1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HOÀI THANH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA TỈNH NAM ĐỊNH Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN LÊ
HÀ NỘI – 2011
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Giả thuyết khoa học
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
6. Phạm vi nghiên cứu
5
7. Phương pháp nghiên cứu
5
8. Đóng góp mới của đề tài
6
9. Cấu trúc của luận văn
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
7
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
7
1.2. Một số khái niệm cơ bản
10
1.2.1. Quản lý
10
1.2 .2. Quản lý giáo dục
5
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ CỦA TỈNH NAM ĐỊNH 32
2.1.Đặc điểm tình hình của địa phương
32
2.2. Thực trạng về giáo dục THCS của tỉnh Nam Định
32
2.2.1. Quy mô phát triển
32
2.2.2. Chất lượng giáo dục
33
2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở
tỉnh Nam Định
36
2.3.1. Số lượng và cơ cấu
36
2.3.2. Chất lượng
37
2.3.3 Thực trạng phẩm chất và năng lực
38
2.3.4. Đánh giá chung
48
2.4 . Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các
trường trung học cơ sở của tỉnh Nam Định
86
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
86
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
87
3.1.6. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
87
6
3.2.Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ CBQL trường THCS tỉnh
Nam Định
87
3.2.1.Cụ thể hóa tiêu chuẩn CBQL trường THCS
87
3.2.2.Tổ chức thường xuyên đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý trường
THCS
92
3.2.3.Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ các trường
THCS
94
3.2.4. Tổ chức thường xuyên các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ
quản lý và khuyến khích tự bồi dưỡng cho CBQL các trường THCS
97
3.2.5. Thực hiện tốt quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và
sắp xếp đội ngũ CBQL các trường
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ. BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Số lượng học sinh THCS từ năm 2006– 2007đến nay
33
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh sau 4 năm
33
Bảng 2.3: Kết quả xếp loại học lực học sinh sau 4 năm
34
Bảng 2.4: Kết quả kiểm tra chất lượng đầu năm học 2010 – 2011
34
Bảng 2.5: Thống kê CSVC trường lớp và trang thiết bị dạy học
(2011 – 2012)
36
Bảng 2.6: Số lượng và cơ cấu đội ngũ CBQL trường THCS tỉnh
Nam Định
36
Bảng 2.7: Thực trạng về độ tuổi CBQL các trường THCS tỉnh Nam Định
37
Bảng 2.8: Thực trạng về thâm niên QL của CBQL các trường THCS
tỉnh Nam Định
37
Bảng 2.19: Đánh giá về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả biện pháp 3
62
Bảng 2.20: Đánh giá về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả biện pháp 4
64
Bảng 2.21: Đánh giá về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của
biện pháp 5
67
8
Bảng 2.22: Đánh giá về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của
biện pháp 6
69
Bảng 2.23: Tương quan giữa mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả
về thực trạng các biện pháp
72
Biểu đồ 2.2: So sánh mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của các
biện pháp quản lý phát triển đội ngũ CBQL các trường THCS
tỉnh Nam Định 73
Bảng 2.24: Mức độ ảnh hưởng về chủ thể quản lý
73
Bảng 2.25: Mức độ ảnh hưởng về đối tượng QL
75
Bảng 2.26: Mức độ ảnh hưởng về điều kiện, môi trường QL
76
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS nhằm góp phần tích
cực vào việc đào tạo, phát triển con người phục vụ sự nghiệp CNH – HDH
đất nước, của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, trước xu thế toàn
cầu hóa, với một nền văn minh mới, đang là vấn đề quan tâm của các nhà lãnh
đạo, các nhà giáo dục cũng như mọi thành viên xã hội.
Nước ta đang đối mặt với những thách thức lớn, thách thức lớn nhất
hiện nay là vấn đề chất lượng giáo dục và đào tạo. Nếu xem giáo dục là “quốc
sách hang đầu” thì chúng ta phải hết sức coi trọng nhiệm vụ QL và lãnh đạo
nói chung và QL nhà trường nói riêng. Người được giao phó nhiệm vụ QL
nhà trường chẳng những phải hiểu biết sâu sắc về giáo dục hiện đại mà còn
phải có các kỹ năng trong lao động quản lý, có điều kiện tập trung toàn tâm
toàn ý cho công việc của mình.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta đối với việc xây dựng
và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD là luôn khẳng định vai trò
quyết định của nhà giáo trong việc nâng cao chất lượng và tầm quan trọng của
đội ngũ cán bộ QLGD trong việc điều hành một hệ thống giáo dục đang ngày
càng mở rộng và phát triển. Do đó, đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD đã luôn
nhận được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI nhấn mạnh:
“Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với
nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Nguồn lực
đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt
đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn
liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại. Giáo dục phải làm tốt nhiệm
vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học công
nghệ”.[29]
2
Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Nghị quyết số 08/NQ/ĐH ngày 25/09/2010 về việc xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD; Sở GD&ĐT đã xây dựng
chương trình hành động số về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2010 – 2015 của tỉnh Nam Định.
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XVIII (nhiệm kỳ
2010 – 2015 ) xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đối
với lĩnh vực giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực:
“Xây dựng , nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và
giáo viên cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức; đảm bảo
đủ số lượng và chất lượng ở mỗi cấp học, ngành học. Khắc phục cho được
tình trạng tiêu cực trong việc dạy thêm, học thêm”
“Xây dựng chiến lược, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn
nhân lực, tạo môi trường phát huy tối đa năng lực nội sinh; đồng thời chú
trọng thu hút nhân tài từ nơi khác đến, đặc biệt là các nhà khoa học đầu
ngành, kỹ thuật viên lành nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa tỉnh nhà” [36, tr. 55 – 56]
Trong những năm qua, Ngành Giáo dục và Đào tạo Nam Định đã nỗ
lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng.Với vai trò, chức năng
nhiệm vụ được quy định, cùng với những đặc điểm của địa bàn, đội ngũ cán
bộ QL ở các trường THCS tỉnh Nam Định đã có những nỗ lực góp phần tạo ra
hiệu quả giáo dục THCS ở địa phương, từng bước nâng cao chất lượng giáo
dục, góp phần hoàn thành phổ cập THCS vào tháng 12/2008.
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả giáo dục THCS ở các huyện và
thành phố nhìn chung còn thấp.Vấn đề này do nhiều nguyên nhân còn bất
cập. Một trong những nguyên nhân còn bất cập đó là một bộ phận không nhỏ
đội ngũ CBQL của tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Vì vậy,
việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp QL phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý các trường THCS trên địa bàn tỉnh là vấn đề có tính cấp thiết.
4
5
trên, đồng thời nâng cao chất lượng công tác quản lý phát triển đội ngũ CBQL
đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục THCS của Tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về QL phát triển đội ngũ
CBQL trường THCS.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ CBQL các trường THCS của tỉnh
và thực trạng quản lý phát triển đội ngũ CBQL trường THCS của sở GDĐT
tỉnh Nam Định, nguyên nhân của thực trạng trên.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ CBQL các
trường THCS của sở GDĐT tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý phát triển đội
ngũ CBQL các trường THCS của sở GDĐT tỉnh Nam Định.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng phối hợp 03 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận, làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài chúng tôi
đã hệ thống, thu thập và phân tích các tài liệu khoa học, các văn bản Chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo… về quản lý,
phát triển đội ngũ CBQL và phát triển đội ngũ CBQL trường THCS.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra viết
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để tìm hiểu, khảo sát nhằm thu thập
những thông tin cần thiết về công tác QL ở các trường THCS tỉnh Nam Định.
Từ đó phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp tiếp xúc với CBQL các cấp, GV
thông qua một số câu hỏi để tìm hiểu về trình độ, năng lực của CBQL các
trường THCS tỉnh Nam Định (có ghi biên bản)
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường trung học cơ sở của sở giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định.
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo luận thuyết “Đức trị” lấy chữ “Tín” làm đầu của Khổng Tử - Nho
Giáo, người lãnh đạo đất nước phải coi trọng 3 vấn đề: “Thứ - Phú – Giáo”.
Nghĩa là phải làm cho dân đông lên. Dân đã đông phải làm cho dân giàu, khi
dân đã giàu phải dạy cho có giáo dục. Điều này tương đồng với tinh thần Phật
dạy trong kinh Dược Sư là: “Khi người ta đói thì cho cơm ăn áo mặc. Đã no
đủ thì mới cho giáo pháp”. Đó chính là kích thích để phát triển, người QL nhà
nước phải có các chính sách văn hóa, y tế, giáo dục, dân sinh… để quần
chúng nhân dân trăm họ thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh.
Chủ nghĩa duy vật về lịch sử giải thích rằng lịch sử phát triển của xã
hội trên toàn thế giới là lịch sử thay thế kế tiếp các hình thái kinh tế xã hội mà
thực chất là các phương thức sản xuất. C.Mác lập luận rằng: “Lịch sử xã hội
loài người trải qua 05 phương thức sản xuất tương ứng với 05 hình thái kinh
tế và 05 thời đại lịch sử: Cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”. [11, tr. 26]
Quan điểm của C.Mác đã mở ra bước ngoặt có tính cách mạng trong
nhận thức của con người về phân chia các giai đoạn lịch sử. Hơn nữa, C.Mác
còn chỉ ra rằng sự biến đổi của xã hội và sự phát triển lịch sử bắt nguồn từ hệ
thống sản xuất, cơ cấu kinh tế của xã hội.
Mặt khác: QL là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao
động xã hội. C.Mác đã viết trong bộ Tư bản: “Bất cứ lao động xã hội hay
cộng đồng trực tiếp nào, được thể hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến
một chừng mực nhất định đến sự QL, QL xác lập sự tương hợp giữa các công
nhận thức được”. Vậy con người có khả năng vận dụng các quy luật đã nhận
thức được để cải tạo xã hội cho phù hợp với lợi ích của mình.
9
Một xã hội hiện đại là xã hội áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật,
công nghệ, trí tuệ để kinh tế phát triển, thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước.
Tăng trưởng kinh tế cùng với những biến đổi xã hội đã làm cho mức sống con
người được nâng cao. Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát
triển và truyền bá văn minh của nhân loại. Điều này càng thể hiện rõ rang
trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay, tiềm năng
trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển. Giáo dục được coi
là nhân tố tích cực tạo nên nguồn nhân lực, quyết định sự thành bại của mỗi
quốc gia và sự thành đạt cho mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình. Vì thế
phát triển giáo dục đã trở thành “quốc sách hàng đầu” của nhiều quốc gia.
Phát triển giáo dục là phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực.
Sự nghiệp CNH – HĐH đặt ra mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta về
cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp. Nhân tố quyết định sự thắng lợi
của công cuộc CNH – HĐH là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển
về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy
muốn đảm bảo tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố
an ninh quốc phòng, trước hết phải chăm lo việc phát triển nguồn lực con
người, chuẩn bị lớp người lao động có phẩm chất và năng lực phù hợp với
yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều này rất cần được bắt
đầu từ giáo dục phổ thông.
Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục, trong đó chú trọng việc xây dựng và phát triển đội ngũ
CBQL. Điều đó được thể hiện qua Chủ trương chính sách, hệ thống văn bản
pháp luật. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã xây dựng hệ thống văn bản làm
cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và trường THCS
nói riêng.
chính là quá trình QL. Trài qua quá trình phát triển, cùng với sự phát triển của
xã hội, trình độ tổ chức và QL cũng được từng bước nâng lên.
Nói đến hoạt động QL, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của
C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
11
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình,
còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [10]
Hiện nay vẫn còn tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về QL.
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ
H.Kootz đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích theo nhóm. Mục
tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một
nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [6, tr. 33].
Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, người tổ chức quản
lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã
hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,
các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện
cho sự phát triển của đối tượng” [32]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “ Quản lý là một khái niệm ghép
giữa “quản” và “lý” ”. “Quản” có hàm nghĩa rất phong phú: cai quản, thống
trị, giữ gìn, theo dõi…Theo góc độ điều khiển, “quản” có thể hiểu là lái, điều
khiển, chỉ huy, kiểm soát,… Do đó, trong đời sống xã hội ngày càng phát sinh
những khái niệm liên quan đến từ “quản” như: quản giáo, quản thúc, quản
là phương thức tác động của chủ thể QL, điểu hành mọi việc nhằm đảm bảo
cho hệ vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu QL thành kết quả, biến kế
hoạch thành hiện thực.
Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kì QL. Giai
đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa… để
13
thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ sung điều
chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo.
1.2.1.2. Bản chất của hoạt động quản lý
Theo tác giả Bùi Minh Hiền:
- “Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động.
- Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống có hướng đích, có
mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính
bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là xử lý thông tin.l
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và
ngược lại”. [21, tr. 13]
QL là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối
hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ
thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra,
kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó;
điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.
Như vậy: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, khái niệm QLGD được
nhiều tác giả diễn đạt như sau:
Theo tác giả Trần Kiểm:
“Quản lý giáo dục (vĩ mô) được hiểu là những tác động liên tục, có tổ
chức có hướng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính
vượt trội/tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu tiềm năng, cơ hội của
15
hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm
bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động”. [24, tr. 10]
“Quản lý giáo dục (vi mô) được hiểu là những tác động trực tiếp (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, và
các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu
quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. [24, tr. 11]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu
điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Qua các định nghĩa trên có thể thấy QLGD là tập hợp những biện pháp:
tổ chức, phương pháp, kế hoạch hóa… tác động có mục đích, hợp quy luật
của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường
của các cơ quan trong hệ thống giáo dục. QLGD có thể hiểu là sự QL hệ
thống Giáo dục và Đào tạo bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong đó
nhà trường là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục cơ
bản nhất.
Trong QLGD, chủ thể QL chính là bộ máy QL các cấp; đối tượng QL
chinh là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật và các hoạt động thực hiện
định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền
hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm
vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội” [24, tr. 259]
Như vậy: QL trường học nói chung và QL trường THCS nói riêng là tổ
chức chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học của
trò, đồng thời QL những điều kiện CSVC và công việc phục vụ cho dạy và
học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo. Xét về bản chất, QL con
người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của GV và HS, là
17
tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của
việc đào tạo con người.
1.2.4. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học
1.2.4.1. Phát triển
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển” là sự vận động, tiến triển theo
chiều hướng tăng lên. Phát triển là quá trình biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp
đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Theo quan điểm này thì
tất cả sự vật, hiện tượng, con người và xã hội hoặc tự bản than biến đổi hoặc
do bên ngoài làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Đó
chính là sự phát triển. Như vậy “Phát triển” là một khái niệm rất rộng, nói đến
“Phát triển” là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con
người trong xã hội. Sự đi lên đó thể hiện việc tăng lên về số lượng và chất
lượng, thay đối về nội dung và hình thức.
Sự phát triển ở đây theo chúng tôi hiểu là quá trình biến đổi làm cho số
lượng, cơ cấu và chất lượng luôn vận động đi lên trong mối hỗ trợ bổ sung lẫn
nhau tạo nên thế càng bền vững. Xây dựng luông gắn với sự phát triển, phát
triển phải dựa trên cơ sở của thế ổn định.
1.2.4.2. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Phát triển đội ngũ CBQL là một bộ phận của phát triển nguồn lực con
người (Human Resousrce) hay còn gọi là phát triển nguồn nhân lực. Nguồn
con người được trong lành, đảm bảo sự bình đẳng giới, bình đẳng dân tộc…
Trong cuốn “Đầu tư vào tương lai” (Investing the Future) do Chương
trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP – United Nations Development
Programme) xuất bản năm 1990, ông Jacques Hallak (Chuyên gia giáo dục
công tác tại Viện Kế hoạch hóa Quốc tế) đã nêu lên 05 nguồn “phát năng” cho
sự phát triển con người. Đó là:
- Giáo dục và đào tạo
- Sức khỏe và dinh dưỡng
- Môi trường