Những biện pháp tăng cường quản lý ký túc xá tại trung tâm nội trú sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA S ư PHẠM
HOÀNG TRỌNG NGHĨA
NHŨNG BIỆN PHÁP TẢNG CƯỜNG QUẢN LÝ
KÝ TÚC XÁ TẠI TRUNG TÂM NỘI TRÚ SINH VIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VÃN THẠC sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO Dực
MÃ số:60 14 05
NGUỜI HUỚNGDẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN QUỐC CHÍ
ĐẠI HOC QUỐC G i/' ■
TRUNG TÀM THÒNG ĩiiv ■■
\l- LjbH ît
MLU- — — „ .

^
HÀ NỘI - 2005
MỤC LỰC Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Khách thể và Đối tượns nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Giả thuyết khoa học 3
7. Phương pháp nghiên cứu * 4
8. Nội dung nghiên cứu 4
Chương 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN cứ u 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1. Tổ chức 5

3.2. Kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp đề 71
xuất.
KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 75
1. Kết luận 75
2. Khuyến nghị 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1.BQL
2. BĐD
3. CBQL
4. CB
5.CNV
6.C LB
7.CC
8. ĐHQGHN
9. ĐH
10. HSSV
11.K TX
12. QLNN
13. QLGD
14. QLSV
15. SVNT
16. SHC
17. TTNTSV
18. TC
19. THPT
20. VSMT
21. VHTT
Ban quản lý
Ban đại diện

lập 2 Đại học Quốc gia tại 2 thành phố lớn: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh. Ngày 20 tháng 12 năm 1993, Đại học Quốc gia Hà Nội ( ĐHQGHN)
được thành lập theo Nghị định số 97/CP của Chính phủ, trên cơ sở hợp nhất
3 trường đại học: Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư
phạm Ngoại ngữ và được tổ chức lại theo Nghị định số 07/2001/NĐ - CP,
ngày 01 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ và quyết định số 14/2001/QĐ -
TTg, ngày 12 tháng 2 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ, với nhiệm vụ trở
thành một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu, ứng dụng,
chuyển giao khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao,
đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Mặc dù gặp không ít khó khăn trên nhiều mặt, lại phải trảỉ qua nhiều
biến động, song với tinh thần trách nhiệm cao trước yêu cầu phát triển của
đất nước, Đại học Quốc gia Hà Nội đã vượt qua nhiều thách thức và đã đạt
được một số thành tựu quan trọng. Cơ sở vật chất kỹ thuật các trường được
nâng cấp, cải thiện, bước đầu tạo mồi trường tương đối thuận lợi cho sinh
viên học tập và nghiên cứu khoa học. Trình độ» năng lực tiếp cận tri thức
1
của học sinh, sinh viên ngày càng được nâng cao. Số học sinh đạt giải quốc
gia, quốc tế ngày càng tăng.
Ngay từ khi mới thành lập, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho ra đời
Trung tâm Nội trú sinh viên, trên cơ sở sát nhập các Ký túc xá (KTX) của
các trường thành viên. Trung tâm nội trú sinh viên (TTNTSV) là một mô
hình tổ chức mới trong công tác quản lý và phục vụ học sinh, sinh viên của
ĐHQGHN. Trong những năm qua TTNTSV đã có những đóng góp đáng kể
cho sự phát triển chung của ĐHQGHN. Điều kiện ăn ở trong các KTX ngày
một tốt hơn, hỗ trợ có hiệu quả việc học tập rèn luyện của Học sinh, Sinh
viên (HSSV). Những kết quả mà TTNTSV đạt được như công tác quy
hoạch, xây dựng và cải tạo cơ sở vật chất , tinh thần chủ động sáng tạo
trong việc đổi mới công tác quản lỷ và nâng cao chất lượng phục vụ góp

Nội trú Sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội.
3.3. Đề xuất những biện pháp tăng cường quản lý KTX tại Trung tâm
Nội trú Sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Khách thể và Đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thê nghiên cứu:
Hoạt động của các Ký túc xá thuộc Trung tâm Nội trú Sinh viên - Đại
học Quốc gia Hà Nội.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Những biện pháp quản lý Kỷ túc xá tại Trung tâm Nội trú Sinh viên -
Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý Ký túc xá Mễ Trì từ năm 2000 đến nay.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu có những biện pháp quản lý Ký túc xá phù hợp thì hiệu quả hoạt
độna của các Ký túc xá được nâng cao, góp phần phục vụ nhiệm vụ đào tạo
của Đại học Quốc gia Hà Nội.
3
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm phương pháp phân tích, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu lý
luận liên quan đến vấn đề quản lý ký túc xá. Làm cơ sở lý luận cho khảo sát
thực trạng và đề xuất những biện pháp tăng cường quản lý Ký túc xá tại
Trung tâm Nội trú Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên các trường,
khoa, sinh viên nội trú.
- Tổng kết công tác quản lý Kỷ túc xá tại Trung tâm Nội trú Sinh
viên trong những năm qua
- Quan sát: các hoạt động của sinh viên trong các Ký túc xá tại Trung
tâm Nội trú Sinh viên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Phân công lao động: Bằng cách phân chia hệ thống các nhiệm vụ
phức tạp thành các công việc cụ thể. Phân công lao động tạo điều kiện cho
mỗi thành viên chuyên sâu hơn vào một công việc cụ thể.
- Hệ thống thức bậc quyền lực: Quyền lực là sức mạnh ảnh hưởng và
ràng buộc có tính chất cưỡng chế buộc cấp dưới phải chấp hành, được pháp
luật trao cho trong quá trình lãnh đạo, nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Nếu không có quyền lực thì người lãnh đạo không có cách gì tiến hành hoạt
động lãnh đạo như tổ chức, chỉ huy, ra quyết định, điều hoà, phối hợp công
5
việc Hệ thốns thứ bậc của quyền lực được phân chia theo hệ thống dọc
của tổ chức. Trong mỗi hệ thống, cấp trên có quyền lực chỉ huy, khống chế,
giám sát và đôn đốc cấp dưới. Đồng thời không can thiệp vào những việc
thuộc phạm vi chức quyền của cấp dưới. Tuy vậy, cấp bậc có khác nhau,
quyền lực khác nhau những người lãnh đạo các cấp đều phải hiệp đồng,
phối hợp công việc với nhau mới thực hiện được mục tiêu chung của hệ
thống.
ỉ .1.1.3. Cơ cấu tổ chức:
Là một hệ thống các mối quan hệ hoạt động chính thức bao gồm
nhiều công việc riêng rẽ, cũng như các cồng việc tập thể. Cơ cấu tổ chức
giúp cho mọi người làm việc với nhau một cách có hiệu quả bởi vì:
- Sự phân bổ nguồn lực và các nguồn lực khác được chi tiết cho từng
công việc cụ thể.
- Xác định rõ chức trách và cách thức thể hiện vai trò của mỗi thành
viên theo quy chế của bản mô tả công việc, sơ đồ tổ chức và hệ thống phân
cấp quyền hạn trong tổ chức.
- Làm cho nhân viên hiểu rõ những kỳ vọng của tổ chức đối với họ
thồng qua các quy tắc, quy trình làm việc và những tiêu chuẩn đã định.
- Xác định quy chế thu thập, xử lý thông tin để ra quyết định và giải
quyết các vấn đề của tổ chức.
- Cơ cấu của một tổ chức gồm 4 yếu tố cơ bản:

phối hợp hoạt động của các thành viên, các dự án và công việc trong tổ
chức
- Phối hợp là quá trình liên kết tất cả các bộ phận để thành một tổng
thể để hoàn thành mục tiêu chung.
- Một số nguyên tắc trong phối hợp trong tổ chức
7
+ Nguyên tác thống nhất chỉ huy: khẳng định rằng mỗi người cấp
dưới chỉ chịu sự ra lệnh của một người cấp trên. Phương pháp phân chia bộ
phận theo ma trận đã mang đến sự linh hoạt trong điều phối.
+ Nguyên tắc định hướng: sự chỉ huy phải nối liền mỗi cá nhân trong
một tổ chức với một ai đó ở cấp cao hơn và cuối cùng đi tới cấp cao nhất
trong lược đồ tổ chức. Các nhiệm vụ phải được phân cấp rõ ràng, không có
sự trùng lặp hay chia cắt việc bổ nhiệm chỉ định.
+ Nguyên tắc khẩu độ quản lý: số người chịu sự quản lý trực tiếp của
một người quản lý nào đó phải được giới hạn, vì một người quản lý khó bao
quát, kiểm soát giám sát một số lượng lớn thuộc cấp.
- Có 4 nhân tố quy định số người thích ứng cho mỗi nhiệm vụ:
+ Sự thành thục
+ Sự tương đồng
+ Mức độ ảnh hưởng khi có vấn đề phát sinh
+ Mở rộng quy tắc và chuẩn mực hoạt động cho đơn vị/bộ phận.
- Một số cách điều phối có hiệu quả:
+ Sử dụng những kỹ thuật quản lý cơ bản: áp dụng nghiêm ngặt các
nguyên tắc quản lý truyền thống, đặc biệt là nguyên tắc thống nhất chỉ huy.
+ Tăng cường tiềm nãng phối hợp: bằng cách xây dựng các hệ thống
thông tin truyền thông giao tiếp theo cả chiều dọc, chiểu ngang, đồng thời
tăng cường vai trò liên nhân cách và vai trò thông tin của người quản lý.
+ Giảm thiểu nhu cầu điều phối: cách tiếp cận này là cách tiếp cận
thụ động.
1.1.2. Quản lý

sẽ được đưa vào quá trình chuyển đổi.
+ Quá trình chuyển đổi: Chính là các công nghệ được sử dụng để
biến đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống.
+ Đầu ra của hệ thống: Là kết quả quá trình chuyển đổi.
9
+ Liên hệ ngược: Là một dạng thông tin về trạng thái và kết quả hoạt
động của hệ thống.
Lý thuyết hệ thống đã được nhận thấy có khả nãng áp dụng vào lý
thuyết khoa học quản lý. Lý thuyết khoa học quản lý với tư cách là một hệ
thống cần có những giới hạn nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu, song nó
vẫn là một hệ thống mở đối với môi trường. Do đó khi lập kế hoạch, các
nhà quản lý phải tính tới các biến ngoại sinh như: thị trường, kỹ thuật cồng
nghệ, các lực lượng xã hội, các lụât lệ và những sự điều chỉnh
K. Marx viết: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng có một sự
chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận
động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự
điều khiển mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9, tr 480]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động
quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lỷ đến
khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức’ [14, tri]
Như vậy, xét trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì: “ Quản
lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội cảu hệ thống để đạt được
mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [1, tr2]
1.12.2. Chức năng của quản lý:
Về chức năng quản lý, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau,
do quan điểm của tững tác giả. Tuy nhiên nhìn chung đều thống nhất chung

+ Xây dựng chuẩn
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn
+ Nếu có sự chênh lệch thì điều chỉnh hoạt động.
11
Trong bốn chức năng của quản lý, chúng luôn đan xen vào nhau,
phối hợp và bổ sung cho nhâutọ thành một chu trình quản lý. Mối liên hệ
1.1.2.3. Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội đã
xuất hiện và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Khái niệm quản lý giáo đục
được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Theo tác giả M.I.Konđacốp: “ QLGD là tập hợp những biện pháp như
tổ chức, kế hoạch, kiểm tra nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các
cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống
cả về số lượng và chất lượng”. [20, tr8]
“ Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các
khâu của hộ thống, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường
XHCN việt Nam và tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ
trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiế, tiến lên trạng thái mới về chất”
[16, tr37]
Như vậy, QLGD là một quá trình tổ chức, điều khiển, điều chỉnh các
yếu tố tham gia và có ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục ( tầm vĩ mô hay vi
mô) phát huy mặt tích cực, hạn chế tối đa khó khăn để đạt hiệu quả, nâng
cao chất lượng giáo dục.
12
- Mục tiêu của quản lý giáo dục: Thông qua định nghĩa về quản lý
giáo dục ta có thể thấy mục tiêu của quản lý giáo dục. Đó chính là trạng
thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường
học, họăc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi

mặt khách thể quản lý. Bởi vậy, người quản lý cần phải vận dụng một cách
linh hoạt các phươns pháp trên. Đặc biệt, trong quản lý giáo dục, người
quản lý không chỉ quản lý đơn vị mình bằng các phương pháp cơ bản trên,
bởi vì bản thân mỗi cán bộ, giáo viên, học sinh luôn có sẵn những phẩm
chất, nhân cách của một nhà giáo dục, việc sử dụng các phương pháp quản
lý một cách khéo léo sẽ đem lại lại hiệu quả cao.
- Đặc điểm của quản lý giáo dục: Muốn quản lý quá trình giáo dục
đào tạo đạt được kết quả như mong muốn, người quản lý cần phải đáp ứng
một số yêu cầu sau:
+ Phải nắm vững bản chất của quá trình.
+ Phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ của quá trình
+ Phải nắm vững nội dung của quá trinh.
+ Phải nấm vững các yếu tố của quá trinh.
ỉ .1.2.4. QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường:
- Khái niệm quản lý nhà trường:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “ Quản lý nhà trường là thực
hiện đường lối giáo dục của đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
giáo đục, mục tiêu đào tạo đối với gành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học
sinh”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý nhà trường là quản
lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này
sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [16, tr34J
14
Theo tác giả M.I Kônđacốp đã viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa
hoàn chỉnh chúng ta hiểu quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội - sư
phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế
hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống
nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế,
tổ chức - sư phạm của quá trinh dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”

trình ra quyết định của nhà trường
+ Hình thành các thiết chế hỗ trợ tài chính và các nguồn lực cần thiết
khác để giáo viên thực sự tham gia vào công việc quản lý nhà trường.
+ Hình thành cơ chế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự thậm chí cải
tiến thích hợp nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm của
nhà trường.
+ Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể trong
và ngoài nhà trường tham gia trực tiếp vào các hoạt động quản lý nhà
trường.
+ Xây dựng môi trường sư phạm trong nhà trường, xây dựng nhà
trường thành một hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động quản lý
của nhà trường
+ Hình thành thiết chế đánh giá kết quả của hoạt động sư phạm của
nhà trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và
quá trình quản lý nhà trường
1.1.2.5. Các mô hình quản lý giáo dục
ỉ) Các mồ hĩnh chính quy:
“Mô hình này giả định tổ chức là hệ thống có tốn ti, thứ bậc trong đó
người quản lý sử dụng những biện pháp duy lý để theo đuổi những mục tiêu
đã được thoả thuận. Những người đứng đầu có thẩm quyền được hợp pháp
hoá bằng vị trí chính thức của họ bên trong tổ chức và họ trách nhiệm trước
những thực thể bảo trợ về hoạt động của các thiết chế của họ” [15, tr24]
16
- Đặc trưng của mô hình chính quy:
+ Chúng có khuynh hướng đối xử với các tổ chức như những hệ
thống.
+ Đề cao cấu trúc chính thức của tổ chức bộc lộ rõ ràng mẫu hình
quyền hạn của các mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức.
+ Trong các mô hình chính quy cấu trúc chính thức đều có tôn ti thứ
bậc.

được các thành viên của tổ chức tuân thủ, chấp nhận. Những giá trị này có
thể nảy sinh trong quá trình xã hội hoá diễn ra trong quá trình đoà tạo và
trong những năm đầu của thực tiễn hành nghẻ chuyên môn
+ Quy mô của các nhóm ra quyết định là một yếu tố quan trọng trong
quản lý đồng hiệu. Chúng phải đủ nhỏ để cho mọi thành viên đều có thể
được nghe được nói
+ Mô hình đồng thuận giả định rằng các quyết định được đạt bằng
con đường nhất trí hơn là chia rẽ, xung đột.
- Một số mô hình đồng thuận:
+ Mô hình đồn
2 thuận trong giáo dục đại học
+ Mô hình đồn 2 thuận ở trường Trung học phổ thông
+ Mô hình đồng thuận ở trường tiểu học
3) Mô hình “Chính trị":
“ Các mõ hình chính trị giả định rằng trong tổ chức các chính sách
và quyết định được hình thành thông qua một quá trình thương thảo và thoả
thuận. Các nhóm cùng lợi ích hình thành nênnhững liên minh để theo đuổi
những mục tiêu chính sách cụ thể. Xung đột được xem như là một hiện
tượng tự nhiên, có tính bản chất và quyền lực sẽ nhằm gia tăng cho các
đồng minh có vai trò chủ chốt thống trị hơn là để củng cố, duy trì cho người
lãnh đạo chính thức”. ” [15, tr53]
- Đặc trưng của mô hình “chính trị”:
+ Mô hình chính trị có khuynh hướng tập trung vào hoạt động nhóm
hơn là hoạt động của toàn bộ thiết chế giáo dục.Sự tương tác giữa các nhóm «
18
sẽ là tâm điểm của cách tiếp cận chính trị thay vì chú trọng đến cấp độ toàn
bộ thiết chế như mô hình chính quy và đồng hiộu
+ Mô hình chính quy quan tâm nhiéu đến lợi ích và các nhóm cùng
lợi ích. Các cá nhân được coi là những người có một tập hợp đa dạng các lợi
ích mà họ sẽ theo đuổi bên trong tổ chức.

- Cách tiếp cận chức năng: Cũng như bất kỳ thực thể xã hội nào khác,
các thiết chế giáo dục là một tổ chức. Vì vậy phải được quản lý trên cơ sở
phân chia hoạt động quản lý nói chung thành những hoạt động chuyên biệt
hoá hay các chức năng quản lý.
- Cách tiếp cận khách thể/ đối tượng: Khi xem xét quản lý giáo dục
như một khoa học thì không thể xem chủ thể quản lý phải làm những gì mà
còn xem xét những tác động của chủ thể hướng vào đâu. Khách thể đối
tượng của QLGD:
+ Nhà trường
+ Giáo viên
+ Cơ sở vật chất
+ Học sinh
+ Tài chính
+ Quá trình sư phạm
- Cách tiếp cận hành vi/quan hệ con người trong quản lý giáo dục:
Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình xã hôi hoá con người cá
thể trở thành con người xã hội. Vì vậy trong giáo dục mối quan hệ qua lại
giữa con người và con người là mối quan hệ chủ đạo. Biểu hiện ở những vấn
đề như nhân cách của người hiệu trưởng, cách thức hành xử của người đó
với giáo viên, học sinh, vấn đề văn hoá và bầu không khí tâm lý nhà trường,
vấn đề phong cách quản lý Các khía cạnh của quan hệ con người trong
quản lý giáo dục:
+ Nghề hiệu trưởng
+ Văn hóa tổ chức của nhà trường
20
+ Không khí của nhà trường
+ Phong cách lãnh đạo của người hiệu trưởng
- Cách tiếp cận quan hệ nhà nước-xã hội trong QLGD: Nơi thực hiện
quá trình sư phạm chủ yếu là nhà trường. Vì vậy, QLGD thực chất là quản
lý tế bào cơ bản nhất của hệ thống giáo dục. Một mặt nhà trường được nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status