Biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp Văn hóa nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN HỮU TOÀN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
NHÓM NGÀNH NGHỆ THUẬT CỦA TRƢỜNG
TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2009
18
1.2.3. Bản chất, đặc điểm và nhiệm vụ của quản lý giáo dục
19
1.2.4. Quản lý nhà trường
22
1.2.5. Hoạt động dạy học
25
1.2.6. Quản lý hoạt động dạy học
30
1.3. Hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trƣờng trung cấp
chuyên nghiệp
33
1.4. Đặc trƣng công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ
thuật trong trƣờng trung cấp chuyên nghiệp
34
1.5. Các yêu cầu công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ
thuật trong trƣờng trung cấp chuyên nghiệp
36
Tiểu kết chương I
39
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ
41 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NHÓM NGÀNH NGHỆ THUẬT CỦA
TRƢỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị văn hóa
xã hội, giáo dục của tỉnh Nam Định
41
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân số

2.2.6. Thực trạng về chất lượng học tập của học sinh
60
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ
thuật của trƣờng trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định
63
2.3.1. Về đội ngũ cán bộ quản lý
63
2.3.2. Thực trạng về công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên
65
2.3.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động học của học sinh
69
2.3.4. Các hoạt động quản lý khác phục vụ hoạt động dạy học
72 2.3.5. Đánh giá phân tích nguyên nhân
74
2.4. Định hƣớng phát triển của trƣờng trung cấp Văn hóa Nghệ thuật
Nam Định đến năm 2020
78
Tiểu kết chương 2
81
Chương 3. BIỆN PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC NHÓM NGÀNH NGHỆ THUẬT CỦA TRƢỜNG
TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
82
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
82
3.2. Các biện pháp
85
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là một xu thế phát
triển khách quan. Điều đó đặt ra sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá của
đất nƣớc nói chung, sự nghiệp giáo dục nói riêng trƣớc những thời cơ và
thách thức không nhỏ. Điều 2 Luật Giáo dục nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam năm 2005 đã khẳng định: "Mục tiêu của Giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Trong sự phát triển của đất nƣớc,
giáo dục đóng vai trò quan trọng, do đó trong chiến lƣợc xây dựng và phát
triển đất nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc đã khẳng định: "Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu", "là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội". (Nghị
quyết 4 BCHTU Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII).
Giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng
cách về trình độ phát triển giáo dục trong tƣơng quan so sánh với các nƣớc
trong khu vực và thế giới.

Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “Cùng với khoa
học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đại hội IX đề ra nhiệm vụ "Tiếp tục
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy
học và hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá giáo dục". Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt

dạy học đáp ứng mục tiêu giáo dục đặt ra. Song bên cạnh đó quá trình quản lý
hoạt động dạy học đặc biệt trong các trƣờng Trung cấp chuyên nghiệp, dạy
nghề nói chung, các trƣờng nghệ thuật nói riêng trƣớc biến đổi của kinh tế,
chính trị - xã hội cần phải đƣợc đổi mới, tăng cƣờng các biện pháp cho phù
hợp nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện nay.

Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trƣờng Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định tiền thân là trƣờng Nghiệp vụ Văn hoá Thông tin
Nam Hà, đƣợc thành lập vào năm 1976 theo quyết định số 623/QĐ-TC ngày
21/02/1967 của Chủ tịch UBND tỉnh Nam Hà. Năm 1978 đổi tên trƣờng
thành Nghiệp vụ Văn hoá Thông tin Hà Nam Ninh theo quyết định 60/QĐ-TC
ngày 10/02/1978 của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh. Năm 1984 trƣờng
đƣợc nâng cấp và đổi tên thành trƣờng Trung học Văn hoá Nghệ thuật Hà
Nam Ninh. Quyết định số 1872/QĐ-UBND ngày 22/9/2008 của UBND tỉnh
Nam Định về việc đổi tên trƣờng thành trƣờng Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật
Nam Định. Bắt đầu từ đó đến nay trƣờng có chức năng, nhiệm vụ: Đào tạo,
bồi dƣỡng phát triển nguồn nhân lực cho các nhóm ngành Văn hoá, Nghệ
thuật, Sƣ phạm Nhạc - Hoạ với trình độ trung cấp phục vụ cho sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội trong khu vực và của đất nƣớc.

Hơn 40 mƣơi năm phấn đấu và trƣởng thành, nhà trƣờng luôn quán triệt
quan điểm “Chất lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường” và xác định
uy tín của nhà trƣờng phụ thuộc vào chất lƣợng đào tạo mà chất lƣợng đào tạo
lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lƣợng dạy học của nhà trƣờng trong đó quản lý
nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng có ý nghĩa chiến lƣợc đối
với chất lƣợng đào tạo. Vì vậy, bên cạnh những nhiệm vụ chính trị, công tác
quản lý hoạt động dạy học đƣợc nhà trƣờng hết sức quan tâm và coi đó là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà trƣờng.

quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ thuật tại trường trung cấp
Văn hoá Nghệ thuật Nam Định.
4.3. Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhằm
nâng cao chất lượng dạy học nhóm ngành nghệ thuật của trường trung cấp
Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học.
Hiện nay các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhóm ngành nghệ
thuật ở trƣờng trung cấp Văn hoá Nghệ thuật tuy đã đạt đƣợc những thành tựu
nhất định song còn có hạn chế do nguyên nhân chủ quan và khách quan, chƣa
đáp ứng đƣợc so với yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo. Nếu đề xuất và áp dụng một cách đồng bộ, hợp lý, sáng tạo các biện pháp
mang tính khả thi, đồng thời phù hợp với đặc điểm của nhà trƣờng và nhu cầu
thực tế tại địa phƣơng thì sẽ nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và biện pháp quản lý hoạt động
dạy học của trƣờng trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định trong giai đoạn 2006
– 2009 (tính đến tháng 6 năm 2009) từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động
dạy học nhóm ngành nghệ thuật có hiệu quả nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận.
+ Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát những lý luận
có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua sách, báo và các tài liệu
có liên quan đặc biệt là tài liệu giảng dạy chuyên ngành nghệ thuật.

+ Tham khảo Luật giáo dục, các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Phƣơng pháp khảo sát, điều tra. Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn với

lƣợng đào tạo của trƣờng trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định. Nếu các
biện pháp đƣợc đánh giá khả thi thì sẽ có tác dụng quan trọng trong công tác
quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật Nam Định.
9. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo nội
dung luận văn đƣợc trình bày gồm 03 chƣơng.
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2. Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
nhóm ngành nghệ thuật của trƣờng trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định.
Chương 3. Biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động dạy học của trƣờng
trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Quản lý là một trong những loại hình quan trọng nhất trong các hoạt
động của con ngƣời. Quản lý đúng tức là con ngƣời đã nhận thức đƣợc quy
luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt đƣợc những thành công to lớn. Nghiên
cứu quản lý sẽ giúp cho con ngƣời có đƣợc những kiến thức cơ bản nhất,
chung nhất đối với các hoạt động quản lý.
Khái niệm quản lý đã đƣợc phát hiện mấy ngàn năm trƣớc Công nguyên.
Lúc đó quản lý mang tính cách là một thứ triết học. Nói cách khác quản lý
chƣa đƣợc tách ra để trở thành một khoa học độc lập. Cùng với sự phát triển
của lịch sử loài ngƣời đến nay quản lý đã trở thành môn khoa học. Xã hội
càng phát triển thì khoa học quản lý càng phát triển. Cho tới nay, có rất nhiều
tƣ tƣởng, học thuyết quản lý khác nhau và các công trình nghiên cứu về khoa
học quản lý nói chung và QLGD nói riêng.
Hoạt động quản lý đã mang lại những lợi ích to lớn trong mọi lĩnh vực
của cuộc sống làm cho xã hội ngày càng phát triển. Từ xa xƣa đã có nhiều nhà

học và quản lý hoạt động dạy học đã đƣợc nhiều nhà giáo dục thực sự quan
tâm. Nổi bật nhất là CôMenxki J.A (1592 - 1670), ông là ông tổ của nền giáo
dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo “Dưới ánh mặt trời không có nghề
nghiệp nào cao quý hơn”. Ông nêu ra hàng loạt nguyên tắc dạy học chủ yếu
dựa vào cơ sở triết học mới nhất về nhận thức luận, ông đã đặt cơ sở lý luận
cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và cho đến ngày nay hệ thống
lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo,
giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại.
Vào cuối thế kỷ XVII có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu nhƣ
RoBer Owen (1771 – 1858), Frederics Wiliam Taylor (1856 – 1915) ngƣời
đƣợc coi là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt công trình với
nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý . Nhƣ tính khoa học và nghệ thuật
quản lý , những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển làm thế nào để việc ra quyết định quản lý đạt kết quả cao … Trong lĩnh vực giáo dục, khoa
học giáo dục đã thực sự biến đổi về lƣợng và chất.
Các tác phẩm kinh điển của Mác - Lênin đã định hƣớng cho hoạt động giáo dục
nhƣ các quy luật về “Sự hình thành cá nhân con người” về “Tính quy định về kinh tế -
xã hội đối với giáo dục”… Các quy luật đó đã đặt ra yêu cầu đối với quản lý giáo dục
và tính ƣu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phƣơng tiện và điều kiện cần thiết cho
giáo dục. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục
đã có những thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và quản lý dạy học.
Ở Việt Nam, tƣ tƣởng quản lý cũng đã xuất hiện từ lâu và thay đổi tuỳ
từng thời kỳ. Nhƣ thời Tiền Lê tƣ tƣởng quản lý hƣớng vào pháp trị; thời Nhà
Lý hƣớng vào đức trị; thời Hậu Lê hƣớng vào đức trị và pháp trị. Kế thừa
truyền thống của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc các tƣ tƣởng ở trong nƣớc và
quốc tế, nhiều tƣ tƣởng về quản lý và QLGD mới đã xuất hiện. Tiêu biểu đó là:
+ Thầy giáo Chu Văn An (1292 – 1370) – nhà Nho, nhà hiền triết, nhà

lý, nghệ thuật quản lý nói chung và QLGD, QLNT nói riêng.
Trong khi đó, hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm của quá trình
giáo dục, nó quyết định sự thành công của hoạt động giáo dục. Trong nhà
trƣờng, việc quản lý giảng dạy của giáo viên và quản lý học tập của học sinh
luôn đƣợc ƣu tiên hàng đầu. Mỗi môn học có những nét đặc thù riêng của môn
học đó, ngƣời quản lý cần có những hiểu biết rõ về môn học đó mới có các
biện pháp quản lý dạy học môn đó tốt. Việc quản lý hoạt động giảng dạy và
học tập ở một số trƣờng chuyên nghiệp ở địa phƣơng nhƣ thành phố Nam Định
còn một số hạn chế, chƣa theo kịp các trƣờng chuyên nghiệp ở thành phố lớn
do vậy kết quả học tập của học sinh chƣa cao. Để nâng cao kết quả học tập cần
nghiên cứu tìm kiếm những biện pháp tăng cƣờng quản lý tốt hoạt động giảng
dạy để nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề các trƣờng chuyên nghiệp ở địa
phƣơng để theo kịp các trƣờng chuyên nghiệp các thành phố lớn đáp ứng nhu
cầu hội trong giai đoạn hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nƣớc hiện nay. 1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1. Quản lý.
1.2.1.1. Khái niệm quản lý.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Lao động
muốn đạt hiệu quả, năng xuất cao hơn thì đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp,
điều hành, kiểm tra, điều chỉnh … Ngƣời Trung Quốc có câu “Tam nhân đồng
hành, tất hữu ngã sư”. Nghĩa là có ba ngƣời cùng đi thì trong đó có một ngƣời
là thầy của mình. Trong trƣờng hợp trên nghĩa là tồn tại sự quản lý.
Khái niệm quản lý đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội, hoạt động quản lý đƣợc hình thành từ sự phân công hợp tác lao
động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng với nhu cầu hƣớng tới đạt hiệu
quả tốt hơn. Do vậy xuất hiện ngƣời quản lý và sự quản lý.
Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình
“quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa

trường [43, tr. 43].
+ Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động
nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước [32, tr. 19;20].
+ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những
mục tiêu dự kiến [42, tr. 24].
+ Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý
một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định [41, tr. 24].
Nhƣ vậy có thể thấy:
Một là, quản lý là thiết kế và duy trì một môi trƣờng mà trong đó các cá nhân
làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã
định; Hai là, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ
thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức quản lý) trên khách thể quản lý (đối tƣợng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống
các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp các biện pháp cụ
thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của các đối tƣợng.
Nhƣ vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công tác
quản lý. Hiệu quả đó phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ chủ thể quản lý, khách thể
quản lý và mục đích công tác quản lý nhờ công cụ và phƣơng pháp quản lý.
Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý có thể do chủ thể quản lý
áp đặt, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do sự cam kết, thoả thuận giữa
chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tác động quản lý
tƣơng hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Từ những khái niệm nêu trên, “Quản lý” có thể khái quát nhƣ sau:
Quản lý là sự tác động một cách liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ
thể quản lý tới đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham
gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các

quan nhƣng phải phù hợp với quy luật khách quan.
+ Thiết chế bộ máy để thực hiện thì công cụ tổ chức là rất cần thiết
đối với ngƣời quản lý . Nó giúp xây dựng một cơ cấu, bộ máy thích hợp cho
công việc, cải tiến bộ máy hoạt động có hiệu quả hơn, giúp giảm thiểu những
việc làm không hiệu quả.
Các nguồn lực bao gồm nhân lực, tài lực, vật lực.
+ Nhân lực con ngƣời là lực lƣợng quan trọng nhất. Bởi vì Quản lý
bao giờ cũng là quản lý con ngƣời.
+ Vật lực bao gồm tất cả vật tƣ, trang thiết bị tài sản cố định phục vụ
cho việc thực hiện một nhiệm vụ công tác.
+ Tài lực là vốn đầu tƣ tài chính bao gồm ngân sách nhà nƣớc, tƣ
nhân và có thể là nguồn tài trợ từ nƣớc ngoài. Từ những dấu hiệu chúng ta có thể khái quát cấu trúc hệ thống quản lý
theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống quản lý.

1.2.1.3. Chức năng quản lý.
Theo PGS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí quản lý
là hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (planning); tổ chức
(organizing); lãnh đạo / chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (controlling).
- Chức năng lập kế hoạch: Là nền tảng của quản lý . Bởi vì đó là việc xây
dựng các định hƣớng và đƣa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất

nhân và tập thể, là xây dựng mối quan hệ trong tổ chức, là khích lệ, động
viên, tạo dựng bầu không khí tâm lý tích cực trong đơn vị. Điều hành là hoạt
động thƣờng xuyên mang tính kế thừa và phát triển.
- Chức năng kiểm tra: Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là quản
lý. Kiểm tra là chức năng quan trọng của quản lý, kiểm tra chính là thiết lập
mối quan hệ ngƣợc trong quản lý. Kiểm tra bao gồm các yếu tố cơ bản: Xem
xét, thu thập thông tin ngƣợc, đo lƣờng và điều chỉnh các hoạt động của các
bộ phận trong tổ chức. Kiểm tra là đánh giá kết quả của việc thực hiện các
mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ƣu điểm, hạn chế để điều chỉnh
việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo. Để công tác kiểm tra đánh giá chính
xác, sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi cần xây dựng các tiêu chí
(chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh giá, sử dụng các phƣơng pháp phù hợp,
thu thập thông tin đầy đủ, sau đó phân tích thông tin để đánh giá.
Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên có liên quan mật
thiết với nhau, phối hợp, bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa các chu trình
theo hƣớng phát triển. Trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể
thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết
định trong quản lý. Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý nhƣ sau:
Sơ đồ 1-2: Quan hệ của các chức năng quản lý.

Lập kế
hoạch

Tổ chức
Kiểm tra
đánh giá
Thông
tin
xã hội của các thế hệ loài ngƣời, là quá trình tác động của xã hội và của nhà giáo
dục đến đối tƣợng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
Giáo dục và quản lý giáo dục (QLGD) là tồn tại song hành. Để đạt đƣợc
mục đích của giáo dục, quản lý đƣợc coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực
thi cơ chế, mục đích cũng nhƣ vấn đề giáo dục.
QLGD đã đƣợc nghiên cứu và khái niệm dƣới nhiều góc độ khác nhau,
có thể điểm đến các khái niệm:
+ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán
bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính ) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của
các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng [54, tr 93-94].
+ Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội [19, tr.31].
+ Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến hành mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục
với thế hệ trẻ và với từng học sinh [28, tr 61].
+ Quản lý giáo dục (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo
dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục
tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [42, tr. 35].
+ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu
cầu xã hội hiện nay [27]. + Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào

giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn
phụ thuộc vào thái độ của ngƣời học. Đây chính là điểm khác biệt của lao động sƣ
phạm so với lao động xã hội nói chung. Mặt khác phƣơng tiện lao động của giáo
viên chủ yếu là phƣơng tiện tinh thần bằng lời nói, bằng tấm gƣơng, thái độ, bằng
“điểm tựa”, bằng cảm hoá Thời gian lao động của ngƣời giáo viên cũng khác, nó
không đƣợc tách bạch, rạch ròi với thời gian lao động khác. Với bất kỳ lúc nào,
ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình ngƣời giáo viên có thể vẫn
phải tƣ duy về công việc của mình. Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù nên
QLGD phải chú ý ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong công việc tạo ra sản
phẩm, cũng nhƣ không đƣợc phép tạo ra phế phẩm. QLGD đòi hỏi cao về tính toàn
diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính linh hoạt và tính phát triển.
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. QLGD phải quán triệt quan điểm
quần chúng. Trong QLGD, các hoạt động hành chính nhà nƣớc và quản lý sự
nghiệp, chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời,
tạo thành hoạt động QLGD thống nhất. Nên cần phải phối hợp chặt chẽ và
đồng bộ các lực lƣợng trong nhà trƣờng, gia đình và xã hội. QLGD là hoạt
động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của rất đông các
thành viên xã hội và có ảnh hƣởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội.
- QLGD là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tƣợng của hoạt động quản
lý giáo giáo dục là con ngƣời với các mối quan hệ phức tạp của nó. QLGD phải
là hoạt động mang tính sáng tạo mới phát huy đƣợc sự sáng tạo của con ngƣời.
- QLGD thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ thuật, vì đây là
dạng quản lý phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trƣờng xã hội ở nhiều
phạm vi, mức độ, tầng bậc khác nhau.
1.2.3.3. Nhiệm vụ của quản lý giáo dục.
Hệ thống giáo dục là một hệ thống mở luôn luôn vận động và phát triển theo
quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế - xã hội. QLGD cũng luôn luôn phải đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status