Nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam - Pdf 25

1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
TÓM LƯỢC
Sinh viên thực hiện: Cao Thị Thắm
Lớp : K7HQ1A
Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
Với mức độ cạnh tranh, xu thế phát triển của ngành sản xuất kinh doanh, đặc
biệt là các sản phẩm tiêu dùng, trong đó có sản phẩm sữa bột công thức giành cho
trẻ nhỏ từ 0 tới 3 tuổi (Physiolac) và điều kiện tiếp cận tình hình thực tế tại công ty
cổ phần dược phẩm Việt Nam, tác giả chọn đề tài nghiên cứu:
“Nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm
Việt Nam”.
Dựa trên lý luận về nâng cao NLCT marketing của sản phẩm của doanh
nghiệp và đặc thù của ngành kinh doanh là nhập khẩu và phân phối sản phẩm sữa
bột công thức Physiolac của Pháp, khóa luận xây dựng các yếu tố tạo lập NLCT
marketing cho sản phẩm sữa bột công thức Physiolac cho trẻ từ 0 tới 3 tuổi của
công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam như sau:
• Các nhân tố tạo lập NLCT marketing bao gồm:
+ Chính sách sản phẩm
+ Giá bán sản phẩm
+ Nguồn nhân lực marketing
+ Mạng lưới phân phối sản phẩm
+ Công cụ xúc tiến thương mại
+ Thị phần của sản phẩm trên thị trường
+ Dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Trên cơ sở đó khóa luận đánh giá thực trạng NLCT marketing của công ty cổ
phần dược phẩm Việt Nam trên khu vực thị trường chính là thị trường thành phố Hà
Nội trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh chính là Công ty TNHH
Friesland Campina Việt Nam và công ty TNHH Nestle Việt Nam.
Từ đó rút ra kết luận về thực trạng NLCT marketing của sản phẩm sữa bột công
thức Physiolac của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam trên thị trường hiện nay:

khóa luận được hoàn thiện.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn
tạo điều kiện, động viên giúp đỡ để tác giả hoàn thành bài khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Sinh viên

Cao Thị Thắm
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.2: Các nhân tố tạo lập NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm
Việt Nam.
Bảng 2: Danh sách phỏng vấn chuyên gia.
Biểu đồ 2.3.1: Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới NLCT marketing của
công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam.
Bảng 3: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng 4: Cơ cấu lao động công ty từ năm 2010 đến năm 2012
Biểu đồ 2.4.1: Doanh thu, lợi nhuận sau thuế sản phẩm sữa bột Physiolac của công
ty năm 2010 đến năm 2012
Biểu đồ 2.4.2:Tổng hợp đánh giá thực trạng NLCT marketing sản phẩm sữa
Physiolac qua điều tra dữ liệu sơ cấp.
Bảng 2.1: Bảng đánh giá tổng hợp NLCT marketing sản phẩm của công ty
Bảng 3.1: Bảng kì vọng NLCT marketing tổng hợp của sản phẩm sữa Physiolac
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ nghiên cứu đề tài
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2

đảm bảo …doanh nghiệp phải không ngừng học hỏi các kinh nghiệm quản lí tiên tiến
của các nước trên thế giới, phải không ngừng đầu tư trang thiết bị hiện đại, trang bị
cho đội ngũ cán bộ công nhân viên những vũ khí cần thiết để họ có thể sẵn sàng ứng
phó và xử lí mọi vấn đề biến động nếu xảy ra. Có như vậy công ty mới chủ động
trong quá trình sản xuất, kinh doanh và thu hút được khách hàng đồng thời chiến
thắng được đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Kết quả của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn
tại, phát triển và doanh nghiệp nào sẽ bị đào thải. Do đó vấn đề nâng cao năng lực
cạnh tranh, đặc biệt là năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp đã trở thành
một vấn đề quan trọng hàng đầu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần quan tâm.
Trong nền kinh tế mở của Việt Nam hiện nay, khi mà đã và đang hội nhập với
nền kinh tế thế giới, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì sự bảo hộ của nhà
nước với các doanh nghiệp trong nước là không thể, buộc các doanh nghiệp phải tự
mình vận động để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới. Bên cạnh trở thành thành
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
viên được hưởng các ưu đãi thuế quan từ các quốc gia thành viên trong tổ chức WTO
thì Việt Nam cũng phải thực hiện việc cắt giảm mức thuế quan đồng thời dỡ bỏ các
hàng rào phi thuế. Điều này mở cho các doanh nghiệp Việt rất nhiều cơ hội, song
song với đó cũng là không ít các khó khăn khi mà phải cạnh tranh trong một sân chơi
bình đẳng. Nếu doanh nghiệp không có ý thức nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ bị rơi
vào nguy cơ tụt hậu và bị đào thải khỏi thị trường. Chính vì vậy, nâng cao năng lực
cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp nói riêng có
ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại sống còn của mỗi doanh nghiệp nói riêng và sự
tăng trưởng kinh tế nói chung.
Qua quá trình thực tập và tìm hiểu tại Công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam,
em nhận thấy công ty đã có những bước hội nhập, tạo lập và dần nâng cao được vị
thế của sản phẩm kinh doanh của công ty và cũng tạo được cho sản phẩm của mình
một chỗ đứng trên thị trường. So với những ngày đầu thành lập thì công ty đang ngày

-
Những nhân tố tạo lập NLCT nguồn: Năng lực sản xuất và tác nghiệp, năng lực tài
chính, năng lực quản trị và lãnh đạo, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực R&D.
-
Nhân tố tạo lập NLCT marketing: Chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách
phân phối, chính sách xúc tiến, thị phần của công ty trên thị trường, dịch vụ chăm sóc
khách hàng của công ty.
Về mặt thực tế, đề tài đi sâu vào tìm hiểu, phân tích thực trạng năng lực cạnh
tranh marketing của mặt hàng công ty kinh doanh chủ yếu hiện nay là sản phẩm sữa
bột Physiolac, được công ty nhập khẩu từ tập đoàn sữa Gilbert của Pháp, giành cho
trẻ từ 0 tới 3 tuổi thông qua các yếu tố tạo lập NLCT nguồn và NLCT marketing cho
sản phẩm sữa bột Physiolac trên thị trường Hà Nội.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh marketing và các
yếu tố tạo lập năng lực cạnh tranh marketing của công ty trên thị trường.
- Tiếp cận thực tế của doanh nghiệp cách khách quan, xây dựng hệ thống tiêu chí
đánh giá NLCT marketing của công ty và từ đó đánh giá được thực trạng năng lực
cạnh tranh marketing của doanh nghiệp trên thị trường.
- Đề xuất ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh marketing
của doanh nghiệp trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Về không gian: Đề tài nghiên cứu, phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh
của sản phẩm sữa bột Physiolac nhập khẩu từ Pháp, giành cho trẻ 0 tới 3 tuổi trên
thị trường Hà Nội.
Phạm vi thời gian: Đề tài được nghiên cứu dựa trên dữ liệu từ năm 2010 đến
năm 2012. Từ đó định hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
marketing của công ty.
Phạm vi nội dung: Từ thực trạng năng lực cạnh tranh (bao gồm năng lực cạnh
tranh nguồn và năng lực cạnh tranh marketing) của công ty cổ phần dược phẩm Việt

9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP
1.Một số khái niệm có liên quan
1.1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh.
Khái niệm về cạnh tranh luôn có nhiều cách hiểu khác nhau, mỗi lĩnh vực
của nền kinh tế cạnh tranh lại được định nghĩa, được hiểu theo những quan điểm
khác nhau.
Kinh tế học [3] định nghĩa “ Cạnh tranh là tranh giành thị trường (khách
hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là
hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân,
các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm
dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất. ( nguồn:


, cập nhật ngày 20/3/2011).
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế
học (xuất bản lần thứ 12) cho. Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các
doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả
này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
nguồn: (

, cập nhật ngày 20/3/2011).
Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh
tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình

cạnh tranh. Tuy nhiên quan niệm này chưa gắn liền với việc thực hiện các mục
tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Theo bài giảng bộ môn quản trị chiến lược của trường đại học thương mại
năm 2011 thì năng lực cạnh tranh là năng lực mà doanh nghiệp thực hiện đặc biệt
tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những lợi thế mà các đối thủ cạnh
tranh không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép, bao gồm năng lực cạnh tranh
marketing và năng lực cạnh tranh phi marketing.
Tuy nhiên khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay chưa được hiểu một cách
thống nhất,trong phạm vi nghiên cứu đề tài thì có thể hiểu năng lực cạnh tranh như
sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi
thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút
và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền
vững. Như vậy theo cách hiểu này thì bản chất năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp được thể hiện qua các yếu tố sau:
-
Lượng thị phần trên thị trường hiện tại
-
Lượng lợi nhuận mà công ty thu được.
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
-
Năng suất lao động cao hơn đối thủ cạnh tranh.
-
Chất lượng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh.
-
Khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp
Từ những cách hiểu về NLCT như trên thì ta thấy được rằng việc nâng cao
NLCT của doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối
với sự sống còn của doanh nghiệp.

12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
điều kiện thị trường thực sự gay gắt để từ đó khẳng định sự tồn tại và vị thế của
doanh nghiệp.
1.1.5. Một số lý thuyết liên quan về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm,
năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp.
Tiếp cận theo quan điểm năng lực cạnh tranh cấp ngành, cấp công ty của
M.Porter( Micheal E Porter -2008, “Lợi thế cạnh tranh”- NXB trẻ) thì quan điểm
này dựa trên quản trị chiến lược phản ánh trong cuốn sách của M.Porter, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản
phẩm cùng loại của công ty đó.
Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết
“Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế doanh
nghiệp” đăng trên tạp chí khoa học của trường đại học thương mại hà nội thì năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
nói riêng được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát
triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó
trong mối liên hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường
mục tiêu xác định. Để đánh giá năng lực cạnh tranh một sản phẩm người ta thường
sử dụng các tiêu chí để có thể lượng hóa trong tương quan so sánh với các đối thủ
cạnh tranh. Việc nghiên cứu các tiêu chí này tập trung trên hai lĩnh vực hoạt động
chính là năng lực cạnh tranh nguồn và năng lực cạnh tranh marketing”.
Như vậy để có thể nâng cao được khả năng cạnh tranh marketing của doanh
nghiệp cần phải nâng cao cả năng lực cạnh tranh nguồn của doanh nghiệp.
Dựa vào phương pháp luận của GS.TS Nguyễn Bách Khoa và dựa trên đặc
thù kinh doanh của công ty, khóa luận xây dựng các nhân tố tạo lập năng lực cạnh
tranh nói chung và năng lực cạnh tranh marketing nói riêng cho sản phẩm sữa bột
Physiolac giành cho trẻ 0 tới 3 tuổi của tập đoàn Gilbert Pháp, là sản phẩm kinh
doanh chủ yếu của công ty.
1.1.6. Các nhân tố tạo lập năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

tập trung phân tích hai chỉ tiêu chính là tài sản và nguồn vốn của công ty.
Thứ ba: Năng lực quản trị và lãnh đạo
Quản lý là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công
nhân viên nhằm mục đích thực hiện hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của nhà
quản lí là hết sức quan trọng đối với thành công hay thất bại của doanh nghiệp
đồng thời cũng là chỉ tiêu đánh giá NLCT của doanh nghiệp. Philip Kotler đã chỉ
ra rằng: “ Quản trị là đương đầu với tính phức hợp- một quyết định quản trị tốt
phải được một mức quyết định và khả năng định hướng đúng vào các vấn đề chất
lượng và tính sinh lợi của sản phẩm. Nhà quản trị có các chức năng chính là hoạch
định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. Vì vậy để đánh giá năng lực nhà quản trị cần
so sánh, đánh giá hiệu quả những chức năng trên so với đối thủ cạnh tranh. Năng
lực lãnh đạo là một chỉ tiêu rất khó đánh giá vì nó bị chi phối bởi các yếu tố khách
quan mà quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại. Vì vậy khóa luận chỉ
xin phân tích dựa trên hai nhân tố là hiệu quả của bộ máy lãnh đạo và các công
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
nghệ quản lý đang được áp dụng trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lí với cách điều hành sáng
suốt thì những quyết định đưa xuống các bộ phận chức năng sẽ không bị chồng
chéo, các bộ phận phụ trách các công việc chuyên môn từ đó góp phần thúc đẩy
các công việc của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ 4: Chất lượng nguồn nhân lực
Con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động kinh doanh của bất
kì một doanh nghiệp nào. Trong doanh nghiệp thương mại con người không thể
thiếu khi đánh giá NLCT của doanh nghiệp đó. Đánh giá nguồn nhân lực của
doanh nghiệp thường qua các tiêu chí: Trình độ lực lượng lao động, số lượng lao
động, năng suất công việc, khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ nhân sự.
Khóa luận xin tập trung phân tích hai chỉ tiêu chính đó là trình độ lực lượng lao
động và số lượng lao động của công ty. Số lượng và chất lượng lao động đóng một

giá ngang bằng hoặc thấp hơn, hoặc định giá phân biệt so với sản phẩm của đối
thủ cạnh tranh trên thị trường. Một mức giá bán hợp lí là giá bán mà người tiêu
dùng chấp nhận, tức là giá bán tương xứng với độ thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng , đồng thời phải mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và góp phần tạo nên
NLCT cho doanh nghiệp.
Thứ hai: Chính sách sản phẩm
Dựa trên các thuộc tính, của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu
trong những điều kiện xác định phù hợp với công dụng sản phẩm như chất lượng,
mẫu mã, bao bì sản phẩm,… trong đó đặc biệt chú ý tới chất lượng sản phẩm là
yếu tố cốt lõi, là linh hồn của sản phẩm là thước đo biểu thị giá trị sử dụng của sản
phẩm và là vũ khí cạnh tranh lợi hại trên thị trường. Công ty cổ phần dược phẩm
Việt Nam đã rất chú trọng vào việc lựa chọn và kinh doanh các sản phẩm có chất
lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngày càng thay đổi theo chiều hướng khắt khe hơn
về việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, nhưng giá cả
phải chăng. Công ty luôn lựa chọn sản phẩm phù hợp với đối tượng khách hàng,
tập khách hàng mục tiêu của mình.
Thứ ba: Chính sách phân phối
Mạng lưới phân phối ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ hàng hóa.
Một mạng lưới phân phối hợp lí giúp hàng hóa được cung ứng đến khách hàng
nhanh nhất và kiểm soát được sức mua trên từng địa bàn, giảm chi phí vận
chuyển, giảm chi phí bán. Dựa vào đặc điểm sản phẩm và những tiêu chuẩn kinh
tế, kiểm soát hay thích nghi mà doanh nghiệp lựa chọn kênh phân phối phù hợp
với mình. Doanh nghiệp có thể thông qua phân phối trực tiếp, gián tiếp hoặc hỗn
hợp. Dù sử dụng phương thức nào cũng phải đảm bảo luôn cung ứng kịp thời,
nhanh chóng, đảm bảo chất lượng cũng như số lượng hàng hóa. Một mạng lưới
phân phối tốt có thể giúp công ty tăng thị phần, đồng thời có thể thực hiện đầy đủ
các nghĩa vụ marketing của mình (cung cấp thông tin đến khách hàng và thông tin
phản hồi từ khách hàng về doanh nghiệp).
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
16

vậy để nâng cao được NLCT của doanh nghiệp nói chung thì công ty cần chú
trọng đặc biệt tới việc tạo dựng năng lực nguồn và NLCT marketing của doanh
nghiệp.Tuy nhiên xét trong phạm vi nghiên cứu đề tài là nâng cao năng lực cạnh
tranh marketing của doanh nghiệp, vì vậy vấn đề đặt ra với công ty cổ phần dược
phẩm Việt Nam là làm thế nào để công ty có thể nâng cao được NLCT marketing
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
của sản phẩm của công ty và đưa sản phẩm của công ty chiếm được vị thế trên thị
trường?
1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu về các đề tài liên quan đến nâng cao
năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh
marketing nói riêng luôn là vấn đề được quan tâm nhiều với các doanh nghiệp vì
thế có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề này:
Micheal E Porter( 1999) “Chiến lược cạnh tranh”- NXB Khoa học kĩ thuật
Micheal E Porter (2008) “Lợi thế cạnh tranh”- NXB trẻ.
Phillip Kotler (1999) “Quản trị marketing”- NXB thống kê.
GS.TS Trần Minh Đạo (2002): “ Giáo trình Marketing căn bản” ( NXB Giáo
Dục).
PGS.TS Phạm Công Đoàn, TS. Nguyễn Cảnh Lịch (2004): “ Kinh tế doanh
nghiệp Thương mại” ( NXB Thống kê).
GS.TS Nguyễn Bách Khoa, TS. Nguyễn Hoàng Long: “ Giáo trình
Marketing thương mại” ( NXB Thống kê 2005).
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty giấy
bãi bằng trong giai đoạn hiện nay”. Chuyên ngành sản xuất và dịch vụ, trường
ĐHTM PGS.TS Phạm Công Đoàn hướng dẫn năm 2006.
Đề tài đã trình bày được lý thuyết cơ bản về cạnh tranh, các trường phái cổ
điển, các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty giấy Bãi Bằng và tác
giả đã đề xuất ra một số giải pháp nâng cao NLCT của công ty như mở rộng quy

Tìm kiếm và thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài có hai
nguồn chính là:
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phiếu điều tra trắc nghiệm và phiếu phỏng
vấn chuyên gia.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua báo cáo tài chính năm, bảng cân đối
kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh và các dữ liệu có liên quan đến các phòng
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
Bước 4: Đề
xuất giải pháp
nâng cao
NLCT
marketing của
công ty cổ
phần dược
phẩm Việt
Bước 3: Phân
tích thực trạng
NLCT và
NLCT
marketing của
Cty Cổ phần
dược phẩm Việt
Nam
Bước 2: Phân
tích tác động
của môi trường
kinh doanh tới
NLCT của
doanh nghiệp
Bước 1: Cơ sở

Công cụ xúc tiến thương mại
-
Thị phần sản phẩm trên thị trường
-
Dịch vụ chăm sóc khách hang
Bước 2: Phân tích các nhân tố của môi trường kinh doanh đến NLCT của
doanh nghiệp
Các nhân tố bao gồm:
-
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
-
Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp.
-
Các nhân tố thuộc môi trường ngành.
Bước 3: Phân tích thực trạng NLCT và NLCT marketing của công ty cổ phần
dược phẩm Việt Nam.
Ở bước này sử dụng Excel để xử lý các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập
được, và dựa trên kết quả phân tích của phần mềm kết hợp với phỏng vấn chuyên
gia tiến hành phân tích thực trạng NLCT của công ty, bao gồm:
-
Thực trạng NLCT nguồn của doanh nghiệp
-
Thực trạng NLCT marketing của doanh nghiệp
Bước 4: Đề xuất giải pháp nâng cao NLCT marketing của công ty cổ phần
dược phẩm Việt Nam trên thị trường thành phố Hà Nội.
Dựa trên thực trạng NLCT marketing sản phẩm sữa bột Physiolac của công
ty trên thị trường Hà Nội, tiến hành đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NLCT
marketing cho sản phẩm của công ty.
1.3.2. Mô hình nghiên cứu hệ tham số xác định năng lực cạnh tranh marketing
của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam.

0.1
0.1
0.1
0.05
0.05
0.1
0.1
0.05
3
2.5
3
2.5
1.5
2
2.5
2
1.5
2
1.5
0.6
0.125
0.3
0.25
0.15
0.2
0.125
0.1
0.15
0.2
0.075

Việt Nam đã thực hiện những chính sách hỗ giá cho người tiêu dùng sản phẩm của
công ty, công ty không tăng giá sản phẩm mà tìm cách cắt giảm những chi phí
không hợp lí để giảm giá thành sản phẩm và mang đến cho người tiêu dùng sản
phẩm chất lượng tốt với mức giá hợp lí.
-
Nguồn nhân lực marketing: đây là nhân tố hết sức quan trọng trong việc tạo nên
NLCT marketing của doanh nghiệp, đối với bất cứ doanh nghiệp nào thì con
người luôn là nhân tố then chốt tạo nên sự thành công hoặc thất bại cho doanh
nghiệp, việc xây dựng được chính sách marketing hợp lí hay không, hiệu quả hay
không chính nhờ vào đội ngũ này. Đối với công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam
thì nhân sự marketing còn nhiều yếu kém, công ty cần có những chính sách phù
hợp để đào tạo được đội ngũ nhân sự marketing chuyên nghiệp, hiệu quả hơn nữa.
-
Mạng lưới phân phối sản phẩm: Công ty đã đang tiến hành mở rộng độ phủ của
sản phẩm trên thị trường Hà Nội và thị trường các tỉnh, đặc biệt chú trọng thị
trường Hà Nội, là nơi tập trung đông dân cư và có nhu cầu về sữa cho trẻ rất cao.
Công ty đưa ra các chương trình hỗ trợ cho khách hàng để khách hàng tin tưởng
vào sản phẩm của công ty.
-
Công cụ xúc tiến thương mại: công ty sử dụng chủ yếu là khuyến mại, hội trợ,
quảng cáo trên các website, thông qua công cụ này nó góp phần làm cho các khách
hàng biết đến sản phẩm của công ty nhiều hơn, tin dùng vào sản phẩm của công ty
nhiều hơn và từ đó góp phần nâng cao NLCT marketing của công ty. Tuy nhiên,
trên thực tế việc sử dụng các công cụ xúc tiến của công ty cổ phần dược phẩm
Việt Nam được thực hiện chưa hiệu quả, nó còn nhiều mặt hạn chế đòi hỏi công ty
cần có những hướng giải quyết phù hợp thì mới có thể nâng cao NLCT marketing
của doanh nghiệp trên thị trường
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường: Thể hiện tổng số sản phẩm của doanh nghiệp
bán ra/ tổng số sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Sản phẩm của công ty đang ngày một
được khách hàng tin tưởng lựa chọn vì thế thị phần của sản phẩm cũng đang ngày một

2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam
Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam, được thành lập vào ngày 16/01/2007,
có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Pharmaceutical Joint Stock Company, viết tắt là
VNA-PHARM., JSC - thuộc hệ thống của Tổng Công ty Đầu tư Dược phẩm Việt
Nam. Trụ sở giao dịch của công ty đặt tại 223A, Khương Trung mới, Thanh Xuân,
Hà Nội.
Tháng 8/2008 VNA-PHARM., JSC chính thức trở thành nhà phân phối độc
quyền sản phẩm Physiolac của Gilbert Laboratoies tại Việt Nam. Gilbert
Laboratoies - Groupe Batteur là tập đoàn sản xuất dược phẩm, thực phẩm dinh
dưỡng hàng đầu tại Cộng Hòa Pháp với bề dầy lịch sử và kinh nghiệm phát triển sản
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
Tổng Giám Đốc
GĐ Kinh Doanh
GĐ Kỹ Thuật
Phòng Kinh Doanh Phòng
CSKH
Bộ phận giao hàng
P.quản lý chất lượng
P. Tổ Chức Hành ChínhP. Tài Chính Kế Toán
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
phẩm hơn 100 năm (từ năm 1904). Sự phối hợp thành công này đã chính thức đánh
dấu công cuộc chinh phục người tiêu dùng của sữa Physiolac tại Việt Nam.
Tháng 10/2010 là Mốc son đánh dấu sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của
VNA-PHARM., JSC khi Chi nhánh phía Nam tại TP. Hồ Chí Minh của Công ty đã
chính thức khai trương. Đây chính là những cánh tay vươn dài của Công ty VNA –
PHARM., JSC nhằm chinh phục niềm tin của người dân Việt Nam trên khắp dọc
dải đất hình chữ S. Tiếp sức cho sự phát triển ngoạn mục này không ai khác hơn là
đội ngũ hơn 200 nhân viên của công ty. Họ đã lao động hết mình vì một niềm tự
hào và một niềm tin vào tương lai tươi sáng.

lượng người ốm, người bệnh trước và sau phẫu thuật, sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao
nhất về sữa (CODEX STAND),do tổ chức nông lâm quốc tế chứng nhận.
- Nhập khẩu và phân phối sữa tươi nguyên chất giàu dinh dưỡng Neuberger, sữa
đậu nành, sữa gạo lức giàu dinh dưỡng do tập đoàn sữa OMIRA của Đức sản xuất.
-Nhập khẩu và phân phối dầu Oliu nguyên chất do Công ty MUELOLIVA ở
miền Nam Tây Ban Nha sản xuất, đây cũng là sản phẩm có uy tín, chất lượng tốt,
đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng Việt.
- Nhập khẩu và phân phối bột ăn dặm NiLoLac giành cho trẻ từ 4 tháng tuổi,
do công ty Belourthe – nhà sản xuất hàng đầu trong lĩnh vực chế biến ngũ cốc của
Vương quốc Bỉ sản xuất.
2.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng NLCT marketing của công ty cổ phần
dược phẩm Việt Nam.
2.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
2.2.1.1. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
• Sử dụng bảng hỏi
Trong quá trình thực tập và viết khóa luận, phương pháp nghiên cứu chính đó
là phương pháp điều tra trực tiếp tại công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam.
SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2
25
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa
Hình thức điều tra được tiến hành dưới hình thức phát phiếu thăm dò. Phiếu
thăm dò các câu hỏi được xây dựng dựa vào tính chất công việc của công ty và tình
hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam những năm
gần đây. Với những câu hỏi có trả lời sẵn và những câu hỏi mở được đặt ra nhằm
thu thập ý kiến cán bộ công nhân viên của công ty về tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh, về sản phẩm, về đối thủ cạnh tranh, về các nhân tố tạo lập NLCT
nguồn, và năng lực cạnh tranh marketing của công ty. Cụ thể số phiếu thăm dò được
phát ra là 10phiếu phỏng vấn trắc nghiệm, số phiếu thu về là 10. Các phiếu điều tra
trắc nghiệm được thiết kế như sau:
- Thực trạng kinh doanh chung của công ty: Câu hỏi được thiết kế liên quan

SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2

Trích đoạn Những hạn chế còn tồn tại trong việc nâng cao NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam. Những nguyên nhân của các hạn chế còn tồn tại trong quá trình nâng cao NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam. Dự báo tình hình trong thời gian tớ Các giải pháp đề xuất để nâng cao NLCT marketing của công ty. PHIẾU ĐIỀU TRA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status