TÓM LƯỢC
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận và coi cạnh tranh là môi
trường và động lực mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã
hội. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải cung cấp những sản phẩm mà thị trường
cần để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng. Trong
quá trình cạnh tranh doanh nghiệp cần phải khẳng định được vị trí và uy tín của mình
trên thương trường. Cạnh tranh không chỉ đo lường bằng năng lực nội tại của từng chủ
thể mà đo bằng sự so sánh giữa các chủ thể với nhau. Do đó, đạt được vị thế cạnh
tranh mạnh của mình là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp. Đồng nghĩa với nó doanh
nghiệp phải nhanh chóng thay đổi một cách cơ bản những suy nghĩ của mình về công
việc kinh doanh trên thị trường ngày càng biến động. Điều này đặt ra rất nhiều vấn đề
cho doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp
cần có nhận thức đúng đắn về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực
cạnh tranh sản phẩm, bởi đây là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp phát triển.
Với mức độ cần thiết của cạnh tranh, xu thế phát triển của mặt hàng quần áo
thời trang và điều kiện tiếp xúc thực tế tại Công ty em xin lựa chọn đề tài luận văn tốt
nghiêp: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của Công ty TNHH
Nguyễn Bảo Ngọc”
Dựa trên cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh
nghiệp và đặc thù của mặt hàng quần áo thời trang luận văn xây dựng các yếu tố tạo
lập năng lực cạnh tranh marketing của công ty TNHH Nguyễn Bảo Ngọc như sau :
Năng lực cạnh tranh nguồn bao gồm : Năng lực tài chính – nguồn vốn kinh
doanh, năng lực quản trị lãnh đạo, chất lượng nguồn nhân lực – lực lượng bán
hàng, hệ thống thông tin và năng lực R & D
Năng lực cạnh tranh thị trường bao gồm : Chính sách sản phẩm – chất lượng và
đa dạng hóa sản phẩm, giá bán sản phẩm, thương hiệu của công ty, công cụ xúc
tiến
thương mại – dịch vụ khách hàng, thị phần sản phẩm trên thị trường.
Trên cơ sở đó luận văn đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng quần
áo thời trang của Công ty trên thị trường Hà Nội trong tương quan so sánh giữa hai đối
thủ cạnh tranh chính là công tyTNHH thương mại và dịch vụ BigC, công ty cổ phần
thiện.
Cuối cùng cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ em hoàn thành
bài luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2013
Sinh Viên
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
STT TÊN BẢNG TRANG
1 Bảng 1.1: Tiêu chí chi tiết đánh giá NLCT của doanh nghiệp 12
2 Bảng 1.2 : Mô hình đánh giá NLCT tổng hợp của doanh nghiệp 19
3 Bảng 2.1 :Cơ cấu, chất lượng lao động qua các năm 26
4 Bảng 2.2: Cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010-2012 28
5 Bảng 2.3: Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của Công ty từ 2010-2012 30
6 Bảng 2.4: Chi phí hoạt động marketing của Công ty năm 2012 30
7 Bảng 2.5: Giá bán một số sản phẩm của Công ty năm 2012 32
8 Bảng 2.6: Mô thức đánh giá NLCT của Công ty 37
9 Bảng 3.1: Đánh giá tổng hợp NLCT của Công ty 44
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
STT TÊN HÌNH TRANG
1. Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty 24
2. Hình 2.2: Thị phần của Công ty trên thị trường năm 2012 29
3. Hình 2.3: Thực trạng giá bán sản phẩm của Công ty năm 2012 33
4. Hình 2.4: Thực trạng chủng loại sản phẩm của Công ty năm 2012 33
5. Hình 2.5: Thực trạng chất lượng sản phẩm của Công ty năm 2012 34
6. Hình 2.6: Thực trạng hoạt động xúc tiến của Công ty 35
7. Hình 2.7: Thực trạng kênh phân phối của Công ty 35
những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông
qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so
sánh đó, để tạo lập năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế
so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn
các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác
cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất
cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và
có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này
7
và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những
đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp
được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như
marketing, tài chính, đặt hàng, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy
nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được
các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và
cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá
năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh
giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ;
chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông
tin và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín
của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng
trưởng thị phần; vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều Công ty cùng kinh doanh các loại mặt
hàng giống nhau, hoặc có thể thay thế cho nhau. Vậy để người tiêu dùng lựa chọn sản
phẩm của mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ thì doanh nghiệp cần
phải làm gì ? Đây là một câu hỏi khó mà không phải Công ty nào cũng làm được. Để
làm được điều này thì Công ty phải không ngừng nâng cao thương hiệu của mình, cải
tiến về chất lượng sản phẩm, sự khác biệt nổi trội về dịch vụ khách hàng …Tất cả các
3. Các mục tiêu nghiên cứu :
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh sản phẩm và các yếu tố tạo lập năng lực cạnh tranh của mặt hàng quần áo thời
trang.
- Tiếp cận và đánh giá một cách khách quan và hệ thống năng lực cạnh tranh
tổng thể mặt hàng quần áo thời trang của Công ty TNHH Nguyễn Bảo Ngọc để thấy
được ưu điểm, nhược điểm, đồng thời phát hiện những nguyên nhân của thực trạng
trong đối sánh với cac đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
- Đề xuất một số giải pháp và những kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh mặt hàng quần áo thời trang của Công ty TNHH Nguyễn Bảo Ngọc
4. Phạm vi nghiên cứu :
Nhận thức được rằng phân tích hay đánh giá một cách triệt để và toàn diện năng
lực cạnh tranh của sản phẩm là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều
9
khía cạnh, nhiều cấp độ tổ chức và quản trị. Bên cạnh đó do giới hạn về thời gian và
kiến thức còn nhiều hạn chế, do vậy để kết quả nghiên cứu thực sự ứng dụng trong
hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Nguyễn Bảo Ngọc, em xin giới hạn vấn đề
nghiên cứu như sau :
- Về không gian thị trường : Thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu : Do điều kiện không cho phép nên các số liệu được sử
dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài chỉ hạn chế trong khoảng thời gian từ năm 2010
– 2012. Đề xuất và kiến nghị đến 2015 và một số năm tiếp theo
- Nội dung nghiên cứu : Luận văn tập trung nghiên cứu CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO NLCT MARKETING của Công ty TNHH Nguyễn Bảo Ngọc gắn với
đặc điểm ngành hàng may mặc thời trang.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài em có sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích thực
nghiệm, phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi và phương pháp phỏng vấn trực tiếp.
6. Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Ngoài các phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục
phương thức thích ứng với thị trường của DN, mà mục đích là giành được hiệu quả
hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thoả mãn nhằm đạt được lợi nhuận
bình quân vừa đủ đẻ có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho những rủi
ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất
cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài,
tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý…”
Qua đó ta thấy cạnh tranh luôn được xem xét trong trạng thái động và có sự đối
sánh, và trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay cạnh tranh được các chủ thể
kinh tế sử dụng một cách rộng rãi vì vậy khái niệm cạnh tranh cần được xây dựng một
cách đầy đủ, có hệ thống và tính lôgic cao. Trong xu hướng toàn cầu hóa thì hầu hết
11
các nước đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là cơ hội lại vừa là thách
thức để doanh nghiệp khẳng định mình. Do vậy, cạnh tranh được hiểu như là quan hệ
kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua với nhau, tìm mọi biện pháp, cả nghệ
thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu của mình. Kết quả là sẽ loại bỏ những doanh
nghiệp làm ăn kém hiệu quả, từ đó thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển hơn.
1.1.1.2. Năng lực cạnh tranh (NLCT)
NLCT của DN là sự thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh
trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng
cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra
những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi
nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường .
Năng lực canh tranh của DN được tạo ra từ thực lực của DN và là các yếu tố nội
hàm của mỗi DN. NLCT không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài
chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN,… mà NLCT của DN gắn liền với ưu thế của sản
phẩm mà DN đưa ra thị trường. NLCT của DN gắn với với thị phần mà nó nắm giữ,
cũng có quan điểm đồng nhất của DN với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Theo GS.TS. Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết : “Phương pháp luận
xác định NLCT và hội nhập kinh tế quốc tế của DN” thì NLCT cùa DN nói chung và
NLCT của sản phẩm nói riêng được hiểu là : tích hợp các khả năng và nguồn lực để
sản phẩm đó thấp.
1.1.1.3.Năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp
Là khái niệm kết hợp các nguồn lực marketing của doanh nghiệp với nhau và
khả năng thúc đẩy việc sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả trên thị trường
đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp.
1.1.2. Một số lý thuyết cơ bản liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh
marketing trong doanh nghiệp
1.1.2.1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh và mô hình tứ giác chiến lược cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh (LTCT): là sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được
để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, chúng ta
đang nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh
tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm cho doanh nghiệp, có tính vi mô chứ
không phải có tính vĩ mô ở cấp quốc gia.
13
Theo M.Porter lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là phải doanh nghiệp phải liên tục
cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể
cung cấp.NLCT phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để
tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt của sản phẩm. Muốn năng cao năng lực
cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế của mình để đạt thắng lợi trong
cạnh tranh.
Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào 4 tiêu chí:
Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm, tính cạnh tranh về giá
cả, khả năng thâm nhập thị trường mới, khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và
phương thức kinh doanh ngày càng phong phú hơn.
Mô hình tứ giác chiến lược cạnh tranh
DN- khách hàng – đối thủ cạnh tranh có mối quan hệ tương tác hai chiều: DN
cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, khách hàng sẽ thanh toán cho DN khi thỏa mã nhu cầu và giá trị mong
muốn mà khách hàng nhận được từ phía DN, đối thủ cạnh tranh gây ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp tới các quyết định kinh doanh của DN. Các tổ chức xúc tiến và tài trợ:
giả nổi tiếng: M.Porter với “ Giáo trình khái luận quản trị chiến lược”. Và Philip
Kotler với “ Giáo trình quản trị Marketing”.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước
Thành tựu nghiên cứu trong nước như: GS. TS Trần Minh Đạo (2002) với: “Giáo
trình Marketing căn bản”.(NXB Giáo Dục); GS. TS Nguyễn Bách Khoa – TS Nguyễn
Hoàng Long (2005): “ Giáo trình Marketing thương mại”.
Từ việc nghiên cứu các luận văn liên quan đến đề tài giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh Marketing của công ty như một số đề tài sau:
Nguyễn Thị Chất với: “ Giải pháp Marketing _ Mix nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty cổ phần hóa chất xây dựng Data chem.” Năm 2009, chuyên ngành
quản trị do TS Nguyễn Tiến Dũng hướng dẫn- Trường Đại học Thương Mại.
Cùng với việc nghiên cứu các giáo trình, tài liệu liên quan đến các giải pháp
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, em thấy đây là một đề tài khá phổ biến nhưng
qua các tình hình kinh tế khác nhau cũng như với các mặt hàng khác nhau thì có các
giải pháp khác nhau. Đây là lý do em chọn đề tài này làm đề tài luận văn của mình.
15
1.3.TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ NỘI DUNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH MARKETING CỦA CÔNG TY KINH DOANH
1.3.1. Các yếu tố tạo lập năng lực cạnh tranh Marketing của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: năng lực cạnh tranh
marketing, năng lực cạnh tranh phi marketing và năng lực cạnh tranh với tư cách
doanh nghiệp là một chỉnh thể.
+ Năng lực cạnh tranh marketing bao gồm các yếu tố: Hệ thống thông tin marketing,
tổ chức marketing, hoạch định chiến lược marketing, các chương trình marketing hỗn
hợp, các hoạt động kiểm tra marketing, hiệu suất hoạt động marketing.
+ Năng lực cạnh tranh phi marketing bao gồm các yếu tố: vị thế tài chính của doanh
nghiệp, năng lực quản trị lãnh đạo, nguồn nhân lực, năng lực R & D , năng lực sản
xuất tác nghiệp.
+ Năng lực cạnh tranh với tư cách là một chỉnh thể bao gồm các yếu tố cấu thành nên
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp, các
-Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu:
Việc xác đinh được tỷ lệ này giúp cho các nhà lãnh đạo biết được những nhu cầu của
thị trường, bằng các biên pháp so sánh giữa các năm có thể đưa ra được các mức chi
phí marketing bỏ ra cho hợp lý trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận.Tỉ lệ chi phí marketing trên
tổng doanh thu là biện pháp xác định cho từng loại thị trường, đối với các thị trường mới,
hay với thị trường đã bão hoà thì nên sử dụng chi phí marketing như thế nào?
Uy tín của doanh nghiệp:Là yếu tố tác động rất lớn đến tâm lý người tiêu dùng và đến
quyết định mua của khách hàng. Uy tín của doanh nghiệp sẽ tạo lòng tin cho
khách hàng, cho nhà cung cấp và cho các đối tác kinh doanh và doanh nghiệp sẽ
có nhiều thuận lợi và được ưu đãi trong quan hệ với bạn hàng. Uy tín của doanh
nghiệp là một tài sản vô hình của doanh nghiệp.
1.3.2.2.Phương pháp xác định và kết luận rút ra
Để xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sử dụng phương pháp xác định dự
trên chỉ số năng lực tuyệt đối và chỉ số năng lực tương đối:
Dựa trên các đặc thù riêng biệt của sản phẩm, dịch vụ của mình để xác định
bảng tiêu chí và đánh giá NLCT của doanh nghiệp.
17
Bảng 1.1: Bảng tiêu chí chi tiết đánh giá NLCT của DN
TT Các tiêu chí đánh giá NLCT Trọng số
(Ki)
Điểm xếp
loại (Pi)
Điểm
tổng hợp
Ki*Pi
1 NLCT nguồn:
- Vị thế tài chính
- Năng lực quản lý và lãnh đạo
- Nguồn nhân lực
- Quy mô sản xuất kinh doanh
- DSCTDN – Điểm đánh giá NLCT của doanh nghiệp
- Pi – Điểm bình quân chỉ tiêu i của tập mẫu đánh giá
- Ki – Hệ số quan trọng của chỉ tiêu i.
1.3.3. Nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp
1.3.3.1. Nghiên cứu thị trường và xác định thị trường mục tiêu
Nghiên cứu thị trường của DN nhằm xác định nhu cầu của thi trườngcủa thị
trường và thay đổi phương hướng hoạt động của DN cho phù hợp với sự biến đổi của
thị trường. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm :
Môi trường vi mô: những yếu tố ở phạm vi gần và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
cung ứng sản phẩm dịch vụ, đến hoạt động và hiệu quả của doanh nghiệp: khả năng tài
chính, trình độ công nghệ, trình độ cán bộ quản lý, đội ngũ nhân viên, hệ thống mạng
lưới bán hàng, uy tín thương hiệu…. Khách hàng của doanh nghiệp, có vị trí hết sức
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bộ phận marketing phải
xác định được những nhu cầu mong đợi của khách hàng từ phía doang nghiệp và cách
thức lựa chon sản phẩm dịch vụ của họ, bộ phận marketing phải hiểu đầy đủ về đối thủ
cạnh tranh của mình để xây dựng chiến lược cạnh tranh năng động hiệu quả phù hợp
với từng doanh nghiệp
Môi trường vĩ mô, bao gồm các tác nhân rộng lớn nằm ngoài quản lí của doanh nghiệp
nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn bộ hoạt động của marketing:
môi trường địa lí, môi trường dân số, môi trường kinh tế, môi trường văn hoá- xã hội,
môi trường chính trị luật pháp, môi trường kỹ thuật công nghệ. Những thay đổi của
môi trường này tạo ra “cơ hội” hoặc “ thách thức” đối với hoạt động kinh doanh của
DN. Chính vì vậy, bộ phận marketing doanh nhiệp cần phải tổ chức thu thập đầy đủ,
chính xác, kịp thời thông tin về môi trường và phân tích dự báo được sự biến động
19
chung, giúp cho doanh nghiệp có cơ sở điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp cho phù
hợp vơi thay đổi của môi trường
1.3.3.2. Xác định thị trường mục tiêu
Phân đoạn thị trường: là quá trình phân chia người tiêu dùng thành nhóm trên cơ
sở những điểm khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi.
qua giá bán sản phẩm. Có nhiều chiến lược cạnh tranh về giá mà Công ty có thể áp
dụng như chính sách cạnh tranh giá thấp, cạnh tranh ngang giá, cạnh tranh giá cao.
Tuy nhiên Công ty phải căn cứ vào tình hình thực tế hoạt động kinh doanh ( tình hình
nhập, tồn kho và tiêu thụ hàng hóa,…) chính sách giá của đối thủ cạnh tranh, nhu cầu
thị trường, mục tiêu của Công ty….Một giá bán hợp lý là giá bán mà người tiêu dùng
chấp nhận, tức là giá bán tương xứng với độ thỏa mãn của khách hàng đồng thời cũng
phải mang lại lợi nhuận cho Công ty. Do vậy, đòi hỏi nhà kinh doanh phải cân nhắc
kỹ lưỡng trước khi đưa ra mức giá cho các sản phẩm. Việc quyết định mức giá có ảnh
hưởng rất lớn đến vị thế của doanh nghiệp và góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh
cho sản phẩm.
1.3.3.5. Chính sách phân phối
Mạng lưới phân phối của sản phẩm là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng tiêu thụ sản phẩm của DN, nó ảnh hưởng đến các chính sách Marketing của
sản phẩm và giúp DN tạo ra lợi thế cạnh tranh. Một mạng lưới phân phối tốt có thể
giúp tăng thị phần sản phẩm cho DN đồng thời cũng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
Marketing của mình như cung cấp thông tin đến khách hàng và phản hổi lại thông tin
từ phía khách hàng.
thời cũng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ Marketing của mình như cung cấp thông tin
đến khách hàng và phản hồi thông tin khách hàng. Với doanh nghiệp xây dựng thì sự
phản hồi của khách hàng liên quan đến chất lượng, độ bền công trình xây dựng rất
quan trọng giúp doanh nghiệp nhận ra những hạn chế tìm ra cách khắc phục, tích lũy
thêm kinh nghiệm.
1.3.3.6. Các hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán hàng
Các hình thức xúc tiến rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức như quảng
cáo, khuyến mại, bán hàng cá nhân, bán hàng trực tuyến, PR…Tùy từng giai đoạn
của chu kỳ sống mà Công ty lựa chọn các phương tiện xúc tiến và cường độ sử
dụng khác nhau. Khi sử dụng nhiều phương diện xúc tiến cần quan tâm đến sự nhất
quán trong thông điệp, cách thể hiện và cùng hướng mục tiêu doanh nghiệp đề ra.
21
Một chính sách xúc tiến đúng thời điểm là một cú híc quan trọng, góp phần không
nguồn cung cấp đến chất lượng dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp. Đây cũng là
nguồn cung cấp nguồn lao động cho xã hội nói chung và cho doanh nghiệp nói riêng.
Môi trường chính trị, pháp luật:Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều nằm trong
khuôn khổ của pháp luật, thể chế chính trị. Khi cơ chế chính trị ổn định, hệ thống pháp
luật rõ ràng nghiêm minh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp
phát triển cũng như môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Môi trường khoa học công nghệ: Công nghệ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng
cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, từ đó có thể nâng cao khả năng cạnh
tranh. Công nghệ giúp doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được thông tin về thị
trường cũng như phân tích các nhu cầu thị trường và quảng bá sản phẩm của mình đến
với công chúng.
Môi trường văn hóa: Dù ở môi trường kinh doanh nào thì các DN đều chịu tác động
bởi yếu tố văn hóa ở nơi ấy. Phải có chiến lược kinh doanh phù hợp với phong tục, tập
quán của từng vùng, miền kinh doanh tránh làm tổn hại cũng như phá vỡ tập tục ở nơi
đó. Nếu đi ngược lại thì sẽ bị tẩy chay ngay khỏi thị trường.
Môi trường tự nhiên: Đó là các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài
nguyên. Nguyên, nhiên vật liệu dần trở nên khan hiếm gây sức ép cho toàn xã hội.
Buộc các doanh nghiệp phải tìm nguồn nguyên liệu thay thế mà chất lượng sản phẩm
không đổi.
Khách hàng: Khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, đồng thời cũng là lực lượng
chi phối các quyết định Marketing của doanh nghiệp. Bởi doanh nghiệp phục vụ nhu
cầu của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng phù hợp và có chiến lược
cạnh tranh Marketing đúng đắn.
Nhà cung cấp: Để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho thị trường thì bất kỳ
công ty nào cũng cần các yếu tố đầu vào. Những biến động trên thị trường như: số
lượng, chất lượng, giá cả… đều tác động đến Marketing tạo ra môi trường thuận lợi
hay bất lợi cho công ty, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của công ty.
Đối thủ cạnh tranh: Trong mỗi một lĩnh vực kinh doanh hay mặt hàng kinh doanh
thường có rất nhiều doanh nghiệp tham gia, và việc doanh nghiệp nào thu hút, hấp dẫn
được khách hàng về sản phẩm của mình thì doanh nghiệp sẽ tồn tại. Các DN đang nỗ
thứ cấp và trên cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá NLCT Marketing của công ty
TNHH Nguyễn Bảo Ngọc so với đối thủ cạnh tranh là công ty TNHH thương mại và
dịch vụ Big C và công ty cổ phần thương mại Mai Sơn . Từ đó đánh giá NLCT tổng
thể của Công ty TNHH Nguyễn Bảo Ngọc.
24
Đánh giá NLCT của DN trong đối sánh với các ĐTCT trực tiếp:Dựa trên bảng tổng
hợp năng lực cạnh tranh mặt hàng quần áo thời trang và tập trung khảo sát đánh giá
điểm xếp loại của các tiêu chí này của Công ty trong đối sánh với các ĐTCT trực tiếp.
Bảng 1.2: Mô hình đánh giá NLCT tổng hợp của DN
Nhân tố tạo lập NLCT
Trọng
Số
Điểm xếp loại
DN A ĐT B ĐT C
A. NLCT Nguồn :
1. Vị thế tài chính
2. Năng lực quản lý và lãnh đạo
3. Chất lượng nguồn nhân lực
4. Quy mô kinh doanh
5. Cơ sở vật chất
6. Năng lực R & D
0.05
0.05
0.1
0.05
0.05
A. NLCT Thị trường :
1. Thị phần
2. Chất lượng sản phẩm
3. Giá cả