường xung quanh lớn và gây ra sự va đập ion
mãnh liệt. Dưới tác dụng của lực điện trường, các ion sẽ chuyển dịch về phía các
điện cực trái dấu và tạo nên dòng điện. Khi thổi khí thải có chứa bụi qua không gian
của hai điện cực, các ion sẽ bám dính trên bề mặt các hạt bụi và hạt bụi trở nên
mang điện. Dưới tác dụng của lực điện trường, các hạt bụi sẽ chuyển dịch tới các
điện cực trái dấu. Khi tới các điện cực, các hạt bụi được lắng lại trên bề mặt điện
cực. Theo những khoảng thời gian xác định, tùy thuộc mức độ tích tụ bụi, người ta
rung lắc điện cực hoặc xối nước điện cực rồi thu lấy bụi.
Trong công nghiệp, người ta còn sử dụng thiết bị lọc điện ướt, trong đó việc làm
sạch các điện cực được thực hiện bằng cách tưới qua vòi phun. Thiết bị lọc điện ướt
được ứng dụng để thu hồi bụi, sương các axit khác nhau.
Thiết bị lọc điện xử lý thể tích khí lớn khỏi các hạt bụi kích thước từ (0,01÷100)m
ở nhiệt độ đến (400÷500)
0
C. Trở lực của thiết bị lọc điện khoảng 150Pa. Tiêu hao
điện năng cho xử lý 100m
3
khí khoảng (0,36÷1,8)10
2
O như sau:
CO + H
2
O → CO
2
+ H
2
+ 9,5 kcal
Có thể sử dụng xúc tác là hỗn hợp các oxit của Fe và Crom (87% Fe
2
O
3
và 65%
Cr
2
O
3
) với các chất MgO và K
2
O có chức năng kích thích phản ứng.
1.2.2. Phương pháp hấp thụ
Sử dụng phương pháp hấp thụ, sử dụng một trong các dung dịch hấp thụ như:
- Nitơ lỏng
- Dung dịch [Cu(NH
3
)
m
(H
2
+xNH
3
+ yCO
→ [Cu(NH
3
)
m+n
(CO)
y
(H
2
O)
n
]
+
+ Q
Tùy theo từng nồng độ của phức, tăng áp suất của CO, giảm nhiệt độ, thì khả năng
hấp thu tăng.
19
1.2.2.2. Hấp thu bằng Clorua đồng nhôm CuAlCl
4
(20-50%) và (80-90%) Toluen
CuCl + AlCl
3
+ 2C
6
H
H
5
CH
3
Các khí CO
2
, O
2
, N
2
, H
2
, không tham gia phản ứng với phức CuAlCl
4
nhưng hơi
nước lại phản ứng :
CuAlCl
4
+ H
2
O → 2HCl + CuCl + CuAlCl
4
.CuOCl
Vì vậy, trước khi hấp thụ khí thải được sấy khô. Đây là nhược điểm của phương
pháp này.
1.2.2.3. Hấp thụ bằng Nitơ lỏng
Khử CO bằng phương pháp đốt có xúc tác là phù hợp, nhưng trong dòng khí thải,
ngoài CO còn có các khí khác có thể là chất độc đối với xúc tác.
Quá trình này được ứng dụng trong công nghiệp nitơ bao gồm 3 giai đoạn:
1.3.3. Vị trí địa lý của dự án
Khu đất dự kiến xây dựng Cơ sở sản xuất có diện tích 11.000 m
2
nằm trong KCN
Hải Sơn (GĐ 3 + 4), thuộc thửa đất số 850, tờ bản đồ số 24 do Công ty TNHH Hải
Sơn giao lại, tại Xã Đức Hoà Hạ, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An. Khu đất có vị trí
như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 728 là vị trí của Công ty TNHH Hải Sơn. Chủ đầu tư
hạ tầng của KCN.
- Phía Tây giáp thửa đất số 820 là khuôn viên của Công ty TNHH Huy Phú Đức.
Đây là công ty cũng thuộc loại hình dệt nhuộm. Công ty đã làm các thủ tục thuê
đất nhưng chưa tiến hành đầu tư.
- Phía Nam giáp đường số 5 và khu đất còn trống của KCN.
- Phía Bắc giáp thửa đất số 756 là Công ty TNHH MTV SXTMDV Vĩnh Thuận
Hưng. Đây là công ty đầu tư sản xuất các mặt hàng về cơ khí. Công ty đã làm
các thủ tục thuê đất nhưng chưa tiến hành đầu tư.
21
Một số các thửa đất lân cận như thửa số 757 là Công ty TNHH Sơn Thế Hệ Mới.
Đây là công ty đầu tư sản xuất các mặt hàng về cơ khí. Công ty đã làm các thủ tục
thuê đất nhưng chưa tiến hành đầu tư. Thửa đất số 787 là Công ty TNHH Nhà Thép
Hoàng Hà. Công ty chuyên sản xuất các Khung kèo thép các loại phục vụ cho xây
dựng. Hiện tại công ty đã đi vào hoạt động ổn định.
1.3.4. Các hạng mục công trình của dự án
Các hạng mục công trình của dự án đầu tư được thể hiện trong bảng 1.2 bên dưới.
Bảng 1.2 Các hạng mục công trình của dự án đầu tư
TT
CÔNG TRÌNH
ĐƠN
2
300 2,73
7
Hồ chứa nước + tháp nước + nhà
ăn
m
2
100 0,91
8 Nhà xe + bể nước PCCC m
2
28 0,25
22
9 Nhà Bảo vệ m
2
16 0,15
10 Trạm biến điện m
2
16 0,15
11 Diện tích cây xanh m
2
2.200 20
12 Diện tích đường giao thông m
2
1.540 14
Tổng cộng m
2
11.000 100
(Nguồn: Công ty TNHH dệt nhuộm Tân Đức Khanh)
Thuyết minh quy trình công nghệ sản xuất:
Quy trình công nghệ sản xuất của nhà máy cụ thể như sau: Sợi polyester thành
phẩm được nhập hoặc mua từ trong nước là nguyên liệu của nhà máy. Sau khi sợi
nhập về sẽ vô kho và chờ điều phối sản xuất theo quy trình và yêu cầu của khách
hàng.
Công đoạn dệt:
Sợi từ cọc sợi được đưa vào máy dệt của Đài Loan để dệt ra vải thô. Tuỳ theo yêu
cầu của khách hàng sẽ có các quy cách dệt khác nhau. Do sợi là sợi polyester nên
nhà máy không cần công đoạn hồ vải bằng tinh bột hoặc vật liệu gốc tinh bột để
tăng độ bền trơn và sáng bóng của vải sau khi dệt. Trên dây chuyền, sợi được dồn từ
côn sang trục mắc một cách phù hợp để điều chỉnh các sợi vải. Ở công đoạn dệt, các
sợi được dệt kim để tạo thành vải. Với thiết bị dệt này mức độ tiếng ồn khá thấp.
Theo thực tế của các máy tương tự thì mức ồn khoảng 75 – 80 dBA. Các thiết bị
này mới được sản xuất và đang áp dụng rộng rãi ở Đài Loan. Công đoạn dệt được
vận hành theo chế độ tự động được cài đặt theo từng loại sản phẩm theo yêu cầu của
khách hàng.
KCS:
KCS là quá trình kiểm tra sơ bộ chất lượng vải sau khi dệt và trước khi chuyển qua
khâu nhộm. Vải sau khi dệt thường có bề mặt thô; ráp và có thể chứa các tạp bẩn.
Vì vậy, vải sẽ được chuyển sang khâu kiểm tra để loại bỏ các mét vải lỗi, sai kỹ
thuật, không đảm bảo chất lượng.
Xẻ, định hình, kiểm bóng
Đây là công đoạn rất quan trọng trước khi nhuộm. Vải thô sau khi được kiểm tra
chất lượng, xẻ, định hình, kiểm bóng được đưa vào máy nhuộm để gắn màu trên
vải. Công đoạn này sẽ xẻ và định hình vải theo kích thước yêu cầu của khách hàng
và xử lý sơ bộ bề mặt để kiểm tra độ bóng của vải.
24
Nhuộm vải
trong máy trước khi qua công đoạn sấy. Nhiệt cung cấp cho quá trình sấy được lấy
từ lò dầu. Lò dầu thực chất là một thiết bị trao đổi nhiệt gián tiếp. Nhiệt từ đốt củi
trấu với khối lượng khoảng 500 kg/giờ sẽ nung nóng dầu tải nhiệt qua thiết bị trao
đổi nhiệt. Dầu tải nhiệt sẽ bay hơi và chuyển qua khâu sấy vải qua bề mặt trao đổi
nhiệt gián tiếp. Sau khi qua trao đổi nhiệt dầu lại tuần hoàn trở về và tiếp tục quy
trình được nung nóng bởi củi trấu và tiếp tục quy trình trên.
Vải sau sấy định hình sẽ được cuộn theo từng cuộn và dán nhãn, chuyển vô kho
thành phẩm.